Côn Đảo – Chứng tích lịch sử ghi nhận tội ác của thực dân đế quốc

Trong suốt quá trình chống thực dân, đế quốc để giành độc lập, tự do của dân tộc ta, nhà tù Côn Đảo từ cuối thế kỷ XIX luôn luôn phản ánh cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân qua các giai đoạn, bởi lẽ địch giam cầm ở đây những chiến sỹ cách mạng mà chúng cho là nguy hiểm nhất ở khắp các miền của đất nước.

Gần 45 năm trôi qua khi đất nước hoàn toàn được giải phóng, đây là quãng thời gian của gần một nửa đời người. Tuy là xa với thế hệ chúng ta hôm nay, nhưng rất gần với những người chiến sỹ cộng sản Việt Nam yêu nước chân chính năm xưa, ký ức đau thương vẫn còn trong tâm trí họ. Sự mất mát lớn lao về thể xác và tinh thần, những vết thương da thịt mặc dù đã lành theo năm tháng, nhưng vết thương lòng còn đau đớn hơn, vì ở đó, có hàng ngàn chiến sỹ cách mạng nằm lại mãi mãi không về với quê cha đất tổ.

Dưới con mắt của bọn thực dân, Côn Đảo là một nơi lý tưởng, có khả năng đáp ứng tốt nhất những yêu cầu đối với một nhà tù. Chúng cho rằng, Côn Đảo bốn bề trời biển mênh mông, cách đất liền gần trăm hải lý, không có phương tiện, người tù khó bề trốn thoát. Người ở bên ngoài cũng không có cách nào cứu thoát người tù. Ở hải đảo xa xôi này, những người cách mạng sẽ bị cắt đứt mọi quan hệ với gia đình, xã hội và quần chúng nhân dân, với đoàn thể, với phong trào, không còn hoạt động gì được.

Côn Đảo là một quần đảo hoang vắng, không như nhà tù ở các điểm dân cư lớn trong đất liền như Hỏa Lò ở Hà Nội, Khám Lớn ở Sài Gòn, cho nên ở đây có thể thi hành những biện pháp đàn áp dã man, tàn bạo nhất, người tù có đấu tranh mạnh mẽ tới đâu đi nữa cũng không thể gây được ảnh hưởng gì. Bọn cai ngục có thể thẳng tay giết hại người tù cũng không ai hay biết. Chẳng những thế, bọn thực dân còn đe dọa: “Ra Côn Đảo mà hò la cho biển nghe!”, “Ra Côn Đảo mà đấu tranh với cá mập!”. Nơi đây, dân cư thưa thớt, nguồn lợi thiên nhiên phong phú, muốn khai thác vùng đất này phải đưa lao động từ nơi khác đến. Do vậy, nếu dùng sức tù nhân thì rất thích hợp. Nhận rõ vị trí đặc biệt của Côn Đảo, thực dân Pháp đã sớm quyết định xây dựng nhà tù đầu tiên ở Đông Dương nhằm cách ly những người chống đối chính sách cai trị của thực dân…

Chúng dùng chế độ tù đày khắc nghiệt để hành hạ, giết dần, giết mòn người tù, đè bẹp ý chí phản kháng của họ, răn đe những người còn ở ngoài đời, làm cho họ khi ra tù tinh thần bạc nhượt, khiếp sợ, thân thể tàn phế, không dám làm gì để chống lại “mẫu quốc” và chế độ thống trị ở thuộc địa.

