Huyền thoại về cô Sáu linh thiêng

Nói đến người con gái anh hùng Võ Thị Sáu của quê hương Đất Đỏ thì ai ai cũng biết. Khắp nước ta, nhiều thành phố, thị xã có đường Võ Thị Sáu, nhiều nơi có trường học mang tên Võ Thị Sáu. Nhiều người còn thuộc lòng lý lịch chị Sáu: Võ Thị Sáu tên thật là Nguyễn Thị Sáu, sinh năm 1933 tại thị trấn Đất Đỏ, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa.

Năm 1947, khi mới 14 tuổi, chị Sáu trở thành chiến sĩ trinh sát của Đội Công an xung phong Đất Đỏ. Tết Canh Dần (1950), Võ Thị Sáu tình nguyện tìm diệt bọn ác ôn chuyên vào chợ Đất Đỏ quê chị để cướp bóc. Diệt được bọn ác ôn này, nhưng Sáu lại bị bọn ác ôn khác đuổi theo, bắt được.

Tháng 4-1950, Võ Thị Sáu bị giam ở khám Chí Hoà. Bọn Pháp mở phiên toà xử chị “án tử hình” khi chưa đủ tuổi thành niên. Pháp sợ dư luận phản đối, nên chúng đưa Võ Thị Sáu ra Côn Đảo để hành quyết. Bốn giờ sáng ngày 21-1-1952, tàu chở Võ Thị Sáu cùng với 40 tù chính trị và 3 tử tù nữa vượt biển ra Côn Đảo.

Ngày 23-1-1952, người tử tù nhỏ tuổi nhất ở Côn Đảo không cho kẻ thù bịt mắt, cất cao tiếng hát bài Tiến quân ca. Khi giặc nổ súng, Võ Thị Sáu thét lên: Đả đảo thực dân Pháp! Việt Nam độc lập muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm! Đó là 7 giờ sáng ngày 23-1-1952, Võ Thị Sáu chưa đầy hai mươi tuổi.

Sở Cò nơi giam cô Sáu 1 đêm trước khi ra pháp trường và khu lưu niệm Anh hùng Võ Thị Sáu tại Côn Đảo

Trong hành trang tâm hồn tôi có những câu thơ về Chị Sáu của nhà văn Phùng Quán: Nghiêng mình Sáu hái bông hoa ven đường/ Cài lên mái tóc rối tung/ Cất cao tiếng hát giữa vòng lưỡi lê…/ “Trên cành chim hót chim ơi/ Ta làm cách mạng ta vui đến cùng”… Tuổi thơ tôi ở miệt cát Thượng Luật heo hút ven biển Quảng Bình cũng thuộc bài hát về chị Sáu: “Mùa hoa lêkima nở. Ở quê ta miền Đất Đỏ. Thôn xóm vẫn nhắc tên người anh hùng. Đã chết cho… mùa hoa lêkima nở… Chị Sáu đã hi sinh rồi. Giọng hát vẫn như còn vang dội. Vào trái tim của những người đang sống. Giục đi lên không bao giờ lui…”.

Năm 1993, Võ Thị Sáu được Nhà nước truy tặng Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Tại thị trấn Đất Đỏ đã dựng tượng Võ Thị Sáu cao 6m. Ở Côn Đảo, mộ chị Sáu ở khu B được xây lại đàng hoàng hơn, là ngôi mộ được nhiều người thăm viếng nhất. Huyện Côn Đảo cũng đã xây dựng Nhà tưởng niệm anh hùng liệt sĩ Võ Thị Sáu trong một khuôn viên rộng, kề bên núi và biển, quanh năm lộng gió.

Nhưng ra Côn Đảo, đến nghĩa trang Hàng Dương, tôi còn được nghe nhiều huyền thoại về chị Sáu. Những câu chuyện linh thiêng, bí ẩn, nhưng ẩn chứa một sự ngưỡng mộ, tôn thờ theo truyền thống Á Đông đối với những người anh hùng vì dân, vì nước đã được bất tử hóa như một vị thần. Những câu chuyện người dân Côn Đảo kể về chị Sáu không có trong sử sách, nhưng còn lưu truyền mãi như những truyền thuyết dân gian…

Ở tượng đài Võ Thị Sáu tại thị trấn Đất Đỏ cũng như ở Côn Đảo, người dân quanh năm khói nhang cho cô Sáu. Anh Bảy Oanh, một cựu tù Côn Đảo hiện là Trưởng Ban quản lý Di tích Côn Đảo kể rằng, ở Côn Đảo bây giờ, nam nữ thanh niên trước khi làm đám cưới thường ra Hàng Dương viếng mộ chị Sáu. Họ thắp hương, cúng gương lược, rồi lầm rầm khấn vái mong chị phù hộ cho “đôi uyên ương trăm năm hạnh phúc”.

Hiện vẫn còn vài chục gia đình công chức, gác ngục thời ấy ở lại Côn Đảo, trong nhà họ đều có bàn thờ chị Sáu và coi chị như thần hộ mệnh! Bà con gọi chị Sáu là cô Sáu hoặc bà Sáu. Khi thề bồi thì người ta nói: “Thề có cô Sáu chứng giám”. Khi mắng nhau thì bảo: “Cô Sáu vặn cổ mày đi”! Ngày 23-1 hằng năm là ngày giỗ cô Sáu. Đây là ngày giỗ rất lớn ở Côn Đảo mà Nhà nước và nhân dân cùng tổ chức. Người dân ở mãi TP Hồ Chí Minh, Vũng Tàu, Cần Thơ, Đồng Tháp…, dù phải vượt biển vẫn ra Côn Đảo giỗ cô Sáu. Trong số họ có rất nhiều người trước đây là cai ngục ở các nhà tù Côn Đảo.

Trong nhà tưởng niệm, ấn tượng nhất là tủ lễ vật bà con cúng giỗ cô Sáu từ nhiều năm qua. Cái tủ kính cao to treo chật hàng mấy chục bộ quần áo dài thiếu nữ đủ màu trắng, xanh, tím hoa cà. Một người dân bảo với tôi: “Vì bà Sáu mất khi còn trinh nữ, lại bị kẻ ác giết oan, nên rất linh thiêng, ai ăn ở hiền lành thì bà phù hộ, ai ác độc thì bà vặn cổ!”.

Trong tủ còn có cái hộp đựng đồ trang sức đầy ắp dây chuyền, bông tai, nhẫn vàng… người dân cúng để cô Sáu làm trang sức. Tôi hỏi cô Thanh Vân – hướng dẫn viên của Di tích: “Dây chuyền, hoa tai này là vàng thật hay giả?”. Thanh Vân trừng mắt: “Thật chứ làm sao giả được. Giả là cô Sáu vật chết ngay à!”.

Những huyền thoại Võ Thị Sáu linh thiêng xuất hiện ngay từ khi cô nằm xuống trên đất Hàng Dương hơn 60 năm trước. Thanh Vân kể cho chúng tôi nghe nhiều chuyện về hồn thiêng cô Sáu. Ngày trước, trước mộ cô Sáu có một cây dương già bị khô phần ngọn, chỉ còn gốc cây và một nhánh dương tươi tốt vươn thẳng về phía bắc. Người dân bảo đó là hồn cô Sáu hướng về phía bắc, về Bác Hồ.

Người dân Côn Đảo bảo rằng họ đã từng nhìn thấy cô Sáu bước ra từ cây dương mỗi tối. Cô mặc áo dài trắng, lướt qua từng đường phố, hiện lên trước cửa từng nhà, nhìn tận mặt từng người. Sau khi giám sát mọi việc thiện ác trên đảo, cô Sáu lại trở về biến hình vào cây dương khi trời chưa sáng, trước lúc mọi người thức dậy, đến nghĩa trang Hàng Dương, thắp hương, cắm hoa trước mộ cô trước khi đi làm việc.

Ngay tấm bia mộ cô Sáu cũng có nhiều huyền thoại. Sau hôm cô Sáu bị giặc Pháp giết, kíp tù làm thợ hồ ở Khám 2, Banh 1 đã đúc bia bằng ximăng, dựng trước mộ. Chúa đảo Jarty tức tối dẫn lính lên nghĩa trang đập vỡ tấm bia, cào bằng mộ. Nhưng bọn cai tù không sao hiểu nổi, mỗi lần chúng đập phá bia mộ, ngay hôm sau ngôi mộ và tấm bia lại hiện lên như trước… Dân đảo đồn rằng cô Sáu linh thiêng, không ai có thể phá được mộ cô. Câu chuyện làm cho bọn gác ngục, bọn tù gian sợ sệt, chùn tay. Thực ra mộ và bia mộ đó đều do anh em tù thợ hồ làm trong đêm.

