Mai Linh Express sẽ chạy chuyến tàu đầu tiên Cần Thơ – Côn Đảo vào ngày 3/4/2021

Tàu cao tốc Mai Linh Express sẽ chạy chuyến tàu đầu tiên Cần Thơ – Côn Đảo vào ngày 3/4/2021, đây là những chuyến tàu thử nghiệm trong tháng 4/2021 và đã chính thức mở bán vé kể từ hôm nay.

Tàu cao tốc MLE sẽ chạy chuyến đầu tiên vào ngày 3/4 và 4/4. Lịch khai trương tàu sẽ diễn ra vào ngày 21/4 hứa hẹn mang đến cho Quý khách hàng sự hài lòng và những trải nghiệm tuyệt vời nhất

Lịch chạy thử tàu

NGÀY Tuyến Khởi hành Cảng
03/04/2021 Cần Thơ – Côn Đảo 09:00 Ninh kiều – Bến Đầm
04/04/2021 Côn Đảo – Cần Thơ 12:30 Bến Đầm – Ninh Kiều
10/04/2021 Cần Thơ – Côn Đảo 07:30 Ninh kiều – Bến Đầm
Côn Đảo – Cần Thơ 12:30 Bến Đầm – Ninh Kiều
11/04/2021 Cần Thơ – Côn Đảo 07:30 Ninh kiều – Bến Đầm
Côn Đảo – Cần Thơ 12:30 Bến Đầm – Ninh Kiều
17/04/2021 Cần Thơ – Côn Đảo 07:30 Ninh kiều – Bến Đầm
Côn Đảo – Cần Thơ 12:30 Bến Đầm – Ninh Kiều
18/04/2021 Cần Thơ – Côn Đảo 07:30 Ninh kiều – Bến Đầm
Côn Đảo – Cần Thơ 12:30 Bến Đầm – Ninh Kiều

Lưu ý: Lịch tàu có thể thay đổi theo từng thời điểm thực tế vì khách quan.

Giá vé tàu cao tốc Mai Linh Express tháng 4/2021

Hiện tại Tàu Mai Linh Express chi cung cấp các chuyến khởi hành vào Thứ bảy & Chủ nhật cho đến khi có thông báo mới, giá vé được áp dụng vào Thứ Bảy và Chủ Nhật:

Hạng ghế Thứ Bảy & Chủ Nhật
Người lớn (VNĐ/Vé) Trẻ em (VNĐ/Vé)
Phổ thông (252) 680.000 544.000
Thương gia (70) 960.000 768.000
Nguyên thủ (08) 1.200.000 960.000
  • Giá vé bao gồm: 10% VAT, bảo hiểm hành khách.
  • Dịch vụ miễn phí đi kèm: khăn lạnh, nước suối/vé.
  • Đối với hạn Thương Gia và Nguyên Thủ sẽ được phục vụ thêm một suất ăn nhẹ, trái cây, thức uống miễn phí theo Menu có sẵn.
  • Dịch vụ chăm sóc y tế cho Quý hành khách trong suốt chuyến hải trình.

Giới thiệu tàu cao tốc Mai Linh Express 01

Tàu cao tốc Mai Linh Express là thương hiệu tàu biển mới của Công ty Cổ phần Mai Linh Tây Đô thuộc Tập đoàn Mai Linh. Tàu Mai Linh Express 01 được trang bị công nghệ tiên tiến theo tiêu chuẩn quốc tế về an toàn tàu biển, tàu được lắp đặt công nghệ giảm lắc tiên tiến đến từ tập đoàn Rolls Royce Anh Quốc, giúp tàu vận hành êm ái, vượt trội. Cùng với thiết kế tinh tế, sang trọng từ thân tàu đến khoang hành khách.

Tàu du lịch cao tốc hai thân Mai Linh Express có vận tốc trung bình là 32 hải lý/giờ, nội thất được thiết kế sang trọng, rộng rãi, thoải mái với sức chứa 339 ghế, trong đó có 260 ghế hạng Phổ thông, 71 ghế hạng Thương gia, 8 ghế hạng Nguyên Thủ, cùng các dịch vụ cao cấp khác như quầy bar, phòng họp, phòng karaoke… Đội ngũ nhân viên được đào tạo bài bản, khoa học và chuyên nghiệp sẽ giúp du khách tận hưởng trọn vẹn cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp của vùng biển Nam Bộ.

Tàu cao tốc Mai Linh được đưa vào khai thác thẳng tuyến từ Bến Ninh Kiều – TP. Cần Thơ đến Cảng Bến Đầm – Côn Đảo với tần suất 02 chuyến/ngày, bắt đầu phục vụ từ ngày 21/4. Giá vé từ thứ hai – thứ năm: Ghế hạng Phổ thông 600 ngàn đồng; Ghế Thương gia 900 ngàn đồng; Ghế Nguyên Thủ 1,2 triệu đồng.

Giá vé từ thứ sáu – chủ nhật và ngày lễ: Ghế hạng Phổ thông 680 ngàn đồng; Ghế Thương gia 960 ngàn đồng; Ghế Nguyên Thủ 1,2 triệu đồng.

Ghế phổ thông tàu Mai Linh Express

Trên các chuyến tàu của Mai Linh Express sẽ ưu tiên miễn, giám giá vé đi tàu cho Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng, Anh Hùng Lực Lượng Vũ Trang Nhân Dân – miễn phí vé; Trẻ em (6-12 tuổi) giảm 20%; các cơ quan ban ngành giảm 10%.

Tàu cao tốc Mai Linh Express 01 được đưa vào khai thác nhằm mang tới cho khách hàng những trải nghiệm hoàn hảo trong các chuyến du lịch khám phá miền sông nước. Góp phần phát huy tiềm năng, thế mạnh và quảng bá văn minh đô thị sông nước Cần Thơ nói riêng và ĐBSCL nói chung.

Liên hệ đặt vé

Đại lý vé tàu cao tốc Mai Linh Express

Hotline: 0989794239 – 0889211234 – 0889371234 (Tất cả các số điện thoại đều hỗ trợ đặt vé qua ZALO)

Email: mailinh@taucaotoc.vn – booking@taucaotoc.vn

Website: https://taucaotoc.vn/ – https://www.taucaotocmailinh.com/

Ghế thương gia tàu Mai Linh Express

Ghế hạng thương gia gồm 70 ghế, được trang bị bằng những chất liệu tốt nhất. Mang đến cho Khách hàng cảm giác êm ái và thoải mái nhất.

Phòng hội nghị rộng rãi, được trang bị hệ thống âm thanh và nội thất sang trọng, chất lượng cao.Phòng hội nghị với sức chứa 10 khách.

 

Anh hùng liệt sỹ Võ Thị Sáu – Người liệt nữ trung kiên

Trong 02 cuộc kháng chiến, Đất Đỏ luôn là căn cứ địa cách mạng. Mặc dù phải đối phó với nhiều kẻ thù, từ thực dân Pháp đến đế quốc Mỹ, bọn ngụy quyền và quân chư hầu. Dù bom đạn kẻ thù cày xới, tàn phá làng quê, gieo bao nỗi đau thương chết chóc, nhưng với truyền thống yêu nước, người dân Đất Đỏ vẫn một lòng một dạ theo Đảng, quyết đấu tranh chống ách đô hộ của thực dân, đế quốc. Trong 02 cuộc kháng chiến gian khổ, ác liệt ấy, có biết bao cán bộ, chiến sĩ và đồng bào Đất Đỏ đã ngã xuống, góp phần lập nên những chiến công hiển hách, trong những chiến sỹ tiêu biểu đó có Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân- nữ liệt sĩ Võ Thị Sáu.

Chị Võ Thị Sáu sinh năm 1933, trong một gia đình nghèo ở Đất Đỏ, có 06 người con. Cha là ông Võ Văn Hợi làm nghề đánh xe ngựa; mẹ là bà Nguyễn Thị Đậu, làm nghề buôn bán nhỏ tại chợ Đất Đỏ. Tuổi thơ của chị Sáu rất lam lũ, không có những ngày đuổi bướm hái hoa, hàng ngày chị phải phụ mẹ buôn bán ở chợ, những lúc ế ẩm, chị Sáu thường thơ thẩn nhặt hoa lê- ki-ma, xâu lại thành chuỗi, đeo vào cổ- đó là đồ trang sức duy nhất thời thơ ấu của chị.