Đặt nền tảng cho nhà tù đầy tội ác của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ tiếp tục biến nơi đây thành địa ngục trần gian thời kiểu Mỹ. Nói như giáo sư Trần Văn Giàu: “Nhà tù Côn Lôn thời Pháp thuộc đã là địa ngục ở trần gian rồi, đến thời Mỹ ngụy, là địa ngục trong địa ngục, và nói như vậy cũng chưa vừa”

Ở một khía cạnh khác, đồng chí so sánh nhà tù Côn Đảo còn hơn nhà tù Hitler về sự dã man của nó: “Trong đời hoạt động cách mạng của mình, tôi đã trải qua nhiều nhà tù, trong số đó có ngục Côn Lôn. Tôi lại được đọc nhiều sách xưa nay nói về nhà tù của các vua chúa, của tư bản thực dân, của bè lũ phát xít. Như vậy tôi có khá nhiều tài liệu để so sánh các chế độ nhà tù tàn bạo, thì các nhà tù đó cái nào cũng tàn bạo, chỉ có mức tàn bạo, cách tàn bạo và mưu sâu bên trong là khác nhau… Nói ra thì có lẽ không phải, nhưng cái chết bằng hơi độc, thuốc độc, điện giật, giết một lần hàng vạn sinh linh, cái chết đó người chiến sỹ tù nhân Việt Nam mình có mấy ai sợ đâu? So với cái tàn ác ở nhà tù Côn Đảo dưới chế độ Mỹ – ngụy, thì nhà tù Hitler giống như ao cạn so với vực thẳm. Mỹ – ngụy thâm độc hơn Hitler biết bao nhiêu!”

Sự dã man đối với nhà tù Côn Đảo thời Mỹ – ngụy được mô tả khắc nghiệt hơn gấp nhiều lần so với nhà tù thời thực dân Pháp, Giáo sư kể lại: “bị đầy ra Côn Lôn (1935), khi ấy tôi từng bị tống ngay vào xà lim số 1, xà lim này rộng 3 x 3 x 1,5 mét, còng một chân. Mà trời ơi, làm sao so được với thời Mỹ – ngụy cũng trong xà lim đó, Mỹ nhốt tới 28 người, cửa đóng, lỗ thông hơi bịt kín, tù nhân lại còng tréo 2 tay 2 chân”

Đến với Côn Đảo, nơi tập trung hệ thống nhà tù khổ sai từ thời thực dân Pháp đến đế quốc Mỹ bao gồm:

Banh I: Còn được gọi các tên lao I, trại Cộng Hòa, trại 2 và sau cùng (11/1974) được gọi là trại Phú Hải xây dựng năm 1862 và chỉnh trang lại kiên cố năm 1896. Banh II: Còn gọi các tên: Lao II, trại Nhân Vị, trại 3, và sau cùng là trại Phú Sơn. Banh III: Còn gọi các tên: Lao III, Trại Bác Ái, Trại 1, và sau cùng là trại Phú Thọ. Xây dựng năm 1928, cách Banh I, Banh II khoảng 1km. Banh III phụ: Còn gọi các tên Lao III phụ, trại phụ Bác Ái, Trại 4 và cuối cùng là Trại Phú Tường. Chuồng cọp Pháp. Biệt lập chuồng bò: Trại 5: Còn gọi là trại Phú Phong. Trại 6: Còn gọi là trại Phú An. Trại 7: Còn gọi là trại Phú Bình hay “Chuồng cọp kiểu Mỹ”. Trại 8: Còn gọi là trại Phú Hưng. Trại 9: Mỹ – nguỵ đang cho đổ bê tông, đúc cột, nền thì hiệp định Pa-ri ký kết thúc nên đã bỏ dở.

Hệ thống nhà tù Côn Đảo qua 2 thời kỳ Pháp – Mỹ xây dựng tổng cộng: 127 phòng giam; 42 xà lim; 504 phòng “Biệt lập chuồng cọp”. Bên cạnh đó còn có các cơ sở tù để đày ải người tù làm lao dịch khổ sai nhằm giết dần, giết mòn sinh mạng người tù, đồng thời phục vụ toàn diện các mặt đời sống cho bộ máy hành chánh của địch. Con số tù nhân thời chống Mỹ lên cao nhất từ khoảng năm 1969 đến năm 1972 xấp xỉ 10.000 người.