Những người tù già ở Côn Đảo kể rằng, sau khi hành quyết Võ Thị Sáu, người lính lê dương già bỏ ăn suốt hai ngày. Ông ngồi suốt đêm ở gốc bàng đầu Cầu Tàu. Thẫn thờ, hốc hác. Ông tâm sự với người tù làm bồi: “Đôi mắt cô gái đã ám ảnh tôi, và có thể sẽ ám ảnh tôi suốt đời. Tôi phải bỏ nghề, tôi không thể bắn được nữa!”.

Cô Liễu, vợ tên giám thị Ruby, người đã ngất xỉu khi chứng kiến cuộc hành hình cô Sáu, kể rằng: Xẩm tối hôm 30 Tết, cô lén chồng đem hương hoa lên viếng mộ cô Sáu, bỗng thấy một người con gái mặc áo dài trắng từ một ngôi mộ đi ra. Liễu sụp lạy rối rít. Trên đường về nhà, đi tới đâu Liễu cũng thấy bóng cô gái trước mặt. Thế là Tết ấy, vợ chồng Liễu lập bàn thờ thờ cô Sáu ở nơi trang trọng nhất, sớm tối hương khói. Từ đó nhiều gia đình gác ngục người Việt lập bàn thờ cô Sáu. Họ tin rằng, một người con gái chết trẻ và chết thiêng như thế sẽ hoá thần.

Vợ chồng viên cò Vol Peter tết năm ấy cũng dắt nhau lên mộ cô Sáu trồng khóm hoa dừa, là loài hoa mà Võ Thị Sáu đã vuốt ve ở sân Sở Cò, khi vợ Vol Peter đề nghị chồng cho chị mười phút ra sân hong tóc, tắm nắng chuẩn bị ra pháp trường. Đến hôm nay, những khóm hoa dừa đó vẫn nở bên mộ cô Sáu. Có lần người dân đảo xôn xao về cái chết của tên tù gian Nguyễn Văn Tân. Xác hắn bị treo trên cây bằng lăng trong vườn nhà Giám thị trưởng Passi.

Người ta cho rằng, hắn bị giết chết vì vụ thất thoát 200 ngàn đồng (tiền Đông Dương) của Hợp tác xã Tiêu thụ mà hắn làm kế toán. Nhưng dân đảo thì cho rằng, tên Tân chết là do cô Sáu “bắt” vì hắn là tên hung hăng nhất trong đám đập bia phá mộ cô Sáu!

Cũng thời gian ấy Chúa đảo Jarty bị rơi sao, mất chức vì vụ 200 tù nhân đóng thuyền vượt ngục ở Bến Đầm. Người ta bảo cô Sáu đã “phù hộ” anh em tù đào hầm đóng thuyền vượt biển và trừng trị tên chúa đảo vì hắn quá tàn ác.

Bạch Văn Bốn, tên chúa đảo đầu tiên thời Mỹ – Diệm khét tiếng chống cộng, cưỡng ép tù nhân ly khai cộng sản, cấm viếng mộ cô Võ Thị Sáu. Trong 4 năm Bốn làm tỉnh trưởng Côn Đảo đã có 500 tù nhân bị giết. Hắn biết chuyện cô Sáu linh thiêng, nhưng hắn cho là luận điệu tuyên truyền của Việt Cộng.

Một khuya, Bốn mở cửa Dinh ra sân, hắn thấy một người con gái bước ra Cầu Tàu. Hắn rút súng cầm tay. Chợt cô gái quay phắt lại, bước tới và nhìn thẳng vào mắt hắn. Sợ quá, Bốn bủn rủn chân tay, để rơi khẩu súng, hớt hải chạy vào nhà, đóng cửa lại và lầm rầm cầu nguyện. Từ đó Bốn rất sợ cô Sáu.

Có thằng tên là Nghị mới bị đày ra đảo làm trật tự an ninh, chưa biết oai linh cô Sáu. Hắn nghe lời tỉnh trưởng Lê Văn Thể (thay Bạch Văn Bốn) ra đập phá bia mộ cô Sáu. Hắn đập nát bia, đập luôn lư hương và hai bình cắm hoa. Tất nhiên hôm sau tấm bia mới lại được dựng lên. Còn tên Nghị thì ít hôm sau người ta thấy hắn gầy tóp lại, vật vờ dọc đường phố gần nhà thương. Hắn sốt li bì, không ăn uống gì được.

Nhà thương Côn Đảo không chữa được, làm giấy chuyển hắn vào nhà thương Chợ Quán. Ba ngày sau hắn chết. Tỉnh trưởng Côn Đảo Tăng Tư lên thay Lê Văn Thể. Hắn nghe kể nhiều về cô Sáu nên âm thầm lập bàn thờ cô Sáu tại tư dinh và không dám tàn nhẫn với tù nhân.

Tăng Tư đã một lần dùng oai linh cô Sáu để xử kiện. Hai tên giám thị nghi ngờ nhau ăn trộm, làm đơn kêu kiện. Tăng Tư ra lệnh hai đứa nhảy lên xe ra mộ cô Sáu mà thề, đứa nào gian cô Sáu biết ngay. Thế là có đứa sụp xuống nhận tội!

Chính tên Tăng Tư này đã về Chợ Lớn đặt một tấm bia mộ Võ Thị Sáu bằng cẩm thạch chở ra đảo, làm lễ đặt bia rất long trọng. Tấm bia mộ bằng đá cẩm thạch đó tồn tại được 9 năm, lại bị thằng tù quân phạm tên là Sước nghênh ngang vác búa đập phá. Sáng hôm sau, thấy vắng Sước, người ta đi tìm thì thấy hắn đã nằm chết trên một tảng đá to phía bờ biển!

Chuyện cô Sáu linh thiêng bà con Côn Đảo kể cả ngày không hết. Tôi nhớ trước đây, ở căn hộ của nhà văn Phùng Quán phía sau Trường Chu Văn An có lập một bàn thờ thờ chị Võ Thị Sáu!

Trên bàn thờ có treo một bài thơ dài cắt ra từ Báo Tiền Phong năm 1955, cùng với bức ảnh chị Võ Thị Sáu bên cạnh, đóng khung rất trang trọng. Đó là Trường ca Võ Thị Sáu, giải Nhất cuộc thi sáng tác hưởng ứng Đại hội liên hoan Thanh niên, sinh viên thế giới Vacxava (Ba Lan). Anh Quán thờ bài thơ và chị Sáu từ năm 1982, khi hai vợ chồng dọn về ở đây, như một bảo vật.

Anh thường bảo với tôi: “Cô Sáu thiêng lắm. Hình như cô Sáu bày cho mình biết trước nhiều chuyện tai ương cuộc đời để né tránh, từ sau vụ “nhân văn” ấy…! Võ Thị Sáu dạy mình sống thuỷ chung với lý tưởng mà mình đã chọn: Vệ Quốc Đoàn!

Ngày nào mình cũng thắp nhang trên bàn thờ cô Sáu. Mỗi lần thắp nhang khấn vái cô Sáu, đầu óc mình như sáng láng hơn lên, viết suốt ngày không biết mệt! Vì sự cố nghề nghiệp nên khi in sách mình ký bút danh khác, nhưng cũng kiếm được tiền nuôi các cháu! Ơn chị Sáu to lắm”.

Nghe huyền thoại cô Sáu, tôi cứ miên man nghĩ về sự tồn tại vĩnh hằng của con người. Người như Võ Thị Sáu, dù chết khi còn rất trẻ, nhưng là người sống mãi với nhân dân, với hồn thiêng sông núi.

Ngô Minh
Công an Nhân dân

Thời gian lý tưởng để đi du lịch Hà Tiên

Hà Tiên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, được chia thành 02 mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình khoảng 27°C, độ ẩm trung bình 81,9%.

Khí hậu ở đây có những đặc điểm chính như sau: Số giờ nắng trung bình từ 6,5 đến 7,5 giờ/ngày. Năng lượng bức xạ trung bình 150 – 160 kcal/cm² năm. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 27°C, nhiệt độ trung bình thấp nhất là 23,9°C, thường rơi vào khoảng tháng 12 – tháng 1; nhiệt độ cao nhất là 30,20 °C, thường rơi vào tháng 4 – 5. Nhiệt độ tuyệt đối thấp nhất có lần đo được là 14,8 °C, nhiệt độ tuyệt đối cao nhất là 37,6 °C. Độ ẩm trung bình 81,9%. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, có nhiều năm mùa mưa đến sớm và kết thúc muộn hơn các khu vực khác của đồng bằng sông Cửu Long. Lượng mưa lớn, trung bình 2.118 mm/năm.

Hà Tiên ít chịu ảnh hưởng bởi bão lũ, nên bạn có thể đi du lịch Hà Tiên vào bất kỳ thời điểm nào trong năm để trải nghiệm tất cả các loại hình du lịch.