Đầu năm 1946, thực dân Pháp trở lại đánh chiếm Bà Rịa lần thứ hai, khi ấy chị Võ Thị Sáu mới 13 tuổi. Mặc dù còn nhỏ, nhưng thấy cảnh áp bức, bóc lột tàn bạo, thói ngạo mạn của bọn thực dân Pháp và bọn việt gian ác ôn, chị đã nung nấu ý chí được theo các anh tham gia cách mạng để đánh đuổi kẻ thù. Vì vậy, nhiều lần chị dám một mình băng rừng vào cứ, để thăm người anh thứ năm, cung cấp thông tin về tình hình địch cho Đội công an xung phong huyện. Có lần, khi vừa biết tin một người trong Đội công an xung phong ra đầu thú, chị tức tốc băng rừng chạy thẳng lên căn cứ, báo cho các anh để sơ tán và chuẩn bị tổ chức phục kích, nhờ đó Đội Công an xung phong đã tránh được trận càn của kẻ thù ngay trong đêm ấy.

Với bản chất quả cảm, mưu trí, nhanh nhẹn, thông thạo địa bàn, Mùa thu năm 1947, chị Sáu chính thức được tham gia cách mạng và được giao nhiệm vụ làm mật hộ viên công an xung phong Đất Đỏ. Cuối năm 1947, chị Sáu được cử đi học lớp thiếu sinh quân đầu tiên tại chiến khu Long Mỹ. Tại đây chị đã cắt tóc thề ngang vai. Mái tóc thề đó đã theo chị Sáu đi suốt chặng đường chiến đấu, cho đến khi ra pháp trường, mái tóc thề vẫn giữ vững khí tiết cách mạng, vẫn hiên ngang, ngạo nghễ trước kẻ thù và mái tóc thề của chị đã trở thành hình tượng đẹp nhất trong lòng đồng đội, trong lòng nhân dân Đất Đỏ.

Chỉ sau 2 năm tham gia hoạt động cách mạng, năm 1949, chị đã trở thành chiến sĩ trinh sát của Đội công an xung phong Đất Đỏ. Trong thời gian hoạt động, Chị luôn chủ động, sáng tạo xử trí trong mọi tình huống, luôn thay hình, đổi dạng để qua mắt bọn mật thám, có lúc chị đóng vai người đi chợ, khi thì làm thợ cấy, thợ gặt. Nơi nào Đội Công an xung phong chuẩn bị về hoạt động là chị đến trước để trinh sát địa bàn, nắm tình hình địch. Nhờ đó, Đội công an xung phong ít bị địch phục kích, đỡ tổn thất, thương vong. Trong cách đánh, chị bao giờ cũng đưa ra những ý kiến táo bạo, đánh địch ngay tại hang ổ của chúng, ngay tại nơi chúng gây tội ác. Tiêu biểu nhất là chị dùng lựu đạn phá cuộc mít tinh kỷ niệm quốc khánh Pháp tổ chức tại Đất Đỏ; ném lựu đạn làm trọng thương tên ác ôn cai tổng Tòng ngay tại văn phòng làm việc của hắn. Sau nhiều lần tìm diệt bọn thực dân Pháp và việt gian ác ôn, địch vô cùng lo sợ và căm tức Đội công an xung phong, mà tiên phong là chị Võ Thị Sáu, nên chúng ra sức truy lùng ráo riết để bắt cho được chị.

Tháng 12 năm 1949, đơn vị của chị được giao nhiệm vụ tiêu diệt tên cả Suốt và cả Đây. Chị Sáu đề xuất phương án tiêu diệt hai tên này ngay tại chợ Đất Đỏ. Trong phiên chợ Tết năm Canh Dần 1950, chị Sáu đã len lõi vào dòng người, theo sát cả Suốt và cả Đây đang cướp giật hàng bán tết của bà con, khi thời cơ thuận lợi, chị ném lựu đạn tiêu diệt hai tên ác ôn, làm bị thương các tên lính khác. Trận này, mặc dù đã được đồng đội nổ lực hỗ trợ, tuy nhiên chị Sáu đã bị bọn lính bắt giữ.

Sau ba ngày bị bắt, tra tấn tại bót Đất Đỏ, bọn ác ôn chuyển chị về khám Bà Rịa. Suốt hơn ba tháng trời, với nhiều cực hình tra tấn dã man, thân hình mãnh mai của Chị đầy thương tích, nhưng kẻ thù không lấy được một lời khai báo nào của Chị. Đến tháng 4/1950, chúng chuyển Chị về giam giữ ở khám Chí Hòa, Sài Gòn. Mặc dù đã bị địch tiếp tục, tra tấn rất dã man, nhưng chị Sáu vẫn không khuất phục, cùng các chị trong khám đấu tranh không khoan nhượng với kẻ thù. Trong trại giam, chị Sáu được các chị truyền đạt kinh nghiệm sống trong tù, giữ vững tinh thần lạc quan, kiên trì, vững chí. Tin tưởng vào sự thắng lợi của cách mạng, Chị Sáu còn tích cực tham gia học văn hóa, học hát, học múa, học thêu thùa.

Một năm sau- năm 1951, thực dân Pháp đưa Chị ra xét xử trước Tòa án Binh và kết án tử hình. Nghe tin dữ, mẹ của chị Sáu đau điếng, khóc cạn nước mắt. Bà quyết định dò đường từ quê lên Sài Gòn để tìm gặp cho được đứa con gái yêu thương lần cuối. Sau hơn 01 năm bị tra tấn tù đày, khi gặp lại mẹ, lần đầu tiên chị Sáu bật khóc, nước mắt của chị ướt đẩm trên vai mẹ, vì chị hiểu rằng, đây là lần cuối cùng được nhìn người mẹ hiền thân yêu, người mẹ đã sớm hôm tần tảo nuôi anh em của chị lớn khôn.

Bản án tử hình đã ban, nhưng thực dân Pháp không dám xử bắn chị Sáu tại Sài Gòn, nên chúng âm mưu lập kế hoạch đưa chị ra Côn Đảo. Để tránh dư luận, báo chí, vào ngày 21/01/1952, khi màn đêm còn bao phủ khắp trời đất, bọn lính Pháp còng tay chị, âm thầm đưa xuống tàu tại bến Bạch Đằng. Áp giải chị Sáu- một cô gái mãnh khảnh, tay chân bị xiềng xích, có cả một tiểu đội lính lê dương mũ đỏ và bọn lính chuyên nhận lệnh hành quyết mặt mày đần đần sát khí. Trên chuyến tàu hôm đó còn có 3 tử tù và 40 bạn tù khác. Chị Sáu là người phụ nữ duy nhất, trẻ tuổi nhất trong đoàn tù hôm đó.

Đến Côn Đảo, chị Sáu bị cách ly với những người tù khác và bị giam ở xà lim Sở Cò. Bọn cai ngục dự định đến ngày mốt sẽ đưa chị ra hành quyết. Trưa hôm sau, ngày 22/1/1952, người tù làm bồi của Sở Cò đưa cơm vào xà lim. Anh ta chuyển lời chào của Đảo ủy và liên đoàn tù nhân đến chị Sáu, động viên chị nêu cao khí tiết trước kẻ thù và trước cái chết. Chị Sáu xúc động trả lời: Các anh chị yên tâm, em đã chọn theo con đường chiến đấu cho độc lập, tự do của dân tộc, thì em cũng biết chọn cho mình cái chết xứng đáng. Em gửi lời chào hết các anh chị!

Đến chiều hôm đó, chị Sáu xin nước để tắm gội. Người bồi hỏi chị cần gì nữa không? Chị nói: Chị ao ước được ra sân một lát, để ngắm trời đất quê hương mình. Lời đề nghị của chị được tên Cò cai quản đồng ý và cho chị ra sân 10 phút.

Tối hôm đó, chị Sáu không ngủ, chị thao thức và hát suốt đêm. Những bài hát về cách mạng mà chị đã học được ở khám Chí Hòa. Cũng trong đêm đó, bên các khám tù, Ban Chấp hành của các khu đồng loạt phổ biến tiểu sử tóm tắt Võ Thị Sáu, viết đơn tố cáo cuộc hành hình phi pháp của Thực dân Pháp. Còn những người tù làm thợ hồ thì bí mật bàn xong phương án đúc tấm bia, để kịp đặt lên ngôi mộ của chị Sáu vào ngày mai.