Bằng nhiều thủ đoạn mị dân, thông qua các cơ sở lao động khổ sai, thực dân Pháp và ngụy quyền Côn Đảo ra sức bóc lột tù nhân, phục vụ bộ máy cai trị tù, lấy tù nuôi tù, xây dựng trại giam, làm đường xá, sân bay và các công trình quân sự. Chúng còn cho cảnh sát, trật tự tra tấn, khủng bố bằng những ngón đòn tàn bạo, truy bức trường kỳ cả thể xác lẫn tinh thần.

Về chế độ ăn uống, đặc biệt là tù chính trị ở các lao cấm cố mà trong Luận án Tiến sỹ y khoa của bác sỹ Nguyễn Minh Triết đã chỉ ra có tiêu đề là: Nhận xét về bệnh lý tại một nhà la: Thức ăn chính của tù nhân gồm: Gạo nấu lẫn nhiều tấm, thóc và sạn; Khô: thường là khô cũ, mục đắng, gọi là khô ký ninh… từ tháng 7/1968 đến tháng 11/1971 (40 tháng) người tù được ăn thịt có 6 lần; rau rất ít ỏi, chuyện dùng cỏ (cỏ thỏ, sam đất, mần trầu) hay lá cây (lá bàng, lá phượng) để ăn là chuyện bình thường của người tù… Việc hành xác và giết hại người tù vẫn chưa phải là mục đích cuối cùng của chúng. Tất cả các thủ đoạn tinh vi, thậm độc và tàn bạo nhất của Pháp, Mỹ – ngụy đều nhằm mục tiêu tiêu diệt sinh mạng chính trị người tù, vô hiệu hóa người cán bộ cách mạng.

Vượt lên trên những nỗi đau về thể xác và tinh thần không có bút mực nào tả hết được, cuộc đấu tranh anh dũng của các chiến sỹ cách mạng trong nhà tù, nhất là thời Mỹ – ngụy trước khi có Hiệp định Pa-ri đã diễn ra vô cùng quyết liệt và có sự phân biệt rõ nét của 2 thời kỳ: chống tố cộng, diệt cộng rất cực đoan theo kiểu Ngô Đình Diệm và chống các thủ đoạn tâm lý chiến, chiêu hồi thời kỳ sau Ngô Đình Diệm với sự gia tăng của cố vấn Mỹ, viện trợ Mỹ, phương thức quản lý tù nhân và phương tiện đàn áp kiểu Mỹ.

Cuộc chiến đấu bất khuất đầy dũng cảm và đầy thông minh của các chiến sỹ Côn Đảo là những trang chói lọi của lịch sử cách mạng, được nối tiếp và nhân lên trong chủ nghĩa anh hùng cách mạng rực rỡ của nhân dân ta qua kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Sự hy sinh cao cả của biết bao liệt sỹ trong cuộc chiến đấu ấy đã và đang tiếp tục khai hoa kết quả trong những thắng lợi và thành tựu của dân tộc Việt Nam. Côn Đảo ngày nay đã thay da, đổi thịt, tạo nên diện mạo mới với kinh tế – xã hội phát triển, đời sống nhân dân thật ấm no, hạnh phúc, đã trở thành dải đất thân thiết thiêng liêng, nơi ngưỡng mộ và tưởng nhớ đối với những anh hùng cách mạng của nhân dân cả nước hôm nay và mai sau…

ThS. Trần văn Hòa – Khoa lý luận cơ sở

http://truongchinhtribentre.edu.vn/

Tư liệu bài viết tổng hợp từ nguồn: Nguyển Đình Thống, Nguyễn Linh, Hồ Sĩ Hành. Lịch sử nhà tù Côn Đảo 1862-1975. Nxb tổng hợp. TP HCM-2018

Xe Mỹ Duyên Trần Đề – TP Hồ Chí Minh – Trần Đề

Xe Mỹ Duyên Trần Đề – TP Hồ Chí Minh – Trần Đề là tuyến chính hoạt động của hãng xe này vì Sóc Trăng là trụ sở chính. Xe thường xuyên đưa đón khách đi TP Hồ Chí Minh đến Trần Đề để đi Côn Đảo và ngược lại.