Trên boong tàu Hà Tiên đi Phú Quốc

Một số lưu ý khi đi du lịch Hà Tiên

  1. Tuân thủ các quy định về du lịch cũng như pháp luật địa phương
  2. Nên gửi tư trang, tiền bạc, tài sản có giá trị tại két an toàn hoặc tại quầy lễ tân
  3. Quan sát các bảng chỉ dẫn đến các điểm du lịch và quan sát kỹ trước khi qua đường
  4. Nếu muốn tắm biển hãy khởi động trước khi tắm biển
  5. Không tắm biển khi đã uống rượu, beer.
  6. Không được tắm ở khu vực có cờ, đèn báo hiệu hoặc có biển báo cấm.
  7. Trẻ em tắm biển phải mặc áo phao và có người lớn đi theo.
  8. Khi đi du lịch vào mùa nắng bạn nhớ mang theo áo khoác, mũ, khẩu trang, kem chống nắng và các dụng cụ đi mưa, giày dép chuyên dụng nếu đi vào mùa mưa.
  9. Mang kem chống muỗi, thuốc trị côn trùng cắn và một vài loại thuốc cơ bản.

Xem thêm: Những nghề truyền thống tại Hà Tiên

 

 

Giới thiệu khái quát về tỉnh Kiên Giang

Kiên giang là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long – phía Tây Nam của Tổ quốc: phía Bắc giáp Vương quốc Campuchia; phía Nam giáp tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu; phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh An Giang; thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang; phía Tây giáp Vịnh Thái Lan.

Điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý

Kiên Giang nằm ở phía Tây Nam của Tổ quốc, trong vùng đồng bằng sông Cửu Long có đường biên giới chung với Vương quốc Campuchia dài 56 km, đường bờ biển dài trên 200 km. Phía Đông và Đông Nam giáp Cần Thơ, An Giang; phía Nam giáp Cà Mau và Bạc Liêu; phía Tây giáp vịnh Thái Lan, diện tích tự nhiên của tỉnh là 6.269 km2, trong đó đảo Phú Quốc rộng 573 km2.

Đơn vị hành chính: Kiên Giang có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, thị: Thành phố Rạch Giá, thành phố Hà Tiên, thành phố Phú Quốc, huyện Kiên Lương; huyện Hòn Đất, huyện Tân Hiệp, huyện Châu Thành, huyện Giồng Riềng, huyện Gò Quao, huyện An Biên, huyện An Minh, huyện Vĩnh Thuận, huyện Kiên Hải, huyện U Minh Thượng và huyện Giang Thành.

Nằm trong vùng vịnh Thái Lan, gần với các nước Đông Nam Á như Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Singapo, Kiên Giang có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng giao lưu kinh tế với các nước trong khu vực, đồng thời đóng vai trò cầu nối các tỉnh miền Tây Nam Bộ với bên ngoài.

Vị trí địa lý của Kiên Giang có tiềm năng lớn cho phát triển kinh tế – xã hội tổng hợp, là cửa ngõ hướng ra biển Tây của tỉnh cũng như của vùng đồng bằng sông Cửu Long, có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế biển, đảo và giao lưu với các nước trong khu vực và quốc tế với các ngành mũi nhọn như du lịch, thương mại, dịch vụ công nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản…

Đặc điểm địa hình

Kiên Giang vừa có vùng đồng bằng lại vừa có vùng đồi núi và biển. Ở phần đất liền, địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Vùng hải đảo Phú Quốc và Kiên Hải có nhiều núi đá, địa hình khá phức tạp. Vùng đồng bằng có độ cao từ 0,2 – 1,2 m cùng với chế độ thuỷ triều biển tây chi phối rất lớn khả năng tiêu thoát úng về mùa mưa đồng thời lại bị ảnh hưởng lớn của nước mặn, nhất là vào các tháng cuối mùa khô, gây trở ngại cho sản xuất và đời sống

Khí hậu

Kiên Giang có khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm quanh năm; nhiệt độ trung bình hàng tháng từ 27 – 27,50C; lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.600 – 2.000 mm ở đất liền và 2.400 – 2.800 mm ở vùng đảo Phú Quốc. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 11; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Khí hậu ở đây rất thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loại cây trồng, vật nuôi.

Tài nguyên thiên nhiên

Tài nguyên đất

Đất đai ở Kiên Giang được chia thành 4 vùng chính là vùng phù sa ngọt thuộc Tây sông Hậu (Tân Hiệp, Giồng Riềng, Châu Thành, thị xã Rạch Giá và huyện Gò Quao), vùng phèn ngập lũ thuộc tứ giác Long Xuyên, vùng nhiễm mặn thuộc bán đảo Cà Mau và vùng đồi núi, hải đảo ở hai huyện Phú Quốc và Kiên Hải.

Đất nông nghiệp hiện có 402,6 nghìn ha, chiếm 64,2% diện tích tự nhiên; đất rừng chiếm 122,8 nghìn ha, đất chuyên dùng 35,4 nghìn ha, đất ở 10,1 nghìn ha. Ngoài ra tỉnh còn có trên 70 nghìn ha đất hoang hoá và sản xuất chưa ổn định với hơn 25 nghìn ha vườn tạp. Đây là một tiềm năng lớn cần được khai thác và sử dụng triệt để góp phần phát triển kinh tế Kiên Giang mạnh hơn nữa.

Tài nguyên nước

Nguồn nước mặt khá dồi dào, nhưng đến mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) phần lớn nước mặt của tỉnh đều bị nhiễm phèn mặn, do vị trí ở cuối nguồn nước ngọt của nhánh sông Hậu, nhưng lại ở đầu nguồn nước mặn của vịnh Rạch Giá. Toàn tỉnh có 3 con sông chảy qua: Sông Cái Lớn (60 km), sông Cái Bé (70 km) và sông Giang Thành (27,5 km) và hệ thống kênh rạch chủ yếu để tiêu nước về mùa lũ và giao thông đi lại, đồng thời có tác dụng tưới nước vào mùa khô.

Tài nguyên biển

Kiên Giang có 200 km bờ biển với ngư trường khai thác thủy sản rộng 63.290 km2. Biển Kiên Giang có 143 hòn đảo, với 105 hòn đảo nổi lớn, nhỏ, trong đó có 43 hòn đảo có dân cư sinh sống; nhiều cửa sông, kênh rạch đổ ra biển, tạo nguồn thức ăn tự nhiên phong phú cung cấp cho các loài hải sản cư trú và sinh sản, là ngư trường khai thác trọng điểm của cả nước. Theo điều tra của Viện nghiên cứu biển Việt Nam, vùng biển ở đây có trữ lượng cá, tôm khoảng 500.000 tấn, trong đó vùng ven bờ có độ sâu 20-50 m có trữ lượng chiếm 56% và trữ lượng cá tôm ở tầng nổi chiếm 51,5%, khả năng khai thác cho phép bằng 44% trữ lượng, tức là hàng năm có thể khai thác trên 200.000 tấn; bên cạnh đó còn có mực, hải sâm, bào ngư, trai ngọc, sò huyết,… với trữ lượng lớn, điều kiện khai thác thuận lợi. Ngoài ra tỉnh đã và đang thực hiện dự án đánh bắt xa bờ tại vùng biển Đông Nam bộ có trữ lượng trên 611.000 tấn với sản lượng cho phép khai thác 243.660 tấn chiếm 40% trữ lượng.

Tài nguyên rừng

Kiên Giang không có nhiều rừng, nên trữ lượng gỗ ở đây không lớn như các tỉnh khác trong vùng Đông Nam Bộ nhưng rừng ở đây lại có vai trò quan trọng trong việc phòng hộ và bảo vệ môi trường. Trên địa bàn huyện có rừng đặc dụng ở Phú Quốc, rừng bảo tồn thiên nhiên và di tích lịch sử U Minh, rừng phòng hộ ven biển. Dự kiến năm 2005, toàn tỉnh có 138.900 ha rừng, trong đó rừng phòng hộ và đặc dụng là 81.400 ha, rừng sản xuất 57.500 ha; tỷ lệ che phủ rừng đạt 22,1%.

Tài nguyên khoáng sản

Theo đánh giá, Kiên Giang là tỉnh có tiềm năng khoáng sản tương đối lớn mặc dù đang ở mức thăm dò, nghiên cứu nhưng bước đầu đã xác định được 152 điểm quặng và 23 mỏ khoáng sản các loại khác: Nhiên liệu (than bùn), phi kim loại (đá vôi, đá xây dựng, đất sét), nhóm kim loại, đặc biệt là nhóm khoáng sản phi kim loại dùng để sản xuất vật liệu xây dựng, xi măng, than bùn có trữ lượng lớn.