04 giờ sáng ngày 23/01/1952, nhằm ngày 27 tháng chạp năm Tân Mão, lúc trời còn tối sẫm, sương trời giăng lạnh, bọn thực dân Pháp và cai ngục đã lén lúc đưa chị ra Hàng Dương để xử bắn. Mặc dù cận kề bên cái chết, nhưng chị Sáu không cho Viên cố đạo rửa tội. Chị nói: chính thực dân Pháp xâm lược mới là kẻ có tội với đất nước, với dân tộc Việt Nam; Chị cũng yêu cầu không bịt mắt, để Chị được ngắm nhìn đất nước của mình lần cuối cùng. Chị nhìn khắp đất trời, núi non, nghe tiếng sóng biển cả, rồi Chị cất cao tiếng hát, bài Tiến quân ca. Tiếng hát của chị như vang cả núi rừng, đất trời Côn Đảo. Hết bài hát, Chị nhìn thẳng vào những tên đao phủ đang run rẩy giương súng. Chị Sáu hô vang: Đả đảo thực dân Pháp, Việt Nam độc lập muôn năm, Hồ Chủ tịch muôn năm.

Sau lời hô của Chị là những tiếng súng nổ chệch choạng, những tên đao phủ nhắm mắt bóp cò, hai vệt máu từ vai và sườn của chị tuôn đỏ. Chị vẫn tiếp tục hát cho đến khi tên đội trưởng bước đến sát bên chị bóp cò. Lúc đó, hơn 2000 tù nhân từ phía các khám tù đồng thanh hô vang: Đả đảo thực dân Pháp, Đả đảo hành hình, Tinh thần Võ Thị Sáu bất diệt.

Chị Sáu hy sinh trong lúc tuổi đời còn rất trẻ, thời gian tham gia cách mạng chưa nhiều, nhưng hình ảnh hiên ngang, bất khuất đứng trước họng súng của kẻ thù và những huyền thoại về chị Sáu vẫn luôn sống mãi với thời gian, mãi mãi ghi sâu vào tâm khảm của biết bao bạn tù nơi Côn Đảo. Sự hy sinh của Chị đã để lại biết bao niềm tiếc thương vô hạn của đồng chí, đồng đội và đồng bào. Tinh thần đấu tranh và hy sinh cao cả của Chị là lời tố cáo đanh thép đối với sự áp bức, bốc lột tàn bạo, dã man và âm mưu hèn hạ của chế độ thực dân Pháp lúc bấy giờ. Với những chiến công và tinh thần hy sinh anh dũng, chị Võ Thị Sáu đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khen tặng sáu chữ vàng: “Sống anh dũng, chết vẻ vang “; ngày 02/08/1993, Chị được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Chị Võ Thị Sáu đã ra đi, nhưng tinh thần bất diệt của chị vẫn sống mãi trong mỗi người chúng ta. Tên của chị được nhắc đến bằng tất cả sự kính trọng, và tên của Chị trở thành tên đường, tên trường, tên đoàn, tên đội, tên của các đơn vị lực lượng vũ trang khắp mọi miền đất nước. Gương chiến đấu, hy sinh anh dũng của chị đã góp phần làm nên trang sử cách mạng hào hùng của dân tộc, làm rạng rỡ cho quê hương, đất nước. Chị đã thắp cho tuổi trẻ ngọn đuốc sáng ngời tình yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào, đồng chí./.

Đặc điểm tập tính của loài rùa

Rùa là động vật lớn chậm, quá trình sinh trưồng liên quan chật đến điều kiện môi trường như: thời tiết, nhiệt độ, chất lượng thức ăn. Rùa nuôi 2 năm thì sẽ lớn được 300 – 400g. Có nguồn thức ăn đầy đủ và nuôi có kinh nghiệm có khi thì rùa được 500 – 600g/con.

Đặc điểm chung của loài rùa

Đặc tính đi kiếm ăn

Ở môi trường tự nhiên rùa ăn chủ yếu các động vật như: động vật phù du, công trùng, tôm tép, cua, cá. Còn khi nuôi rùa thích ăn các con vật đã bắt đầu ươn thối, lúc ăn rùa thường tranh cướp mồi, có khi ăn cả cám, bắp, khoai lang…

Chúng ăn khỏe vào mùa hè, lượng thức ăn bằng 5 – 10% trọng lượng thân. Còn vào mùa đông tháng 12 – 3 thời tiết lạnh rét thì lượng thức ăn chỉ bằng 3-5% trọng lượng của thân.

Đặc biệt, rùa có khả năng chịu đói, không có hành vi tấn công kẻ thù, lúc gặp địch hại chúng chỉ trốn vào trong hang hay lặn xuống nước, chui vào bụi rậm, co rụt đầu lại.

Quá trình sinh trưởng của rùa

Rùa là động vật lớn chậm, quá trình sinh trưồng liên quan chật đến điều kiện môi trường như: thời tiết, nhiệt độ, chất lượng thức ăn…

Rùa nuôi 2 năm thì sẽ lớn được 300 – 400g. Có nguồn thức ăn đầy đủ và nuôi có kinh nghiệm có khi thì rùa được 500 – 600g/con.

Vào thời điểm từ tháng 4 – 11 là thời kỳ rùa lớn nhanh.

Trong điều kiện nuôi cho rùa ăn bằng cá mè băm nhỏ, ở nhiệt độ 25 – 28°c, cõ nuôi 100g/con, rùa có thể tăng trọng 28g/con/tháng.

Khi nhiệt độ xuống thấp dưới 10°c, thì sức ăn của rùa giảm, rùa sính trưởng chậm.

Hơn nữa, trong cùng điều kiện nuôi dưỡng thì con cái sẽ lón nhanh hơn con đực.

Quá trình sinh sản của rùa

Rùa là loài đẻ trứng trên cạn, thụ tinh trong. Đặc biệt, loài rùa có thể kéo dài thòi gian thụ tinh tới 6 tháng, nên khi cho rùa đẻ thì tỷ lệ con đực thường ít hơn con cái.
Mùa sinh sản chính của rùa là vào dịp cuối xuân đầu thu.

Đặc biệt rùa đẻ nhiều vào những ngày mưa to, có sấm chớp nhiều. Vì vậy, muôn tìm trứng rùa chỉ cần đi ven các bãi sông, ven đầm hồ, ao thấy rõ đất mâi và các vết móng đào đất lấp ổ trứng mới đẻ của rùa cái, lấy que nứa nhẹ nhàng lật những lớp đất mỏng phủ phía trên, sẽ thấy lỗ nhỏ, đường kính miệng 4 – 5cm, sâu 10 – 15cm. Trứng rùa được xếp lần lượt từ đáy lên miệng lỗ, lúc mới đẻ trứng thường dính vào nhau, vỏ hòi mềm.

Khi đẻ xong rùa bò xuống ỏ nơi gần nhất đê nghỉ và canh giữ, nhân dân ta thường nói là rùa “ấp bóng”.

Một con rùa nặng 2.000g mỗi lứa đẻ được 10 – 15 quả trứng.

Rùa mẹ đẻ sau 5 – 7 ngày lại tiếp tục giao phôi.

Rùa 4.000 – õ.OOOg có thể đẻ 4 – 5 lứa trong 1 năm. (Khi mổ một con rùa nặng 350g có khoảng 400 trứng non).

Thài gian rùa đẻ ỏ miền Bắc từ tháng 4 – 9, đẻ nhiều nhất vào các tháng 5, 6, 7, đôi khi rùa đẻ đến hết tháng 10 dương lịch.

Đường kính của trứng cỡ lốn 17 – 20mm, nặng 6 – 6,5g/quả.

Nhiệt độ đẻ thích hợp cho rùa là: 25 – 32°c.

Một sô đặc điểm đặc biệt của rùa

Rùa là động vật có thể thay đổi thân nhiệt, nhiệt độ thân của rùa thay đổi từ từ và thường theo sau nhiệt độ của không khí.

Chúng thưòng sông ở đáy sông, suối, đầm, hồ, ao… lặn giỏi, có thê bơi ở đáy nước hàng giờ nhò vùng họng của rùa có nhiêu mạch máu. Rùa bò nhanh và đi xa vượt qua đê vào đầm hồ, hay từ ao này sang ao khác.