Các tuyến xe chính của Mỹ Duyên là Trần Đề – TP Hồ Chí Minh, Phụng Hiệp – TP Hồ Chí Minh, Sóc Trăng – TP Hồ Chí Minh và ngược lại.

Đội xe Mỹ Duyên Sài Gòn Sóc Trăng

Hệ thống xe khách MỸ DUYÊN luôn được đầu tư với những dòng xe khách mới nhất. Đảm bảo mang đến cho khách hàng những chuyến đi xa thật êm ái. Chọn xe khách MỸ DUYÊN là chọn cảm giác “Đi xe như ở nhà”

XE GIƯỜNG NẰM

  • Xe giường nằm cao cấp của MỸ DUYÊN sở hữu các tiện nghi cao cấp
  • 41 Giường nằm / xe –
  • Wifi Internet, mền, nước suối, khăn lạnh..

XE PHÒNG NẰM

  • Xe giường nằm cao cấp với hệ thống giường êm ái, dễ chịu cho mọi chuyến đi
  • 22 khoang phòng nằm / xe
  • Dài 1785 cm, ngang 670 cm

XE GHẾ NẰM

  • Xe ghế nằm MỸ DUYÊN gồm: Ghế nằmThương Gia 25 chỗ ; Ghế nằm 28 chỗ đạt tiêu chuẩn cao cấp chuẩn hàng không
  • Độ ngả tối đa: 160 độ, một hàng 3 ghế
  • Màn hình cảm ứng chạm
  • Jack tai nghe
  • Cổng sạc đa năng
  • Ghế ngả chỉnh điện cao cấp
  • Sàn được lót gỗ sang trọng.

XE GIƯỜNG NẰM 34

  • Là dòng xe mới vận hành của MỸ DUYÊN, cao cấp và dài hơn xe Giường Nằm.
  • Mỗi giường được trang bị rèm che kín đáo, cổng sạc, khay đựng nước và màn hình LCD…
  • Xe hiện có 3 phiên bản màu là màu hồng Hello Kitty, màu xanh Doreamon và màu trắng đỏ.
Xe Mỹ Duyên Trần Đề – Sóc Trăng

Giá vé xe Mỹ Duyên

HÀNH TRÌNH LOẠI XE GIÁ CƯỚC (VNĐ)
Tp Hồ Chí Minh – SÓC TRĂNG Giường nằm 150.000
Giường nằm 34 150.000
Phòng nằm 170.000
Tp Hồ Chí Minh – PHỤNG HIỆP Giường nằm 150.000
Giường nằm 34 170.000
Phòng nằm 180.000
TPHCM – ĐẠI NGÃI Giường nằm 150.000
Giường nằm 34 160.000
Phòng nằm 180.000
Tp Hồ Chí Minh – KẾ SÁCH Giường nằm 150.000
Giường nằm 34
TP Hồ Chí Minh – TRẦN ĐỀ Giường nằm 180.000
Giường nằm 34

Lưu ý: Đối với chặng dài công ty áp dụng hai mức giá, chặng ngắn giữ nguyên.

Lịch chạy xe Mỹ Duyên TP. HỒ CHÍ MINH – SÓC TRĂNG

Liên hệ đặt xe Mỹ Duyên

TRỤ SỞ CÔNG TY TPHCM: 395 KINH DƯƠNG VƯƠNG, PHƯỜNG AN LẠC, QUẬN BÌNH TÂN .TPHCM. Tổng đài: 0903.861.192 – 02862.77.55.44

Bến xe MIỀN TÂY. Địa chỉ: 395 KINH DƯƠNG VƯƠNG, P.AN LẠC, QUẬN BÌNH TÂN. Liên hệ: 0903.861.192

Bến xe Long Phú. Địa chỉ: Bến xe Long Phú. Liên hệ: 0942.909.600

Bến xe Mỹ Tú. Địa chỉ: 86 Hùng Vương, Thị Trấn Huỳnh Hữu Nghĩa. Liên hệ: 02996.57.57.57