Kiên Giang cũng là tỉnh duy nhất ở vùng đồng bằng sông Cửu Long có nguồn đá vôi khá phong phú, không những có giá trị về sản xuất vật liệu xây dựng mà còn tạo ra nhưng hang động và những danh lam thắng cảnh có ý nghĩa du lịch. Trữ lượng đá vôi toàn tỉnh hiện có 440 triệu tấn, có khả năng khai thác 342 triệu tấn, trong đó trữ lượng khai thác công nghiệp là 235 triệu tấn, đủ nguyên liệu để sản xuất 4,6 triệu tấn clinker/năm trong suốt 40 năm.

Than bùn, ước tính còn khoảng 150 triệu tấn, phân bổ tập trung ở U Minh Thượng, huyện An Minh, Vĩnh Thuận, Kiên Lương. Ngoài ra tỉnh còn có nhiều loại khoáng sản khác như đất sét để sản xuất xi măng, đất sét làm gạch ngói, gốm sứ.

Tiềm năng kinh tế

Tiềm năng du lịch

Kiên Giang được coi là vùng đất có “rừng vàng biển bạc” với nhiều danh lam thắng cảnh như đảo Phú Quốc, Hà Tiên, quần đảo Nam Du, quần đảo Bà Lụa, rừng U Minh Thượng, Hòn Đất…rất thuận lợi để phát triển du lịch, đặc biệt là đảo Phú Quốc trong tương lai sẽ trở thành khu du lịch sinh thái cao cấp của cả nước và khu vực. Bên cạnh đó tỉnh còn có nhiều di tích văn hoá lịch sử lâu đời. Một nhà thơ đã ví Kiên Giang như Việt Nam thu nhỏ với “một ít hang sâu, động hiểm của Lạng Sơn, có ngọn núi chơi vơi giữa biển khơi của vịnh Hạ Long, có ít núi đá vôi của Ninh Bình, ít thạch thất sơn môn của Hương Tích, chùa chiền Bắc Ninh, lăng tẩm Thuận Hoá và một ít Đồ Sơn, Cửa Tùng, Nha Trang, Vũng Tàu, Long Hải…”

Kiên Giang có nhiều thắng cảnh và di tích lịch sử nổi tiếng như: Hòn Chông, Hòn Trẹm, Hòn Phụ Tử, núi Mo So, bãi biển Mũi Nai,Thạch Động, Lăng Mạc Cửu, Đông Hồ, Hòn Đất, rừng U Minh, đảo Phú Quốc… Để khai thác có hiệu quả tiềm năng phát triển du lịch, Kiên Giang đã xây dựng 4 vùng du lịch trọng điểm như:

Phú Quốc

Phú Quốc có địa hình độc đáo gồm dãy núi nối liền chạy từ Bắc xuống Nam đảo, có rừng nguyên sinh với hệ động thực vật phong phú, có nhiều bãi tắm đẹp như Bãi Trường (dài 20 km), Bãi Cửa Lấp – Bà Kèo, Bãi Sao, Bãi Đại, Bãi Hòn Thơm… và xung quanh còn có 26 đảo lớn nhỏ khác nhau. Theo chủ trương của Chính phủ đảo Phú Quốc được xây dựng thành trung tâm du lịch nghỉ dưỡng quốc tế chất lượng cao. Phú Quốc và hai quần đảo An Thới, Thổ Châu là vùng lý tưởng cho việc phát triển du lịch biển đảo như: tham quan, cấm trại, tắm biển, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, các lọai hình thể thao nước. Phú Quốc có truyền thống văn hóa lâu đời và nhiều đặc sản nổi tiếng, như: nước mắm phú Quốc, hồ tiêu, ngọc trai, rượu sim, cá trích, nấm tràm…

Mũi Gành Dầu Phú Quốc

Vùng Hà Tiên – Kiên Lương

Nhiều thắng cảnh biển, núi non của Hà Tiên – Kiên Lương như: Mũi Nai, Thạch Động, núi Tô Châu, núi Đá Dựng, đầm Đông Hồ, di tích lịch sử văn hoá núi Bình San, chùa Hang, hòn Phụ Tử, bãi Dương, núi MoSo, hòn Trẹm, quần đảo Hải Tặc và đảo Bà Lụa rất thích hợp cho phát triển du lịch tham quan thắng cảnh, nghỉ dưỡng. Những thắng cảnh như núi Tô Châu, đầm Đông Hồ, sông Giang Thành, khu du lịch Núi Đèn đang được đưa vào khai thác du lịch chính thức.

Tàu cao tốc Hà Tiên Phú Quốc

Hà Tiên có truyền thống lịch sử văn hóa, văn học – nghệ thuật, với những lễ hội cổ truyền như Tết Nguyên tiêu, kỷ niệm ngày thành lập Tao đàn Chiêu Anh Các, lễ giỗ Mạc Cửu, chùa Phù Dung, đình Thành Hoàng… Hiện nay, Kiên Giang đã có tour du lịch đến nước bạn Campuchia qua đường cửa khẩu Quốc tế Hà Tiên. Đây là cánh cửa mở ra để vùng Kiên Lương – Hà Tiên nối liền với các nước Đông Nam Á; đồng thời mở tuyến du lịch xuyên ba nước, từ Phú Quốc đến Shianouk Ville (Campuchia) và tỉnh Chanthaburi (Thái Lan) bằng đường biển và đường bộ.

Thành phố Rạch Giá và vùng phụ cận

Thành phố Rạch Giá là trung tâm hành chính của tỉnh Kiên Giang, có bờ biển dài 7 km, giao thông thủy, bộ và hàng không rất thuận tiện. Rạch Giá có cơ sở hạ tầng tốt, nhiều di tích lịch sử văn hóa, là điểm dừng chân để đi tiếp đến Hà Tiên, Phú Quốc và các vùng khác trong tỉnh. Do đó, có lợi thế trong phát triển các dịch vụ như: lưu trú, ăn uống, các dịch vụ vui chơi giải trí về đêm; có 2 hệ thống siêu thị quy mô lớn đảm bảo nhu cầu mua sắm của người dân thành phố và du khách (siêu thị Citimart khu lấn biển và siêu thị Co.op Mart Rạch Sỏi). Thành phố Rạch Giá là nơi đầu tiên ở Việt Nam tiến hành việc lấn biển để xây dựng đô thị mới. Khu lấn biển mở rộng thành phố thành một trong những khu đô thị mới lớn nhất vùng Tây Nam bộ. Hiện tại thành phố đang và chuẩn bị đầu tư nhiều công trình quan trọng như: khu đô thị mới Vĩnh Hiệp, khu đô thị phức hợp lấn biển, 2 cầu nối liền khu lấn biển và khu 16 ha, cầu Lạc Hồng…. Một số khu vực phụ cận của Rạch Giá như huyện đảo Kiên Hải, Hòn Đất, U Minh Thượng cũng có nhiều tiềm năng phát triển du lịch. Kiên Hải đang khai thác các tour khám phá biển đảo đi – về trong ngày. Đây là vùng thắng cảnh biển – đảo với đặc thù nghề truyền thống đi biển, làm nước mắm, chế biến hải sản, tạo thành nét sinh hoạt văn hóa riêng biệt. Khu du lịch Hòn Đất đang hoàn chỉnh và hoàn thiện những công trình văn hóa tại khu mộ Anh hùng liệt sĩ Phan Thị Ràng (chị Sứ), xây dựng khu trưng bày một số hiện vật chứng tích chiến tranh tại khu phát sóng truyền hình của tỉnh trên đỉnh Hòn Me…

Vùng U Minh Thượng

Với đặc thù sinh thái rừng tràm ngập nước trên đất than bùn, Vườn Quốc gia U Minh Thượng – khu căn cứ địa cách mạng, khu dự trữ sinh quyển thế giới, đã mở cửa phục vụ khách tham quan du lịch sinh thái. Khu du lịch Vườn Quốc gia U Minh Thượng phục vụ khách tham quan du lịch sinh thái kết hợp với tìm hiểu văn hóa nhân văn sông nước vùng bán đảo Cà Mau và du lịch nghiên cứu di chỉ khảo cổ Ốc Eo – Phù Nam (Cạnh Đền, Nền Vua, Kè Một). Quần thể di tích căn cứ địa cách mạng U Minh Thượng với di tích Ngã Ba Cây Bàng, Ngã Ba Tàu, Thứ Mười Một, Rừng tràm Ban Biện Phú, khu tập kết 200 ngày kinh xáng Chắc Băng, là điểm thu hút du khách tìm hiểu lịch sử cách mạng… đồng thời, tỉnh vừa khởi công xây dựng một số công trình theo Đề án phục dựng Khu căn cứ Tỉnh uỷ trong kháng chiến tại huyện Vĩnh Thuận.