Hơn nữa, rùa là loài phàm ăn nhưng chậm lớn. Chúng thở bằng phổi, sông ỏ dưới nước là chính, thích chui rúc vào các hang hốc ở bờ kè đá, chúng thường tập trung ỏ các đoạn sông tiếp giáp các cửa kênh, rạch dẫn nước vào đồng ruộng. Khi ban đêm yên tĩnh, rùa hay lên bò, còn ban ngày rùa nó nhô đầu lên mặt nưốc, có khi bò lên bờ.

Loài rùa có tính hung dữ như nhiều loài ăn thịt khác, nhưng lại nhút nhát, rùa có thể thường chạy chôn khi nghe có tiếng động hay bóng người và súc vật qua lại. Khi đói có thê chúng ăn thịt lẫn nhau, có khi một con bị thưdng cháy máu thì các con khác xúm lại cắn xé một cách tàn bạo.

Tập tính của loài rùa

Loài rùa rất trường thọ. nhất là rùa biển, nêu ỏ môi trường thuận lợi chúng có thể sông vài trăm năm. Có một nông dân ỏ Triết Giang (Trung Quốc) bắt được một con rùa lạ ờ núi Tiên Nham. Theo kết luận của một sô” nhà chuyên môn thì con rùa này có tuổi trên dưới 800 năm.

Còn theo một cuốn sách cổ của Trung Quốc thì nưóc Sở có con rùa khi chết đạt tới 3000 năm tuổi. Rùa sống lâu nhờ cơ thể có cấu tạo đặc biệt (Sự phân chia tê bào nhiều hơn người, tim rùa khi tách khỏi cơ thể vẫn hoạt động 48 giờ, bộ phận hô hấp khác thường và đặc biệt chúng có khả năng nhịn àn).

Rùa chịu đói rất giỏi: Loài rùa có đặc tính này là do chúng bị trường kỳ thiếu thức ãn tạo thành, đo chậm chạp nên rùa kiếm mồi rất khó khăn. Do đó, khi thuận lợi chúng sẽ ăn nhiều để tạo nên nguồn năng lượng dự trữ dồi dào cung cấp cho cơ thể khi đói. Chúng nằm im thời gian dài, không cử động, khiến cho hoạt động chuyển hóa giảm thấp đến mức nhỏ nhất.

Ngoài ra, nhiệt độ trong có thể chúng có sự biến hóa tuỳ theo thay đổi của nhiệt độ môi trường xung quanh, không cần tôn năng lượng để duy trì nhiệt độ ổn định. Ngày 1/8/1993, tại Thẩm Dương – Trung Quốc, khi người dân đào nền một ngôi nhà thấy một hộp gỗ vuông nhôt một con rùa. Lúc đầu, rùa nàm yên, khoảng 5 giờ sau. nó bat đáu cứ động và bò đi. Khi kiểm tra, tìm hiểu thì mối rỏ rằng người chủ của ngôi nnà này do mè tín nên khi xây nhà cách đây 60 năm đã chọn con rùa đế làm “vật trấn yêu”. Như vậy, khả năng nhịn đói trong thời gian dài cua rùa rất giỏi.

Mai rùa rất cứng: Do sự thay đổi của khí hậu và qua một quy trình hình thành, mai của rùa trỏ nên rắn chắc nhằm bảo vệ ngũ tạng và tránh được sự thuỷ phân. Vì vậy, khi bị nguy hiểm, X’ùa co đầu, đuôi, bôn chân vào dưới mai để phòng vệ. Tuy nhiên, cũng có loài rùa mai mềm.

Nước mắt của rùa: Khi bắt rùa biển, người ta có cảm tưởng rùa khóc vì nước mắt của nó rơi thành giọt. Đây chính là hiện tượng bài tiết lượng muối quá nhiều trong cơ thể rùa. Do phải sông lâu dài trong nước biển, nên cơ thể rùa có nhiều muối để thích nghi vối môi trường sống, còn khi môì trường sống thay đổi, chúng phải thải trừ bớt muôi.

Hình thức đẻ trứng của rùa: Rùa thường đẻ trứng bằng cách bới cát hoặc bùn để vùi trứng trong đó. Tùy theo mỗi loài mà sô trứng có thê từ 10 – 100 quả. Những quả trứng này nhò sức nóng mặt trời, ấp nở thành rùa con. Vừa nỏ ra, chúng liền tìm cách bò xuống nước (tý lệ sống sót rất thấp, chi từ 1 – 10% nếu không có sự chăm sóc của con người).

Hơn nữa, nhiệt độ môi trường còn có thể quyết định giối tính của rùa con. Qua nghiên cứu cho thấy: 0 nhiệt độ 27,5°c sẽ nở ra rùa đực, còn ở nhiệt độ cao hơn thì nở ra rùa cái.

Loài rùa có khả năng tìm về nơi sinh ra: 0 Trung Quốc, có con rùa sau 40 năm, qua 10 lần phóng sinh, mỗi lần ở một nơi khác xa nhau và ở xa chốn cũ nhưng cả 10 lần nó đều trở lại quê xưa. Do chủ nhân có khắc trên mai của con rùa này năm thả và tên người chủ nên dễ nhận ra và được giao đúng cho ngưòi thả. Đây là hành vi có tính chất bản năng của loài vật do ảnh hưởng của môi trường sông như: độ ẩm, ánh sáng, khí hậu, nguồn thức ăn…

NTL (Theo NXB Thời đại)

Tuần lễ Ẩm thực Món ngon Phố biển Vũng Tàu diễn ra từ ngày 24/4 đến 2/5

Đây là thông tin được đưa ra tại cuộc họp giữa UBND TP Vũng Tàu và Công ty CP Ngôi sao Biển Sài Gòn về “Tuần lễ món ngon phố biển Vũng Tàu 2021”, chiều 24/3.

Theo đó, từ ngày 24/4 đến ngày 2/5 sẽ diễn ra các hoạt động của “Tuần lễ món ngon phố biển Vũng Tàu 2021” tại tuyến đường Quang Trung (đoạn từ đường Bacu đến đường Trương Công Định), phường 1, TP Vũng Tàu. Trong đó có 108 gian hàng trưng bày và phục vụ khách tham quan thưởng thức các món ngon, đặc sản của Bà Rịa – Vũng Tàu và các vùng miền cả nước và một số một số món ngon tiêu biểu của nước ngoài.

Trong “Tuần lễ Món ngon phố biển Vũng Tàu 2021- Vung Tau Taste Week 2021” diễn ra từ ngày 24/4 đến 2/5 sẽ có 4 hội thi gồm: chế biến món ăn, cắt tỉa rau củ quả, bartender và trang trí, thiết kế gian hàng. Trong đó, thi chế biến món ăn có chủ đề “Quà tặng của biển” diễn ra lúc 17 giờ ngày 26/4; thi cắt tỉa rau củ quả chủ đề “Quà tặng của thiên nhiên” lúc 16 giờ ngày 25/4; thi bartender biểu diễn pha chế cochtail chủ đề “Biển hát” lúc 19 giờ ngày 30/4. Riêng phần chấm giải thiết kế, trang trí gian hàng sẽ diễn ra trong ngày 26/4. Với mỗi nội dung thi, BTC sẽ trao giải các giải nhất, nhì, ba và khuyến khích.

Theo BTC Vung Tau Taste Week 2021, các hội thi là cơ hội cho người đam mê nghệ thuật nấu ăn trình diễn kỹ năng nghề và sự sáng tạo để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật đẹp mắt mãn nhãn người xem. Người dự thi phải thuyết trình ý nghĩa tác phẩm, món ăn dự thi. Cá nhân, tổ chức đăng ký dự thi theo mẫu do BTC cung cấp. Thời gian nhận đăng ký dự thi đến hết ngày 20/4.

Báo BRVT điện tử

Những người vén màn bí mật “chuồng cọp” Côn Đảo

Ngày 17-7-1970, những bức ảnh chụp tại khu “chuồng cọp” – nhà tù Côn Đảo đăng trên tạp chí Life khiến cả thế giới bàng hoàng trước một nhà tù với đủ hình thức đọa đày man rợ những tù nhân chính trị, nơi được mệnh danh là “địa ngục trần gian” đã tồn tại bí mật trong nhiều năm trời.