Bến xe Trà Quýt. Địa chỉ: 61 QL1A, Ấp Xây Đá, Châu Thành, Sóc Trăng. Liên hệ: 02996.50.60.70

Bến xe Đại Ngãi. Địa chỉ: Ấp Phụng Tường 2, Xã Song Phụng, Huyện Long Phú, TP. Sóc Trăng. Liên hệ: 02996.50.50.50

Bến xe Kế Sách. Địa chỉ: Phan Văn Hùng, Ấp An Thành, Thị Trấn Kế Sách. Liên hệ: 02996.54.54.54

Bến xe Cù Lao. Liên hệ: 02996.53.53.53

VĂN PHÒNG PHỤNG HIỆP- TRẦN ĐỀ. Tổng đài: 02996.125.125 – 0293.629.76.76

  • Văn phòng Tại TRẦN ĐỀ. Địa chỉ: Khu Tái Định Cư, Ấp Đầu Giồng, Thị Trấn Trần Đề. Liên hệ: 02996.512.512
  • Văn phòng PHỤNG HIỆP( Ngã 7). Địa chỉ: Bến Xe Phụng Hiệp( Ngã 7). Liên hệ: 0293.629.76.76

Trưng Trắc và Trưng Nhị – cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40 – 43 sau công nguyên)

Trong lịch sử đánh giặc ngoại xâm, giữ gìn đất nước Việt Nam có nhiều cuộc khởi nghĩa, kháng chiến anh dũng, tiêu biểu chống ngoại xâm, giữ gìn và thống nhất đất nước, trong đó nổi bật là cuộc khởi nghĩa oanh liệt của Hai Bà Trưng.

Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai chị em sinh đôi (sinh vào ngày mồng một tháng tám năm Giáp Tuất, năm 14 sau công nguyên), là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh (người đứng đầu bộ lạc huyện Mê Linh, thuộc tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay) thuộc dòng dõi Hùng Vương. Mẹ là bà Man Thiện. Hai Bà mồ côi cha sớm nhưng được mẹ quan tâm nuôi nấng, dạy cho nghề trồng dâu, nuôi tằm, dạy con lòng yêu nước, rèn luyện sức khoẻ, rèn luyện võ nghệ. Chồng bà Trưng Trắc là Thi Sách, con trai Lạc tướng huyện Chu Diên (tỉnh Hà Tây ngày nay). Lúc bấy giờ nhà Đông Hán đang cai trị hà khắc nước Việt, viên Thái thú Tô Định là người vô cùng bạo ngược, tham lam. Hai bà cùng Thi Sách chiêu mộ nghĩa quân, chuẩn bị khởi nghĩa, nhưng Thi Sách bị Tô Định giết chết. Hận giặc hãm hại nhân dân, giết hại chồng mình, Trưng Trắc đã cùng em gái Trưng Nhị phát động cuộc khởi nghĩa ở cửa Sông Hát trên Sông Hồng (thuộc địa phận huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây) với lời thề trước giờ xuất binh:

Một xin rửa sạch nước thù

Hai xin dựng lại nghiệp xưa họ Hùng

Ba kêu oan ức lòng chồng

Bốn xin vẻn vẹn sở công lênh này

(Theo Thiên Nam ngữ lục)

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng được nhân dân khắp nơi ủng hộ, tạo thành sức mạnh như vũ bão, đánh đuổi Tô Định phải bỏ chạy về nước. Dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng, nhiều cuộc khởi nghĩa địa phương được thống nhất thành một phong trào rộng lớn từ miền xuôi đến miền núi, bao gồm cả người Việt và các dân tộc khác trong nước Âu Lạc cũ.

Chỉ trong một thời gian ngắn, Hai Bà Trưng đã đánh chiếm được 65 huyện thành, nghĩa là toàn bộ lãnh thổ nước Việt hồi đó. Cuộc khởi nghĩa thành công, đất nước được hoàn toàn độc lập. Hai bà lên làm vua, được suy tôn là Trưng Vương, đóng đô ở Mê Linh.