Ngoài 4 vùng du lịch trọng điểm, Kiên Giang hiện có khu Dự trữ sinh quyển với diện tích hơn 1,1 triệu ha. Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang chứa đựng sự phong phú, đa dạng và đặc sắc về cảnh quan và hệ sinh thái, có giá trị lớn về mặt nghiên cứu, cũng như du lịch. Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang trùm lên địa phận các huyện Phú Quốc, An Minh, U Minh Thượng, Vĩnh Thuận, Kiên Lương và Kiên Hải, gồm 3 vùng lõi thuộc Vườn Quốc gia U Minh Thượng, Vườn Quốc gia Phú Quốc và rừng phòng hộ ven biển Kiên Lương, Kiên Hải.

Những lợi thế so sánh

Tỉnh Kiên Giang có nhiều lợi thế mà không phải tỉnh nào cũng có. Tỉnh có bờ biển dài trên 200 km, có nhiều sông núi và hải đảo rất thuận lợi để phát triển nghề nuôi trồng và đánh bắt thuỷ, hải sản. Bên cạnh đó tỉnh nằm trong vùng vịnh Thái Lan gần với các nước Đông Nam Á khác như Campuchia, Thái Lan, Malaixia, Xingapo nên có điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng giao lưu kinh tế – văn hoá với các nước trong khu vực, đồng thời cũng đóng vai trò cầu nối của các tỉnh miền Tây Nam Bộ với các nước láng giềng.

Nguồn tài nguyên biển của tỉnh còn rất phong phú: ngư trường khai thác thuỷ sản trên 63.000 km2, bãi triều rộng ở vùng ven biển, ven đảo rất phù hợp cho nuôi trồng nhiều loại thuỷ sản có giá trị kinh tế cao như tôm sú, nghêu, sò, cá lồng, ngọc trai…

Bên cạnh đó tỉnh còn nổi tiếng với nhiều cảnh quan thiên nhiên như vườn quốc gia Phú Quốc, U Minh Thượng; đảo Phú Quốc, khu du lịch Mũi Nai, chùa Hang; những di tích văn hoá lịch sử… tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển các loại hình du lịch.

Những nghề truyền thống tại Hà Tiên

Một trong những nét đẹp góp phần tăng thêm sức hấp dẫn của Hà Tiên là những làng nghề truyền thống. Nghề truyền thống đã góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa địa phương, đồng thời góp phần quảng bá văn hóa, thu hút khách du lịch đến với Hà Tiên.

Nghề làm mắm Cà Xỉu

Có dịp đến với Hà Tiên (Kiên Giang), du khách nào cũng được giới thiệu một món ngon rất độc đáo của xứ này là món cà xỉu. Chỉ cái tên cũng đã đủ làm nên sự hấp dẫn của món ăn, bởi hiếm khi nào bạn có dịp được nghe nhắc một đặc sản lạ lùng đến thế.

Bất kỳ ai khi nhìn thấy con cà xỉu đều có cảm giác sờ sợ, chẳng dám đụng đũa. Vẻ bề ngoài của cà xỉu khá giống những loài hải sản hai mảnh vỏ, nhưng cũng giống cả loài côn trùng với cái râu thật dài và to.

Nếu không phải do người địa phương giới thiệu, chắc chẳng thực khách nào có “gan” tự mình thưởng thức món ăn kỳ lạ này.

Cà xỉu sống tập trung ở môi trường sông, cửa biển, nước lợ, có nhiều ở vùng đầm Đông Hồ, thị xã Hà Tiên. Giống như sò, cà xỉu sống dưới tầng nước bùn, vì thế chúng có râu dài để cắm xuống đất, phục vụ cho mục đích tìm kiếm thức ăn. Mùa cà xỉu rộ lên nhiều từ khoảng tháng 6 đến tháng 8 hàng năm.

Khi bắt được cà xỉu, người ta đem muối tương tự như muối ba khía. Từ đó, các hàng quán mua cà xỉu muối về chế biến lại, tạo thành những món “độc” cho ẩm thực Hà Tiên. Đặc biệt, cà xỉu ngon, bổ nhất là phần râu (tốt cho sinh lực nam giới), nhai giòn giòn nên được các đấng mày râu rất ưa chuộng.

Ngư dân sau khi đánh bắt cà xỉu về thì rửa sạch bùn đất, giữ lại phần đuôi rồi làm mắm. Cứ một lớp cà xỉu rắc một lớp muối lên. Tùy sở thích mà người ta có thể muối bằng nước muối hoặc muối hạt, thêm đường để mắm nhanh chua.

Công đoạn đòi hỏi người làm phải có kỹ thuật, kinh nghiệm và sự khéo léo. Chất lượng của mắm cà xỉu ngon hay không cũng nhờ vào cách muối này. Nếu cho ít nguyên liệu, cà xỉu sẽ bị hỏng. Còn nếu muối mặn quá, cà xỉu sẽ bị đen.

Cà xỉu tươi ngon nhất vẫn là muối buổi sáng và xào ngay buổi chiều, bởi khi đó vị mặn của muối hãy còn chưa ngấm hết vào trong thịt. Phi thơm tỏi, cho cà xỉu vào xào, đảo đều tay cho gia vị thấm đều rồi nêm chút tiêu, đường cho vừa miệng.

Khi ăn, thực khách chỉ cần tách lớp vỏ bên ngoài rồi chỉ lấy phần thịt bên trong. Người dân bản địa cho rằng, ngày trước trên các tàu thuyền ra khơi luôn trữ hũ cà xỉu để ăn với cơm nóng. Món ăn truyền thống này nay trở thành đặc sản của xứ sở Hà Tiên.

Về sau, khi nhiều người biết đến món ăn dân dã này, cà xỉu mới được chế biến với nhiều cách hơn. Một món ăn khác cũng rất nổi tiếng ở Hà Tiên, thường xuất hiện trong thực đơn là món gỏi cà xỉu. Cách chế biến món ăn cũng tương tự như gỏi xoài, gỏi cóc.

Cà xỉu muối được chần sơ qua nước nóng để giảm mặn. Đầu bếp chỉ cần băm xoài thành sợi nhuyễn, trộn với rau răm rồi rưới nước giấm đường, pha thêm chút nước mắm Phú Quốc để tạo vị đậm đà.

Trộn cà xỉu và hỗn hợp này lại với nhau rồi rắc đậu phộng rang, hành phi để tạo thêm hương vị là món ăn đã hoàn thành. Có người còn cho thêm củ hành tây xắt sợi… cho hợp khẩu vị. Vị chua, mặn, ngọt và cay của món ăn tạo cho thực khách cảm giác càng ăn càng thấy hấp dẫn.

Sức hút từ một món ăn dân dã, đậm đà, độc đáo mang tên cà xỉu khiến cho ẩm thực Hà Tiên trở nên khó phai trong lòng thực khách. Đã đến với Hà Tiên, du khách nào cũng nên dừng chân thưởng thức một đĩa cà xỉu, cùng hàn thuyên về chuyến đi nên thơ, thú vị và đầy dư vị ẩm thực biển.

Nghề làm đường Thốt Nốt

Đứng từ xa nhìn, cây thốt nốt như một dấu chấm hỏi lộn ngược. Cây thốt nốt đứng trơ trọi giữa trời, như thách đố với sáu tháng đồng khô cỏ cháy, để rồi sau đó lại phải chìm chân trong biển nước suốt mấy tháng mùa nước nổi, như muốn hòa mình, muốn sẻ chia với cuộc sống còn nhiều vất vả của người nông dân chân lấm, tay bùn.

Ðể lên được hàng “lão làng”, thốt nốt phải tích luỹ một nội lực cần thiết ít nhất cũng quãng ba bốn chục năm mới chịu chuyển mình “trổ mã”, từ thời điểm này, thốt nốt thật sự trưởng thành, toàn thân cứng chắc.

Ðối với “cây đực” do không thể khai thác được quả và nước, nên người ta chỉ dùng gỗ để làm xuồng con, hoặc cưa ra làm hai, móc bỏ ruột cây để làm ống dẫn nước; còn lá thì ngoài việc dùng lợp nhà, để đan đát (nón, quạt, đệm…), người ta bó chúng lại thành từng chùm rồi gác lên một giàn cao dùng làm nơi trú cho loài dơi muỗi (gọi chuồng dơi) lấy phân dơi bón cho cây trồng.