Đằng sau những bức ảnh gây chấn động dư luận thế giới này, là câu chuyện hết sức cảm động về tình hữu nghị của những người yêu nước Việt Nam và phản chiến Mỹ, những sứ giả đấu tranh cho hòa bình từ 2 chiến tuyến được lưu giữ suốt 47 năm qua…

Năm 1940, người Pháp đã xây dựng một khu trại giam giấu kín tại Côn Đảo với các phòng nhốt người vô cùng chật hẹp, nơi người tù ăn, ngủ, tiểu, đại tiện chung một chỗ, bên trên là song sắt và hành lang đi lại dành cho những tên cai ngục theo dõi tù nhân, được gọi là khu “chuồng cọp”. Đây là nơi biệt giam khắc nghiệt nhất. Người tù bị cùm chân và phải nằm trên nền xi măng ẩm thấp, điều kiện vệ sinh và ăn uống tồi tệ, thường xuyên bị tra tấn. Trên hành lang “chuồng cọp” luôn có những thùng vôi, nước. Nếu tù nhân la hét và chống đối sẽ bị lính canh vém vôi bột xuống mù mịt và dội nước để tra tấn.

“Chuồng cọp” ở nhà tù Côn Đảo bao gồm 120 phòng biệt giam, chia làm 2 khu, mỗi khu 60 phòng. Nơi đây thực dân Pháp đã giam giữ những người cộng sản, những người ái quốc chống lại chính phủ thuộc địa; sau đó được Mỹ và chính quyền Việt Nam cộng hòa sử dụng để giam cầm những người tù chính trị trong cuộc chiến chống Mỹ tại Việt Nam. Ngoài những tên cai ngục, không ai được biết đến bí mật của khu “chuồng cọp”. Những tù nhân được đưa vào đó, không mấy ai có cơ may sống sót trở về, vì thế trong suốt thời gian dài, thế giới bên ngoài chỉ nghe đồn về nhà ngục kiểu Trung cổ này chứ chưa ai đưa ra được bằng chứng về sự tồn tại của nó.

Những người vén màn bí mật “chuồng cọp” Côn Đảo

Nhân chứng lịch sử

Tôi may mắn được gặp ông Cao Nguyên Lợi, cựu tù chính trị Côn Đảo, nhân chứng lịch sử trong vụ việc phanh phui bí mật “chuồng cọp” nhà tù Côn Đảo đăng trên Tạp chí Life 47 năm trước tại buổi giới thiệu cuốn sách “Tù chính trị câu lưu Côn Đảo 1957-1975 từ thực tiễn nhìn lại” (NXB QĐND phát hành năm 2017 – tái bản lần thứ ba) do Trung tâm Giáo dục truyền thống và lịch sử Việt Nam phối hợp Ban liên lạc tù chính trị Côn Đảo tổ chức sáng 18-8 tại Hà Nội.

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, từ một sinh viên đấu tranh mạnh mẽ cho hòa bình tại miền Nam Việt Nam bị chính quyền Sài Gòn bắt giam và đọa đày tại “chuồng cọp” Côn Đảo, giờ đây, mái tóc người cựu tù chính trị đã bạc trắng. Song trí tuệ của ông vẫn minh mẫn và đặc biệt, ông luôn truyền cảm hứng cho những người xung quanh bởi ý chí mạnh mẽ, tinh thần lạc quan và lòng nhân ái, yêu chuộng hòa bình tha thiết.

Sự xuất hiện của cựu tù chính trị Cao Nguyên Lợi với những tấm hình được đăng trên Tạp chí Life tại buổi giới thiệu cuốn sách đã khiến mọi người hết sức xúc động. Ông Lợi đã giữ và luôn mang theo những tấm hình này từ hàng chục năm nay như những kỷ vật thiêng liêng bởi đây là chứng tích phanh phui vụ “chuồng cọp” Côn Đảo trước dư luận quốc tế mà ông là người tham gia với vai trò thiết kế ý tưởng và kế hoạch hành động.

Khởi điểm của sự kiện “vén màn bí mật “chuồng cọp” nhà tù Côn Đảo” bắt đầu từ cuối năm 1969 – đầu năm 1970, ở Sài Gòn liên tiếp xảy ra các cuộc biểu tình yêu cầu trả tự do cho các học sinh, sinh viên đang bị giam ở Côn Đảo. Trước áp lực này, ngày 25-5-1970, nhà cầm quyền buộc phải thả một số học sinh, sinh viên bị giam ở “chuồng cọp”, trong đó có ông Cao Nguyên Lợi. Nhờ tấm bản đồ ông Lợi vẽ khi ra khỏi “chuồng cọp” mà thế giới biết được sự tồn tại ở một nơi mà ở đó con người bị tước đoạt mọi quyền làm người.

Ông Cao Nguyên Lợi dẫn dắt chúng tôi tới câu chuyện tấm bản đồ “chuồng cọp” bằng một tấm ảnh đen trắng chụp ảnh mẹ ông – bà Dương Thị Sen, một người đàn bà bán vải tại Đà Lạt vào năm 1970 đã lặn lội ra Côn Đảo thăm con khi ông Lợi đang bị giam tại khu “chuồng cọp”.

Đây là một tình huống hiếm có, liên quan đến chính trường Sài Gòn thời ấy. Mà theo ông Lợi thì đây là chuyến thăm viếng đặc biệt chưa từng có bởi con từ “chuồng cọp” lên thăm mẹ, đó là một chuyện lạ lùng bởi về nguyên tắc, những người bị kỷ luật phải ở “chuồng cọp” thì không được ai thăm cả. Vậy mà vì sao ông Lợi lại từ “chuồng cọp” được ra thăm mẹ và chuyển tin tức từ “chuồng cọp” ra ngoài?

Đầu năm 1970, trong một buổi đối thoại với nội các Việt Nam cộng hòa, chị Tô Thị Thủy – Chủ tịch Hội Sinh viên Đại học Sư phạm (bạn gái của Cao Nguyên Lợi – người đang bị giam giữ tại khu “chuồng cọp” Côn Đảo do tham gia phong trào chống chiến tranh của sinh viên, sau này trở thành vợ của ông Lợi) đã yêu cầu nhà cầm quyền phải thả ngay những sinh viên bị giam giữ tại “chuồng cọp”.

Thủ tướng Việt Nam cộng hòa lúc đó là Trần Thiện Khiêm tuyên bố: Ở Côn Đảo không hề giam học sinh, sinh viên, nếu các anh chị tìm thấy danh sách, chứng cứ có học sinh, sinh viên bị giam giữ tại Côn Đảo, tôi sẽ ra lệnh thả ngay lập tức.

Bắt thóp tuyên bố này của Trần Thiện Khiêm, chị Tô Thị Thủy đã vận động bà Dương Thị Sen làm đơn xin thăm con là sinh viên Cao Nguyên Lợi đang bị giam ở khu “chuồng cọp” để nắm thông tin. Vậy là không quản khó khăn, gian khổ, mặc dù lúc đó đang mùa bão nhưng vì thương con, bà Dương Thị Sen đã bằng mọi cách thu xếp chuyến ra Côn Đảo thăm con.

Để có bức hình chụp làm bằng chứng về việc Cao Nguyên Lợi đang bị giam ở “chuồng cọp” Côn Đảo, bà Dương Thị Sen đã sắp xếp một cách rất thông minh. Khu vực bà Sen được phép thăm con là nhà tiền chế, phía trước là biển có tàu neo đậu. Bà Sen đã chuẩn bị trước một chiếc máy ảnh của chị gái ông Lợi rồi nhờ một người trên tàu chụp hộ.

Theo kế hoạch, khi ông Lợi bước ra cạnh mẹ trước nhà tiền chế, người trên tàu lập tức bấm hình. Khi bà Sen lên tàu, họ giao lại chiếc máy ảnh. Theo ông Lợi, tấm hình không được nét lắm, cái máy chụp ảnh khi đó chỉ bấm được vài ba tấm mà thôi, nhưng có giá trị cực quý giá. Tấm hình này bà Sen đã mang về Sài Gòn, đưa cho chị Tô Thị Thủy và đó là một bằng chứng quan trọng để chứng minh rằng một người mẹ ra thăm con là sinh viên đang bị giam giữ ở “chuồng cọp” với bản án chỉ 3 năm.

Cũng thông qua người mẹ, Cao Nguyên Lợi nhận được thông điệp từ đất liền rằng cần phải có chứng cứ xác thực về những sinh viên đang bị giam giữ ở “chuồng cọp” Côn Đảo. Cao Nguyên Lợi đã thêu tên những học sinh, sinh viên lên một chiếc khăn gửi mẹ chuyển về, như một món quà tặng người yêu. Thêu được tên 5 người thì hết chỉ.