“Đô kỳ đóng cõi Mê Linh

Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta”

(Theo Đại Nam quốc sử diễn ca)

Hiểu rõ sự thống khổ của nhân dân, nên khi lên ngôi vua, dù chỉ trong thời gian ngắn nhưng Trưng nữ Vương đã có những quyết sách quan trọng như: Ra lệnh miễn thuế khoá cho dân hai năm.

Anh hùng dân tộc Trưng nữ Vương đã lập nên và giữ vững nền độc lập, quyền tự chủ dân tộc trong gần 3 năm. Hai Bà Trưng là biểu tượng của ý chí hiên ngang và khí phách quật cường của dân tộc ta; thể hiện truyền thống yêu nước nồng nàn của phụ nữ Việt Nam “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” trong những năm 40 sau công nguyên.

Vì vậy, hai sử gia tiền bối lỗi lạc là Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên đã có lời ca ngợi Hai Bà Trưng trong sách Đại Việt sử kí toàn thư như sau: “Trưng Trắc và Trưng Nhị là đàn bà, vậy mà hô một tiếng, các quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều nhất tề hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, xem thế cũng đủ biết hình thế nước Việt ta có thể dựng nghiệp bá vương được…”.

Nhân dân ta có rất nhiều người thuộc những vần thơ ca ngợi Hai Bà như sau:

Bà Trưng quê ở Châu Phong

Giận loài tham bạo thù chồng chẳng quên

Chị, em nặng một lời nguyền

Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân

Ngàn Tây nổi áng phong trần

Ầm ầm binh mã tới gần Long Biên

Hồng quần nhẹ bước chinh yên

Đuổi ngay Tô Định dẹp yên kinh thành.

Đô kỳ đóng ở Mê Linh

Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta

….

Sau khi Hai Bà Trưng mất, tưởng nhớ công ơn của các liệt nữ anh hùng, nhân dân nhiều địa phương đã lập đền, miếu thờ phụng Hai Bà và các tướng lĩnh của Hai Bà.

Đặc biệt, nơi kinh đô thời Trưng Nữ Vương ở xã Mê Linh, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc, nhân dân, Đảng bộ và chính quyền luôn quan tâm việc giữ gìn, tôn tạo Đền thờ Hai Bà Trưng hàng năm và duy trì lễ hội dâng hương tưởng nhớ công đức Hai Bà Trưng. Năm 1980, Đền thờ Hai Bà Trưng được xếp hạng là di tích lịch sử quốc gia đặc biệt quan trọng. Để gìn giữ, tôn tạo, mở rộng Đền tương xứng với thân thế và sự nghiệp của Hai Bà Trưng, nhằm biểu lộ sự biết ơn, trách nhiệm của thế hệ hôm nay với các bậc tiền nhân, và qua đó giáo dục truyền thống tự hào dân tộc cho các thế hệ hiện tại và tương lai, được sự đồng ý của Trung ương Đảng và Chính phủ.

Những tấm gương anh dũng của Hai Bà Trưng và các nữ tướng thời Hai Bà đã được các tầng lớp phụ nữ, nhân dân nước ta phát huy, tiếp nối thể hiện trong các cuộc khởi nghĩa, các cuộc kháng chiến anh dũng của dân tộc Việt Nam.

Theo hoilhpn.org.vn

Tàu cao tốc Trưng Trắc
Tàu cao tốc Trưng Nhị tại cảng Cầu Đá – Vũng Tàu

Miếu 5 Cô (Miếu Ngũ hành) ở Côn Đảo

Miếu 5 cô — Ngôi miếu linh thiêng nhất định phải đến tại Côn Đảo

Đến với Côn Đảo du khách không thể bỏ qua Miếu 5 cô — ngôi miếu linh thiêng mang dấu ấn tâm linh đặc biệt.