Những thốt nốt “cái” được chăm sóc để thu hoạch trái hoặc nước. Một cây, mỗi lứa có đến trên dưới 50 trái. Chúng tụ lại thành buồng như dừa nhưng trái nhỏ và dẹp hơn. Phần “cơm” của trái “vừa ăn” có mầu trắng trong, ăn thấy dẻo mà giòn, ngọt mà béo. Cơm trái thốt nốt già ngả mầu vàng, thơm như mùi mít chín, dùng chế biến bột để làm nhiều loại bánh (phổ biến là bánh bò) hoặc nấu chè, nhưng nguồn lợi đáng kể nhất là lấy nước để làm đường.

Ðể làm đường thốt nốt, bà con không dùng nước từ quả, vì hàm lượng đường không cao, mà dùng nước từ hoa, gọi “mật hoa” cũng gọi “dịch thốt nốt”. Muốn lấy dịch ấy phải trèo lên tận ngọn, cao trung bình khoảng 15 m. Những cây ở tuổi “lão làng” còn cao hơn nữa.

Do thân cây quá to, có khi đến vài người ôm, người ta không thể leo trực tiếp, nên phải dùng một cây tre gai thật dài và thẳng, già và cứng, chặt chừa mỗi nhánh khoảng một gang tay để dùng làm nấc thang bước lên (không làm như kiểu cây thang thông thường, vì phải tốn hai cây và nặng gấp đôi). Cây tre này được buộc cố định, dọc theo cây thốt nốt. Người lấy dịch, khi leo lên, phải mang theo một con dao và một chùm vài ba chục ống tre, mỗi ống có dung tích khoảng hai lít để hứng.

Mỗi ngày đều phải leo lên từng cây, dùng dao cắt ở đầu cuống hoa khoảng 2 cm, dịch từ vết cắt ấy chảy ra từng giọt một, thành phần có chứa khoảng 15% đường xác-ca-rốt. Vì vậy, khi cột chặt những ống tre ở đó (đã hong khói hoặc nhúng qua nước sôi để khử trùng) đến ngày hôm sau sẽ thu hoạch được mỗi ống chừng hơn 1 lít.

Ban ngày dịch thốt nốt có vị chua, ban đêm ít chua hơn. Ðể làm mất vị chua, người ta chỉ cần bỏ vào ống tre ấy một miếng rễ cây sến – một thứ cây như cây sao có nhiều ở vùng biên giới Tây Nam. Dịch có mùi thơm, vị ngọt, rất ngon mát lại có công dụng nhuận tràng. Cây nào đã cho dịch thì sẽ không cho quả. Tất nhiên người nấu đường thích lấy dịch hơn, vì lấy quả không kinh tế bằng.

Sáng ra, người khai thác dịch thốt nốt lại phải leo lên từng cây để mang những ống đựng dịch ấy xuống và thay ống khác vào. Nếu không bán như một thứ nước giải khát đặc sản, thì dùng nấu lấy đường, gọi là đường thốt nốt. Ðường thốt nốt được chế biến thành ba loại. Ðường phèn: Nấu dịch trên lửa, khi đã được, đổ vào khạp, đậy nắp, để yên khoảng 30 – 40 ngày. Mật đường sẽ kết thành khối đặc cứng phía dưới, gọi là đường phèn. Ðây là đặc sản cao cấp, để dùng trong gia đình, hoặc dùng làm quà biếu. Ðường táng: Dùng lớp mật chưa đóng cứng trong cách chế biến đường phèn, hoặc dùng đường nấu sền sệt, đổ vào khuôn tròn đường kính khoảng 10 cm, dày khoảng 2 – 3 cm, chờ nguội, lấy ra khỏi khuôn sẽ có đường táng. Sản phẩm này được khách hàng ưa chuộng vì hình thức trang nhã, mầu sáng đẹp và mềm, thơm.

Bà con thường phong lại thành cây, mỗi cây 5 đến 10 miếng, gói bằng chính lá thốt nốt như đòn bánh tét, gọn, sạch, rất tiện lợi trong việc vận chuyển. Ðường chảy: ở dạng nhão, xưa còn gọi là đường om vì được đựng trong những chiếc “cà om” – một loại nồi đất tròn, không quai, đồ đựng đặc biệt của địa phương thời trước.

Ðường thốt nốt có mặt trên thị trường theo mùa, từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 âm lịch năm sau. Cao điểm là từ tháng chạp đến tháng ba. Càng nắng gắt dịch thốt nốt càng có hàm lượng đường cao. Trung bình cứ khoảng sáu, bảy lít dịch thì thắng được 1 kg đường. Ðể đường thốt nốt được ngon, bà con phải tranh thủ nấu ngay sau khi lấy từ trên cây xuống. Nếu để lâu quá bốn giờ dịch sẽ bị chua, phải dùng rễ sến để dằn chua, tuy nhiên nếu lạm dụng sẽ bị đắng. Nấu đường phải điều chỉnh ngọn lửa vừa phải, lửa to sẽ bị cháy khét, cũng không nên đun lâu quá 40 phút, đường sẽ bị sẫm mầu, giá trị trên thị trường bị giảm.

Làm đường thốt nốt không khó, nhưng đòi hỏi kinh nghiệm và kỹ thuật, nghĩa là chỉ cần nắm được các điều cơ bản, cộng cùng sự quen mắt, quen tay… Ðường thốt nốt nguyên chất không ngọt gắt như đường mía, nhưng mùi thơm, vị béo đậm đà, đã ăn thì nhớ mãi, nhất là nấu chè. Bà con ở địa phương vùng Hà Tiên đôi khi thường dùng đường thốt nốt ăn với cơm nguội, hoặc dùng thay cho bánh ngọt trong tiệc trà. Dịch thốt nốt cho liên tục được khoảng bốn tháng, rồi ngừng chảy. Cây sẽ ra hoa mới. Chỉ cần chờ một tháng thì bắt đầu thu hoạch tiếp. Cứ vậy khai thác, có khi liên tục bốn năm chục năm.

Nghề thủ công mỹ nghệ Huyền

Nghề chế tác huyền Hà Tiên được hình thành từ thế kỷ XVIII, đây là một nghề thủ công mang đậm tính truyền thống dân gian qua dụng cụ chế biến và mẫu mã sản phẩm. Nghề chế tác huyền Hà Tiên hẳn cũng có mối quan hệ mật thiết với tiến trình thành lập đất Hà Tiên và quá trình giao lưu văn hóa.

Theo các nhà địa chất, Huyền là một loại khoáng sản dạng than đá, có nguồn gốc thực vật. Nói rõ hơn đó là các loại gỗ rừng ở những vùng có núi lửa, bị lớp dung nham phún ra, đốt cháy và chôn vùi. Dưới thời gian, sâu vào lòng đất, chịu tác động của địa nhiệt và sức ép của lớp đất đá bên trên, lâu ngày các khối gỗ này bị phân hóa thành than, có độ tinh khiết khá cao nhưng chưa ròng.

Huyền được lấy ra từ các mỏ chưa qua khâu chế biến được gọi là huyền thô. Đặc tính của huyền thô có độ cứng cao, hơn hẳn các loài than đá khác, nhưng không cứng bằng nhiều loại đá quý và nhẹ hơn. Vì thế người ta có thể đẻo gọt, cưa cắt huyền thô, gia công thành nhiều mặt hàng trang sức đẹp với màu sắc đen tuyền, nước bóng mượt mà óng ánh như ngọc thạch. Huyền được phân loại thành bốn hạng được đánh giá cao thấp. Đắt nhất là Huyền số không (0) có phẩm chất tốt và ít tì vết. Tiếp đến là các loại huyền số 1, 2 và 3 có giá trị giảm đi do phẩm chất huyền kém dần và số lượng tì vết nhiều. Nếu phân loại theo chất liệu thì có: huyền cháy, huyền bóng, huyền giòn, huyền dẻo, huyền có sớ xuôi, sớ vặn hay không sớ. Ngoài ra, còn có các dạng huyền có chứa các tinh thể kim loại như sắt, chì, kẽm, nhôm… các loại huyền này khó chế tác.

Công đoạn chế tác huyền đòi hỏi người thợ phải có kỹ năng khéo léo, tính cần mẫn và kiên nhẫn mới có thể tạo nên những sản phẩm xinh xắn, duyên dáng, tinh xảo rất mực. Ngoài ra, sản phẩm huyền còn đòi hỏi người thợ phải có nhiều sáng kiến và nhạy cảm qua nghệ thuật tạo hình, tạo dáng sản phẩm theo sát thời trang, thị hiếu của người sử dụng ở từng thời, từng lứa tuổi khác nhau. Hiện nay, ở Hà Tiên chỉ còn lại hộ gia đình ông Nguyễn Chí Thông duy nhất duy trì nghề chế tác huyền.

Nghề chằm lá dừa nước

Chằm lá từ lâu đã trở thành một nghề gần gũi, thân thuộc gắn bó bao đời nay với mọi người. Ngày nay, tuy những mái nhà lá đã dần được thay thế bằng những mái tôn, mái ngói… nhưng đâu đó vẫn còn những xóm, những người âm thầm theo đuổi nghề chằm lá.