Chiếc khăn và bức ảnh được chuyển đến chị Tô Thị Thủy. Với chứng cứ xác thực trong tay, Hội Sinh viên Đại học Sư phạm đã gửi yêu sách đến thủ tướng Trần Thiện Khiêm. Kết quả là Cao Nguyên Lợi và 4 học sinh, sinh viên khác được trả tự do sáng 25-5-1970.

Là một người rất thông minh, những lần được dẫn giải từ “chuồng cọp” ra thăm mẹ và lần đưa từ “chuồng cọp” ra ngoài để trả tự do, Cao Nguyên Lợi đã tranh thủ quan sát, ghi nhớ đường đi lối lại trong đầu, để rồi ông vẽ lại và hướng dẫn một cách chính xác cho Tom Harkin và Don Luce sau này khi họ ra Côn Đảo, vén bức màn bí mật về “chuồng cọp” – nơi được mệnh danh là nhà tù trong nhà tù, nơi địa ngục trần gian đọa đày biết bao con người đấu tranh cho hòa bình, tự do.

Cuộc gặp gỡ định mệnh

Lại nói về Cao Nguyên Lợi. Sau khi thoát khỏi ngục tù, ông đã ở lại Sài Gòn đấu tranh giữ thế hợp pháp, tố cáo nhà cầm quyền bắt giam mình vô cớ, tố cáo chế độ đày ải man rợ ở “chuồng cọp” Côn Đảo. Nhờ hậu thuẫn của dân biểu Đinh Văn Đệ, bản tường trình của 5 sinh viên, học sinh về một địa ngục có thật tại “chuồng cọp” Côn Đảo do Cao Nguyên Lợi viết và trình bày trước liên ủy ban nội vụ – tư pháp định chế – xây dựng nông thôn của hạ nghị viện Việt Nam cộng hòa, phiên họp ngày 19-6-1970 đã làm nóng chính trường Sài Gòn.

Bản tường trình được in rô-nê-ô, phân phát trong hội nghị và báo giới. Nhà báo Don Luce đã tiếp xúc với Cao Nguyên Lợi và biết thêm nhiều chuyện kinh khủng ở “chuồng cọp”.

Don Luce tốt nghiệp cử nhân kinh tế nông nghiệp, thạc sỹ phát triển nông nghiệp, là thư ký Hội đồng Nhà thờ thế giới, Giám đốc Cơ quan tình nguyện Quốc tế ở Việt Nam từ tháng 11-1958. Don Luce phục vụ 13 năm tại Việt Nam như một nhà thiện nguyện, một hiệp sĩ bảo vệ người yếu thế. Ngoài công việc từ thiện, ông còn viết sách, sản xuất phim truyền hình và viết báo cho New York Time, Washington post…

Sau khi gặp gỡ, Cao Nguyên Lợi và Don Luce đã thiết kế ý tưởng chuyến đi ra Côn Đảo để phanh phui sự thật “chuồng cọp”. Nhưng ai sẽ là người thu xếp được chuyến đi này?

Cơ hội đã đến khi tháng 6-1970, một ủy ban điều tra của Quốc hội Mỹ đã đến Sài Gòn để tìm hiểu việc sử dụng các khoản viện trợ của Mỹ cho Nam Việt Nam. Trợ lý đoàn là một sinh viên luật còn trẻ tên là Tom Harkin. Trong quá trình chuẩn bị tài liệu cho chuyến đi, Tom đã đọc cuốn sách của Don Luce có tựa đề “Việt Nam: Những tiếng nói chưa được biết đến” (Vietnam: The unheard voices). Khi đến Sài Gòn, Tom Harkin đã gặp Don Luce. Don Luce hỏi ngay: “Ông đã nghe về “chuồng cọp” bao giờ chưa? Ông phải gặp ngay các thủ lĩnh sinh viên vừa thoát khỏi “chuồng cọp””.

Một buổi chiều tối, Don Luce đưa Cao Nguyên Lợi đến gặp Tom ở khách sạn, nói cho Tom câu chuyện về “chuồng cọp” Côn Đảo. Đó là khởi nguồn cho những bí mật sắp được phanh phui. Cao Nguyên Lợi nói với ông Tom Harkin: Nếu ông muốn gặp các thủ lĩnh sinh viên thực sự, ông nên tìm họ trong các “chuồng cọp” ở Côn Đảo.

Lúc đầu, Tom không tin vì trước đó, một đoàn nghị sĩ Mỹ đã nghe lời đồn về “chuồng cọp” nhưng không tìm ra manh mối. Cố vấn Mỹ về nhà tù nói rằng, không có cái gọi là “chuồng cọp”. Đó là câu chuyện từ thời Pháp.

Cao Nguyên Lợi quả quyết: “Ông có thể không tin tôi, nhưng ông phải tin Don Luce. Ông phải có sứ mệnh phát hiện ra “chuồng cọp” và đăng tin đó cho cả thế giới biết”. Tom Harkin hiểu rằng đây là chuyện rất nghiêm trọng và mạo hiểm. Nếu không tìm ra được “chuồng cọp” thì rất nguy hiểm cho ông và những người liên quan.

Ông Lợi thấy những điều lo lắng của Tom Harkin là hết sức hợp lý bởi nếu không tìm ra được “chuồng cọp” thì rõ ràng ông Lợi là người nói láo và Tom Harkin cùng Don Luce cũng sẽ như vậy. Do đó, cả buổi hôm đó, ông Lợi đã bỏ ra 3 tiếng đồng hồ bằng trí nhớ của mình trong 2 lần được dẫn giải từ khu “chuồng cọp” ra ngoài (lần ra thăm mẹ và lần được trả tự do) để vẽ sơ đồ, chú dẫn ký hiệu lối vào “chuồng cọp”; cung cấp họ tên, số đính bài của 6 người đang bị giam giữ tại đây.

Ông Lợi chỉ cho Tom Harkin cách phân biệt ký hiệu đính bài của tù chính trị với đính bài của tù thường phạm, quân phạm; chỉ cách giăng bẫy của chúa đảo Nguyễn Văn Vệ và cách phá bẫy để tìm ra “chuồng cọp”.

Ông Lợi nói: “Tom, Don, ra Côn Đảo chỉ có sáng đi và chiều về. Như vậy thời gian rất hạn chế. Nếu thời gian hạn chế mà ta mắc bẫy của ông Vệ là mời để kéo dài thời gian thì có lẽ chúng ta sẽ không thấy gì hết. Như vậy, điều đầu tiên là không cà phê cà pháo, không nói chuyện kéo dài, không mua vật kỷ niệm mà nhanh chóng yêu cầu đi thăm các trại…”.

Sau cuộc gặp với Cao Nguyên Lợi, Tom Harkin tin câu chuyện về “chuồng cọp” là có thật. Ông đã đưa Cao Nguyên Lợi đến gặp và thuyết phục Nghị sĩ Augustus Hawkins, Nghị sĩ William Anderson đồng ý ra Côn Đảo điều tra về “chuồng cọp”. Tom Harkin thuê máy bay cho đoàn, chuẩn bị máy ghi âm, máy chụp hình. Don Luce được mời đi cùng trong vai phiên dịch.

“Phá bẫy” chúa đảo

Mặc dù chúa đảo Nguyễn Văn Vệ đã cố tình tìm mọi cách kéo dài thời gian nhằm ngăn việc điều tra “chuồng cọp” của đoàn nghị sĩ Mỹ nhưng do đã được Cao Nguyên Lợi cảnh báo trước, Tom Harkin và Don Luce đã lần lượt “phá bẫy” chúa đảo và tìm ra bí mật…

Cánh cổng bí mật…

Tại Côn Đảo, đúng như dự đoán của Cao Nguyên Lợi, trung tá Nguyễn Văn Vệ (chúa đảo – chúa ngục như cách gọi của tù nhân) đã đón tiếp đoàn nghị sĩ Quốc hội Mỹ tại dinh chúa đảo theo nghi thức và cố tình kéo dài thời gian như mời đoàn dùng cà phê pha bằng phin. Vệ cho rất nhiều cà phê, nén chặt nên cà phê chảy rất chậm, giọt một, giọt một. Ngồi tới 30 phút mà cà phê vẫn chảy tách tách từng giọt, Tom và Don Luce trong lòng nóng như lửa đốt.