Miếu 5 cô còn được biết đến với tên gọi miếu ngũ hành Côn Đảo, được xây dựng năm 1970. Miếu được người dân Côn Đảo xây dựng và đặt tên là Miếu Ngũ Hành, được lập ra để thờ 5 vị nữ thần, cai quản 5 nghề liên quan gồm (Kim: kim khí, Mộc: cây gỗ, Thủy: nước nôi, Hỏa: củi lửa, Thổ: đất đai) nên còn có tên gọi khác là miếu 5 cô.

Miếu được người dân Côn Đảo lập nên với hi vọng các vị nữ thần chở che, phù hộ cho nhân dân, những người nông dân, ngư dân, thợ cơ khí,… được bình an sinh sống, làm ăn. Vì vậy ngôi miếu mang một ý nghĩa tâm linh quan trọng trong lòng người dân Côn Đảo, thường xuyên được thăm viếng và trùng tu hàng năm.

Và hơn hết, những minh chứng linh thiêng tại miếu ngũ hành Côn Đảo luôn khơi dậy sự tò mò của du khách du lịch hành hương từ thiện. Hàng năm vào các ngày 16, 17, 18 tháng 10 âm lịch, tại miếu Ngũ Hành tổ chức lễ tri ân các tiền bối và lễ vía Bà vô cùng sôi động, tạ ơn vì một năm chở che mưa thuận, gió hòa.

Miếu 5 cô là một trong những địa chỉ tâm linh nổi tiếng tại Côn Đảo nên du khách thường mong muốn được ghé thăm miếu để cúng lễ. Để chuẩn bị đi lễ miếu, bạn hãy chuẩn bị các đồ lễ như bánh kẹo, tiền vàng, thẻ hương, tiền đặt lễ, nến

Miếu Ngũ Hành được khởi công trùng tu vào ngày 17-05-2014 (tức ngày 19-4. Giáp Ngọ) và được hoàn thành vào ngày 27-6-2014 (tức ngày 01-6. Giáp Ngọ).

Lịch chạy tàu cao tốc Phú Quý Island tháng 4/2021

Phú Quý là một hòn đảo đẹp mà nếu du lịch Phan Thiết bạn nên ghé thăm, tham khảo lịch chạy tàu cao tốc Phú Quý Island tháng 4/2021 trên tuyến Phan Thiết – Phú Quý để hành khách tham khảo đặt vé.

Lịch chạy tàu cao tốc Phú Quý Island tháng 4/2021

Lịch chạy tàu cao tốc Vũng Tàu – Côn Đảo tháng 4/2021

“Gió tháng 3 bà già đi biển” – Vũng Tàu đi Côn Đảo biển mùa này cực êm, lịch chạy tàu cao tốc Vũng Tàu – Côn Đảo tháng 4/2021 cụ thể như sau:

Lịch chạy tàu tháng 4/2021

Tháng 4/2021, tàu cao tốc tuyến Vũng Tàu đi Côn Đảo và ngược lại sẽ được vận hành hằng ngày 02 chuyến/ngày cụ thể như sau:

  • Vũng Tàu đi Côn Đảo: 8 giờ sáng mỗi ngày tại Cảng Cầu Đá, Vũng Tàu
  • Côn Đảo về Vũng Tàu: 13 giờ chiều mỗi ngày tại Cảng Bến Đầm, Côn Đảo

Liên hệ đặt vé: 0889211234 – 0889271234 – 0889371234

Giá vé tàu cao tốc Vũng Tàu – Côn Đảo

Ngày trong tuần Giá vé Eco Trẻ em/ NCT Giá vé VIP
Thứ 2 → Thứ 5   660.000   550.000  1.200.000
Thứ 6 → Chủ Nhật   880.000   700.000  1.200.000

Giỗ Tổ Hùng Vương (20 – 22/4), Lễ 30/4 và 1/5 các tuyến tàu cao tốc Trần Đề – Côn Đảo sẽ áp dụng giá cuối tuần và Lễ tết.