Mọi người không ai biết cái nghề này có từ khi nào, chỉ biết cứ đời trước truyền cho đời sau và đến tận bây giờ. Để có lá chằm chúng tôi phải ngâm mình hàng giờ dưới nước để đốn lá dưới các mương, rạch. Đây được xem là khâu cực nhất của cái nghề chằm lá này.

Để có nguyên liệu, người dân phải chèo xuồng hoặc vỏ lãi xung quanh các kênh, rạch để đốn lá. Lá dừa nước sau khi chặt về, tàu lá nhỏ được chặt thành cỡ bằng nhau, chẻ đôi ở giữa và đem phơi, đây là loại lá xé, được sử dụng lợp nhà và cặp vách. Tàu lá lớn sẽ róc lấy lá, cọng lá đem chẻ nhỏ, chặt thành khúc dài khoảng 1,5-2m rồi phơi khô dùng để làm hom. Khi chằm, lá được gấp đôi kẹp vào hom, kim đã xỏ sẵn dây sẽ dùng để khâu cho lá dính chặt vào hom, kết lại thành tấm. Trước đây, nguyên liệu làm nên tấm lá đều lấy từ cây dừa nước. Tuy nhiên, do lạt lấy từ thân lá dừa nước, dùng để xỏ khi chằm lá sử dụng không được lâu, nên sau này đã được thay thế bằng dây ni-lông.

Hiện nay, do diện tích dừa nước không còn nhiều như trước đây, nên đa phần để có nguyên liệu người chằm lá phải mua dừa nước theo đám với giá từ vài trăm đến vài triệu đồng/đám lá.

Ngày nay, tuy nghề chằm lá không còn hưng thịnh như trước đây, nhưng đối với người dân Hà Tiên thì họ vẫn âm thầm gắn bó với nghề để giữ lại nét đẹp văn hóa ở những vùng quê yên bình.

Nghề làm tôm khô

Là một trong những nghề truyền thống đã có từ hàng trăm năm tại thành phố Hà Tiên, nghề làm tôm khô dựa vào nguồn nguyên liệu dồi dào do vị trí địa lý đặc thù của địa phương được thiên nhiên ban tặng. Nghề làm tôm khô đã góp phần ổn định cuộc sống cho người dân địa phương và trở thành nét văn hóa đặc trưng của cộng đồng dân cư nơi đây.

Theo nhiều gia đình làm nghề tôm khô, hiện nay chưa có tài liệu nào xác định chính xác mốc ra đời của nghề này, nhưng theo các cụ cao niên truyền miệng lại, nghề làm tôm khô ở xứ này ra đời cách đây khoảng trăm năm. Đến cuối thế kỷ XVII, Hà Tiên là mảnh đất cuối cùng trên con đường Nam tiến mở mang bờ cõi của người Việt. Đây là vùng đất phần lớn có diện tích đất và nước nhiễm mặn ven biển, sông rạch chằng chịt với một mặt giáp biển Tây (Vịnh Thái Lan) nên tôm cá và các loài thủy hải sản khác vô cùng phong phú, đa dạng. Do ăn tươi tại chỗ không thể hết nên người dân địa phương thường tìm cách chế biến nhằm mục đích lưu trữ để dành ăn dần hoặc bán đi nơi khác.

Tôm khô Hà Tiên

Nghề làm tôm khô có mặt ở nhiều địa phương của Nam Bộ, tuy nhiên, nhiều người vẫn cho rằng tôm khô ở Hà Tiên là nổi tiếng hơn cả. Cộng đồng cư dân nơi đây gắn bó với nghề thủ công truyền thống này từ hàng trăm năm nay. Theo người dân địa phương, hiện nay tại Hà Tiên có 2 hình thức thực hành nghề làm tôm khô. Hình thức thực hành truyền thống ra đời từ xưa, sản xuất nhỏ lẻ mang tính chất thủ công gia đình, hiện còn tồn tại phổ biến ở các địa phương có nghề làm tôm khô. Bên cạnh đó hình thức thực hành hiện đại sản xuất quy mô lớn theo dây chuyền công nghệ kết hợp máy móc và lao động của con người.

Nguyên liệu làm tôm khô ở Hà Tiên có 2 loại: các loại tôm nước ngọt (tôm sông) và các loại tôm nước mặn (tôm biển). Loại tôm sông cho chất lượng sản phẩm ngon hơn, có giá trị kinh tế cao nhưng ở Cà Mau do sản lượng loại tôm này thấp nên các loại tôm biển là nguồn nguyên liệu sản xuất chủ yếu. Quy trình sản xuất tôm khô tưởng đơn giản nhưng lại khá cầu kỳ, đặc biệt là đòi hỏi nguồn nguyên liệu phải tươi ngon và kinh nghiệm của người thợ, vì chỉ cần sơ suất thì tôm khô sẽ không ngon, giá trị kinh tế giảm…

Theo đó, tôm nguyên liệu sau khi đánh bắt hoặc thu mua đem về mang đi rửa sạch rồi luộc với nước muối vừa đủ độ mặn (không được luộc nước ngọt) cho vừa chín tới rồi vớt ra để ráo nước. Sau đó đem phơi khô hoặc sấy khô theo cách thủ công hoặc bằng lò sấy trong dây chuyền công nghệ. Khi tôm đạt độ khô vừa đủ sẽ được tách vỏ bỏ đầu để lấy phần thịt. Hiện nay ở Hà Tiên đã có thêm loại sản phẩm tôm khô để nguyên con cả vỏ và đầu. Cuối cùng thành phẩm tôm khô được phân loại và đóng gói. Trong sản xuất theo công nghệ hiện đại tất cả các công đoạn trên đều do máy móc thực hiện theo một dây chuyền. Trong các công đoạn nói trên, luộc chín và phơi hoặc sấy khô rất quan trọng, quyết định chất lượng và giá trị của thành phẩm làm ra. Nếu tôm không được luộc chín tới, tôm sẽ mau bị hư, mốc không thơm mùi đặc trưng, còn luộc quá chín tôm sẽ mất độ ngọt, độ dai không ngon. Phơi hoặc sấy không đạt đủ độ khô, tôm dễ bị hư, mốc. Còn phơi hoặc sấy khô quá thì tôm sẽ bị cứng dòn, dễ vỡ nát, bạc màu giá trị kinh tế sẽ bị giảm…

Các cơ sở sản xuất tôm khô dù là hình thức thủ công gia đình hoặc quy mô công nghiệp công nghệ hiện đại đều cần các điều kiện về không gian thực hành. Theo đó, địa điểm làm nghề cần gần vùng sông, biển có đường giao thông thuận lợi cho việc đánh bắt, thu mua vận chuyển để đảm bảo chất lượng tươi sống của nguyên liệu. Sân phơi sau khi luộc phải đủ rộng tương ứng với lượng sản xuất. Sân phải đảm bảo sạch sẽ, được nện cứng bằng phẳng hoặc tráng xi măng, lát gạch. Khâu phân loại, đóng gói bảo quản và lưu trữ thành phẩm rộng thoáng và an toàn.

Hiện nay, nghề làm tôm khô vẫn được duy trì và phát triển ở các khóm, ấp ven sông biển của tỉnh Hà Tiên, thu hút và tạo công ăn việc làm cho hàng nghìn lao động, mỗi năm cung cấp cho thị trường hàng chục tấn sản phẩm. Hiện nay tôm khô là món ăn trở nên phổ biến trong các bữa ăn gia đình Việt, bởi hương vị đặc trưng, dễ chế biến được nhiều món ăn, thậm chí có thể ăn ngay khi vừa mua sản phẩm về mà không cần phải nấu lại hay chế biến cầu kỳ. Trong những ngày Tết, món tôm khô trộn cùng dưa củ kiệu hay dưa cải chua đã dần trở thành món ăn truyền thống không thể thiếu của các gia đình ở Nam Bộ.

Làng nghề làm tôm khô ở thành phố Hà Tiên

Nghề làm tôm khô ở thành phố Hà Tiên đã có từ rất lâu đời. Được làm từ nguyên liệu tôm tươi sống đánh bắt tự nhiên như tôm đất, tôm he, tôm sắt, tôm chì… từ đầm Đông Hồ và vùng biển Hà Tiên. Tôm sau khi sơ chế sẽ được đem luộc và sấy ra thành phẩm, nhờ vậy tôm luôn giữ được độ ngọt tự nhiên và mùi vị đặc trưng.

Theo nhiều người dân địa phương, chính lòng yêu nghề và ý thức gìn giữ thương hiệu của người dân nơi đây đã làm nên tôm khô với hương vị đặc trưng. Gắn bó với nghề từ đời này sang đời khác của những ngư dân và người dân xứ Hà Tiên.