Nguyễn Văn Vệ thấy rõ sự sốt ruột của các vị khách nên ông ta chuyển hướng, rủ mọi người đi chơi, xem và mua đồ kỷ niệm của Côn Đảo do tù nhân làm ra. Tuy nhiên, cái bẫy này cũng đã được Cao Nguyên Lợi cảnh báo trước nên Tom và Don kiên quyết từ chối. Như vậy, cái bẫy thứ nhất được ông Lợi cảnh báo trước đã được giải quyết xong.

Tiếp đó, Tom Harkin đưa ra danh sách tên của 6 người tù, yêu cầu cho gặp. Không từ chối, Nguyễn Văn Vệ nói rằng sẽ được gặp những tù nhân này với điều kiện phải có sự đồng ý của chính quyền Sài Gòn. Tuy nhiên, khi trao đổi với người đánh điện tín, Nguyễn Văn Vệ nói thêm là đừng trả lời lại.

Không ngờ Don Luce nghe được và hiểu là Nguyễn Văn Vệ cố tình không chuyển điện xin phép cho thăm gặp tù nhân về Sài Gòn. Như vậy, việc gặp những người tù này là không thể thực hiện được nên Tom Harkin và Don Luce rút ra ngoài.

Sau đó, Don và Tom xin đi thăm các nhà tù. Đoàn dân biểu được đưa đến trại VI và 2 trại tù khác không có “chuồng cọp”. Lúc này thời gian không còn nhiều, Tom yêu cầu được đến thăm trại IV. Nguyễn Văn Vệ miễn cưỡng đồng ý.

Khi đến trại IV – trại cải huấn Côn Sơn, có trong tay tấm bản đồ của Cao Nguyên Lợi, Tom nhìn vào 1 ký hiệu cho thấy đây đúng là nơi cần đến. Trên tấm bản đồ có vẽ một cánh cửa nhỏ.

Tom nhớ lại lời Cao Nguyên Lợi dặn: “Ngay khi bước qua cánh cổng thứ nhất của trại giam, ông đừng bước tiếp qua cánh cổng thứ hai vì sau cánh cổng thứ hai chỉ là nhà tù bình thường. Ông hãy đi theo lối rẽ và tìm bức tường bên vườn rau xanh có một cánh cổng nhỏ. Đó là lối dẫn vào “chuồng cọp””.

Tom lần theo bức tường nhưng không thấy cánh cửa đâu cả. Tom và Don lại đi ra ngoài cổng quan sát. Họ đã nhìn thấy “một cái cánh cửa sau cánh cửa”. Sau đó, Tom và Don tiến đến gần hành lang mà họ nhìn thấy cánh cửa nhỏ rồi quay lại gặp đoàn nghị sĩ, hướng dẫn họ hãy đi dọc theo hành lang phía sau cánh cổng.

Khi đến khu vực có trồng rau, Tom là người đi đầu tiên. Nguyễn Văn Vệ, nhà báo Don Luce và một số người đi sau. Để kéo dài thời gian, Tom hỏi Nguyễn Văn Vệ: “Giống rau này là giống rau gì?”. Vệ trả lời qua loa: “Là rau muống, thưa ngài”.

Là một kỹ sư nông nghiệp, Don Luce nhận ra đây là khoai lang chứ không phải rau muống. Don Luce nói: “Tôi là kỹ sư nông nghiệp nên tôi biết đây là khoai lang, thứ rau này có củ ăn rất ngon”. Don Luce nói rồi cúi xuống nhổ một nhánh rau lang, phát hiện rễ rau chưa bén đất, chứng tỏ mới được trồng để ngụy trang. Hai người vẫn cãi nhau xem đó là rau lang hay rau muống.

Trong lúc đó, Tom đã phát hiện ra cánh cửa sắt nhỏ khuất sau vạt rau. Tom hỏi Nguyễn Văn Vệ: “Cánh cửa này dẫn đi đâu?”. Nguyễn Văn Vệ nói: “Bên đó cũng là một trại giam thôi, nhưng ông không thể đi qua cánh cửa này được. Ông phải đi vòng đường khác vì cánh cửa này đã bị đóng vĩnh viễn”.

Sau này, Tom và Don mới biết nếu làm như Vệ nói, họ sẽ không bao giờ tìm thấy “chuồng cọp” bởi nó nằm ở ngay bên kia bức tường. Tom nói với Nguyễn Văn Vệ: “Tại sao chúng tôi không thể đi qua cánh cửa này được?”.

Nguyễn Văn Vệ trả lời: “Không thể đi qua cánh cửa đó được bởi nó bị khóa vĩnh viễn luôn rồi”. Vừa nói, ông ta vừa cầm cây ba toong đập vào cánh cửa. Không may cho Vệ, bên kia cánh cửa có tên cai ngục, nghe tiếng ba toong đập cửa và tiếng của Vệ thì nghĩ rằng chúa đảo yêu cầu mở cánh cổng nên đã đi ra mở. Thế là Tom và Don cùng mọi người chạy xông vào bên trong cánh cổng trước ánh mắt sững sờ của Nguyễn Văn Vệ.

Sau này khi trở lại Côn Đảo vào năm 2010, nhà báo Don Luce cho biết, suốt đời ông không thể nào quên những gì ông đã nhìn thấy ở phía sau cánh cổng sắt. Chỉ là một cánh cửa và vài bước chân nhưng khoảng cách là hàng trăm năm văn minh của nhân loại.

Don đã nghe nói nhiều về “chuồng cọp”, song những gì hiện ra trước mắt ông vẫn vô cùng kinh hoàng. Gần 500 con người chen chúc trong những cái chuồng nhỏ, bị cùm xiềng, đi vệ sinh trong một chiếc thùng ngay trong chuồng. Cai ngục đi dọc hành lang, kiểm soát những người tù bị nhốt trong cũi không khác gì chuồng nuôi thú. Những cây sào bịt đồng và những thùng vôi bột đặt sẵn trên nóc “chuồng cọp”, sẵn sàng trấn áp tù nhân. Những người tù bị tê liệt vì cùm quá lâu, bị bỏ đói, bỏ khát, nhưng họ vẫn kiên cường đòi công lý.

Don đã viết trong bài tường thuật trên tờ Life: “Khuôn mặt của những tù nhân trong “chuồng cọp” phía dưới đã để lại những dấu ấn không phai trong ký ức tôi. Tôi nhớ rất rõ mùi hôi thối kinh khủng do tiêu chảy và những vết thương lở loét do bị cùm xích cứa vào mắt cá nhân của tù nhân. Hãy cho tôi nước – họ nói…”.

Khi thấy phái đoàn nghị sĩ Mỹ đến, những người tù chính trị đã lên tiếng tố cáo: “Chúng tôi bị bỏ đói, chúng tôi bị bỏ khát, chúng tôi bị đánh đập, chúng tôi bị tù chỉ vì đấu tranh cho hòa bình…”. Tom Harkin ghi âm, chụp hình, Don Luce thông dịch, nghị sĩ Augustus Hawkins và nghị sĩ William Anderson quan sát, lắng nghe.

Phái đoàn đã dừng lại ở nhiều “chuồng cọp” phỏng vấn tù nhân, ghi âm, chụp hình làm chứng cứ. Thấy Tom Harkin chụp ảnh, những tên trật tự dọa rằng chúa đảo Nguyễn Văn Vệ sẽ phá cái máy ảnh nhưng không ngăn được. Chúng liền đi ra báo cáo với chúa ngục Nguyễn Văn Vệ.

Vệ nói với 2 nghị sĩ yêu cầu Tom và Don Luce phải ra ngoài nhưng 2 nghị sĩ không đồng ý. Tom Harkin và Don Luce đã đi hết 2 dãy nhà giam trong khu “chuồng cọp”. Họ đếm được có tất cả 480 tù nhân, trong đó 300 phụ nữ và 180 đàn ông.

Điều khiến Don Luce xúc động nhất là tình người trong tù. Những người tù không lo cho bản thân mà giục Don Luce cùng những người trong đoàn nên đi gặp những người tù như bà Sáu “mù”, nhà sư Thích Hành Tuệ… “Mọi người bị giam trong khu “chuồng cọp” đều rất yêu thương nhau và lo lắng cho nhau. Họ lo cho người khác chứ không lo về mình. Có người nói nhờ tôi xin ly nước uống cho bà Sáu…” – nhà báo Don Luce kể lại.