Tôm khô Hà Tiên

Tàu cao tốc Côn Đảo Express Trần Đề (Sóc Trăng) – Côn Đảo

Tàu cao tốc Côn Đảo Express Trần Đề (Sóc Trăng) – Côn Đảo có thời gian hành trình ngắn nhất trên các tuyến đi Côn Đảo hiện nay chỉ 1 giờ 45 phút.

Hằng ngày, tàu Côn Đảo Express (Trưng Nhị/Trưng Trắc) sẽ khởi hành từ bến tàu cao tốc Côn Đảo Express tại đường 30 Tháng 4, ấp Cảng, thị trấn Trần Đề, huyện Trần Đề (Sóc Trăng) vào 9:00 và quay trở lại từ cảng Bến Đầm, Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu) vào lúc 12:00.

Trưng Trắc/Trưng Nhị là tàu cao tốc hai thân lớn nhất Việt Nam hiện nay, dài gần 47 m, rộng hơn 12 m. Vận tốc 35 hải lý/giờ (khoảng 65 km). Khoang VIP ở boong trên, ghế ngả 130 độ, được trang bị màn hình giải trí riêng biệt với nội dung phong phú theo tiêu chuẩn quốc tế. Khoang phổ thông có không gian rộng, sàn cách âm chống ồn và đặc biệt có hệ thống âm thanh với tai nghe không dây, tạo không gian yên tĩnh cho khách hàng. Boong ngoài trời tầng trên: sức chứa lên tới 100 người, du khách có thể chiêm ngưỡng cảnh đẹp của biển trong suốt hải trình.

Giá vé tàu Côn Đảo Express Trần Đề

Hạng vé Thứ 2 → Thứ 5 Thứ 6 → Chủ Nhật
Giá vé Eco           320.000                350.000
Trẻ em/Người cao tuổi           260.000                290.000
Giá vé VIP           500.000                500.000

(*) Giá trên đã bao gồm VAT.

Trẻ em (6-11 tuổi) và người cao tuổi (trên 60 tuổi) áp dụng giảm giá Eco theo chính sách của Công ty

-Trẻ em dưới 6 tuổi hoặc thấp hơn 1m2 trong trường hợp ngồi chung ghế với người lớn đi kèm thì được miễn phí vé lên tàu.

Đổi thông tin vé tàu đi Côn Đảo từ Trần Đề

Tất cả yêu cầu đổi thông tin hành khách trước giờ khởi hành 24 giờ đều phải trả phí đổi thông tin 10% trên giá vé niêm yết, cụ thể:

  • Vé ECO ngày trong tuần: 32.000 đồng/vé
  • Vé ECO thứ sáu và cuối tuần: 35.000 đồng/vé
  • Vé trẻ em và người cao tuổi trong tuần: 26.000 đồng/vé
  • Vé trẻ em và người cao tuổi thứ sáu và cuối tuần: 29.000 đồng/vé
  • Vé VIP: 50.000 đồng/vé

Lưu ý:

  • Khách hàng sẽ không được số tiền chênh lệch nếu giá vé mới sau thấp hơn giá vé mới trước.
  • Khách hàng phải thanh toán số tiền chênh lệch nếu giá vé mới sau cao hơn giá vé trước.
  • Các trường hợp đổi thông tin vé sau khi tàu đã khởi hành sẽ không được giải quyết và không hoàn lại tiền vé.
  • Các trường hợp phải nộp thêm chênh lệch giá vé thì khách hàng phải nộp thêm bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản.

Hủy vé tàu Côn Đảo Express tuyến Trần Đề Côn Đảo

Tất cả yêu cầu hủy vé trước giờ khởi hành 24 giờ đều phải trả phí hủy vé 20% trên giá niêm yết, cụ thể như sau:

  • Vé ECO ngày trong tuần: 64.000 đồng/vé
  • Vé ECO thứ sáu và cuối tuần: 72.000 đồng/vé
  • Vé trẻ em và người cao tuổi trong tuần: 52.000 đồng/vé
  • Vé trẻ em và người cao tuổi thứ sáu và cuối tuần: 58.000 đồng/vé
  • Vé VIP: 100.000 đồng/vé

Các yêu cầu hủy vé trong các trường hợp hủy chuyến do điều kiện bất khả kháng, ví dụ như: thời tiết, dịch bệnh (covid-19) hoặc sự cố kỹ thuật của tàu và/hoặc các thay đổi chuyến tàu của Công ty sẽ được miễn phí hủy và hoàn tiền 100% trên giá thực bán.

Hãy liên hệ trực tiếp nơi đã đặt mua vé, đó có thể là văn phòng đại diện, các đại lý, phòng vé ủy quyền của hãng tàu để thực hiện hủy vé và hoàn tiền

Để hoàn/hủy vé, hành khách cần cung cấp các thông tin đặt vé như mã code vé tàu cao tốc, hành trình đi, họ tên, ngày đi… tới email booking@taucaotoc.vn từ địa chỉ thư điện tử quý khách đã sử dụng để mua vé, hoặc liên hệ chi nhánh/ phòng vé gần nhất để được trợ giúp.

Số tiền hoàn lại sẽ được chuyển về tài khoản/thẻ quý khách đã sử dụng khi mua vé trong vòng 1 – 7 ngày làm việc. Do cần đối chiếu công nợ giữa Công ty/Đại lý/Nhân viên bán vé và Hãng tàu nên công đoạn này sẽ mất thời gian của quý khách.

Rất mong quý khách hàng thông cảm và thực hiện đúng chính sách của chúng tôi.

Những lưu ý khi đặt vé tàu Express Sóc Trăng Côn Đảo

1. Cách đi tiết kiệm thời gian nhất là 12 giờ đêm bạn khởi hành từ TP Hồ Chí Minh đi xe Phương Trang hoặc Mỹ Duyên xuống bến xe Sóc Trăng tầm khoảng 5:00 sáng. Từ bến xe Sóc Trăng bạn đi bộ qua phòng vé Tàu cao tốc Côn Đảo Express (52 Võ Thị Sáu, phường 3, TP Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng). Từ bến xe Sóc Trăng qua phòng vé Tàu cao tốc Côn Đảo Express chỉ 500m, bạn chỉ cần đi bộ là được. Shuttle bus đến đón lúc 7:00 sáng. Shuttle bus sẽ đưa bạn ra cảng Trần Đề trước 8:00 để kịp chuyến tàu ra Côn Đảo lúc 9:00 sáng.

2. Lượt về có khá nhiều xe chờ sẵn từ cảng Trần Đề về bến xe Sóc Trăng, Cần Thơ hoặc về thẳng Sài Gòn nên bạn không phải lo nhé. Tuy nhiên chủ yếu là xe ghế ngồi và chất lượng không được tốt như Phương Trang, Mỹ Duyên…., bạn nên cân nhắc.

3. Khoảng cách từ bến xe Sóc Trăng đến cảng Trần Đề khoảng 35km. Bạn sẽ mất khoảng 1 giờ đồng hồ nếu đi bằng shuttle bus của Tàu cao tốc Côn Đảo Express với giá 40.000 đồng/khách hoặc đi taxi với giá khoảng 300.000 đồng/chuyến.

4. Hiện tại mỗi ngày Tàu cao tốc Côn Đảo Express đã có 1 chuyến đi từ cảng Trần Đề (Sóc Trăng) đi Côn Đảo lúc 9:00 sáng và về từ Bến Đầm vào lúc 12:00 trưa. Do đó, bạn phải có thể linh động sắp xếp thời gian đi cho phù hợp.

5. Từ cảng Bến Đầm vào trung tâm thị trấn Côn Đảo khoảng 15km, bạn có thể đi xe điện hoặc taxi taxi trên đảo với giá vé là 40.000 đồng/người/lượt. Trọn gói thuê xe từ Cảng Bến Đầm về trung tâm Côn Đảo chỉ từ 200.000 đồng – 250.000 đồng/chuyến.

6. Nên đặt vé tàu trước 2 tuần. Đặt càng cận ngày đi càng khó mua vé. Trong trường hợp nếu không mua được vé tàu sớm, bạn có thể đến phòng vé đợi mua vé giờ chót, nhưng trường hợp này chỉ áp dụng cho số ít hoặc bất đắc dĩ vì khả năng còn vé không nhiều.

7. Ở ngay cảng Trần Đề có bãi giữ xe máy và ô tô nên những bạn di chuyển bằng xe riêng đến cảng có thể gửi xe qua đêm. Chúng tôi luôn khuyến cáo khách hàng gửi xe qua đêm tại UBND thị trấn Trần Đề (Cách bến tàu khoảng 100m, rất an toàn và thuận lợi).