Khi đoàn sắp rời Côn Đảo, chúa đảo Nguyễn Văn Vệ yêu cầu Tom giao nộp lại máy ảnh và băng ghi âm, nhưng Tom Harkin kiên quyết nói không. Nghị sĩ Augustus Hawkins và nghị sĩ William Anderson cũng ủng hộ Tom, nói: Đây là chứng cứ điều tra của Quốc hội Mỹ.

Bất lực trước vị thế của các nghị sĩ Mỹ, chúa đảo Nguyễn Văn Vệ giở bài hạ sách: Yêu cầu Tom và Don lên chiếc xe Jeep ra sân bay với sự hộ tống của những tên trật tự của Vệ. Một lần nữa, nghị sĩ William Anderson lại nói: “Không. Các ông ấy đi cùng chúng tôi”.

Trên đường ra sân bay, qua những đoạn đường chênh vênh một bên là núi, một bên là biển sâu với những mũi đá lởm chởm, Tom Harkin và Don Luce không khỏi rùng mình. Nếu chúa đảo Nguyễn Văn Vệ ép 2 người ra sân bay trên chiếc xe Jeep với sự hộ tống của những tên trật tự cô hồn thì không biết điều gì sẽ xảy ra.

Phanh phui “chuồng cọp” ra thế giới

Trở về Mỹ, Tom Harkin biết mình phải đưa những tấm hình này ra thế giới. Ông đã được hỗ trợ đến một nơi an toàn để rửa hình. Sau đó, ông được giới thiệu đến tạp chí Life. Tom Harkin lập tức bay đến New York. Những người có trách nhiệm tại tạp chí này đã xem những tấm hình, họ muốn biết câu chuyện và Tom Harkin đã kể lại câu chuyện.

Lập tức Tom và những tấm ảnh được đưa đến nhà máy in. Kết quả là sự việc “chuồng cọp” nhà tù Côn Đảo được phanh phui trên tạp chí Life đã làm chấn động cả thế giới và những tấm hình được lan ra khắp nơi.

Ngoài Tom Harkin, Don Luce và tác giả chính trong vụ phát hiện “chuồng cọp” Côn Đảo, phải kể đến công lao của 2 nghị sĩ Augustus Hawkins, William Anderson đã đồng ý ra Côn Đảo điều tra và bảo vệ Tom Harkin được giữ những hình ảnh, tài liệu thu thập được tại “chuồng cọp”.

Nghị sĩ Anderson là Anh hùng quân đội Mỹ, từng lái tàu ngầm Nautilus đến Cực Bắc trong Thế chiến II. Tiếng nói của ông có trọng lượng trong Quốc hội Mỹ. Ông đã có những quyết định chính xác trong việc điều tra vụ “chuồng cọp”, bảo vệ những chứng cứ thu thập và quyết định bảo vệ phụ tá của mình là Tom Harkin và Don Luce.

Trở về Mỹ, ông đã lên tiếng mạnh mẽ trong Quốc hội Mỹ và dư luận Mỹ, phản đối các khoản viện trợ của Mỹ bảo trợ cho một chính quyền vô nhân tính tại Sài Gòn. Ông viết thư gửi Tổng thống Mỹ Richard Nixon, yêu cầu áp dụng những biện pháp cấp bách để ngăn chặn các hành vi trả thù những người tù chính trị đã cung cấp tư liệu cho phái đoàn.

Trong tường thuật trước báo giới, 2 nghị sĩ Mỹ là Augustus Hawkins, William Anderson khẳng định rằng các ông đã tận mắt thấy: “Khoảng 500 người bị giam vào các “chuồng cọp”. Có những tu sĩ Phật giáo… Có nhiều phụ nữ từ 15 đến 70 tuổi, có những bà già mù mắt… Họ bị giam giữ chỉ vì đấu tranh cho hòa bình… Họ bị bỏ đói, bỏ khát, bị nhốt như những con vật trong các “chuồng cọp”…

Họ bị ngạt thở vì người ta tung vôi bột vào trừng phạt họ… Trong 7 tháng, họ chỉ được ăn rau có 3 lần. Nhiều người trong số đó bị còng lâu ngày đến mức không thể đứng lên bằng đôi chân của mình được… Đó là sự đối xử kinh khủng nhất đối với con người mà chúng tôi chưa bao giờ được thấy”.

Thời điểm mà dư luận thế giới chấn động vì những tấm hình của Tom Harkin đăng trên báo chí cùng những bài báo của Don Luce khiến cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa phải ra lệnh dỡ bỏ “chuồng cọp” Côn Đảo thì cũng là lúc Tom phải ra điều trần trước Quốc hội, bị buộc tội “phản bội”, bị đuổi việc khỏi Văn phòng Quốc hội cùng với lời đe dọa “sẽ không bao giờ tìm được công việc ở đây”.

Ông đã kiên trì đấu tranh và trở lại Quốc hội năm 1974, với tư cách là thượng nghị sĩ. Bài học trong vụ phát hiện “chuồng cọp” Côn Đảo cho ông thêm lòng can đảm và nghị lực mạnh mẽ để dấn thân. Ông góp phần cùng Quốc hội quyết định ngăn chặn Chính phủ Mỹ cứu vớt chính quyền Sài Gòn vào thời điểm sắp tàn của chế độ.

Mạnh mẽ và kiên quyết, thượng nghị sĩ Tom Harkin tiếp tục đóng góp cho tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ. Ngay sau khi Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao (năm 1995), thượng nghị sĩ Tom Harkin đã có mặt tại Hà Nội. Năm 2010, ông đến Việt Nam đánh giá mức độ ô nhiễm chất độc dioxin và tìm giải pháp hỗ trợ cho nạn nhân chất độc da cam.

Tình cảnh của Don Luce sau vụ “chuồng cọp” Côn Đảo cũng không mấy dễ chịu. Don Luce bị trục xuất khỏi Việt Nam năm 1971. Ông tiếp tục tham gia phong trào chống chiến tranh xâm lược, đòi hòa bình cho Việt Nam và không ít lần bị các thế lực cực đoan tấn công, dọa giết.

Ông đã đến thăm Hà Nội 3 lần, từng chứng kiến máy bay Mỹ ném bom bắn phá, từng đi thăm đường Trường Sơn huyền thoại… Mỗi lần trở lại Việt Nam, Don Luce đều cùng Cao Nguyên Lợi đi thăm những người bạn Việt Nam, chia sẻ với họ tình cảm thủy chung từ trái tim nhân hậu.

Thông điệp của những người yêu chuộng hòa bình

Những bức ảnh do Tom Harkin (sau này là thượng nghị sĩ bang Iowa) chụp tại “chuồng cọp” Côn Đảo đăng trên tạp chí Life đã đưa ra ánh sáng những bí mật khủng khiếp. Những bức ảnh chính là tấm lòng của những người bạn Mỹ đã góp phần làm thay đổi chế độ lao tù, góp phần sớm chấm dứt sự dính líu của Mỹ vào cuộc chiến tranh phi nghĩa tại miền Nam Việt Nam.

Tom Harkin, Don Luce, Cao Nguyên Lợi chính là những sứ giả đấu tranh cho hòa bình từ 2 chiến tuyến.

Sức mạnh của những bức hình chụp tại “chuồng cọp”

Những tấm hình Tom Harkin chụp tại nhà tù Côn Đảo đăng trên tạp chí Life ngày 17-7-1970 khiến dư luận quốc tế bừng bừng phẫn nộ. Hình ảnh bà Sáu “mù” 60 tuổi, mù cả 2 mắt do bị tạt vôi bột; hình ảnh nữ sinh Thiều Thị Tân 15 tuổi bị giam trong “chuồng cọp” và Đại đức Thích Hành Tuệ (Nguyễn Thới) – một tu sĩ Phật giáo yêu nước bị đày ải nghiệt ngã trong “chuồng cọp” Côn Đảo chỉ vì đấu tranh cho hòa bình đã gây xúc động lương tri loài người, thức tỉnh lương tâm người Mỹ rằng chính quyền Mỹ đang chi hàng tỷ đô la viện trợ cho một chế độ vô nhân tính, vi phạm những quyền cơ bản của con người, vi phạm Công ước Geneva về tù binh, tù chiến tranh.

Hàng chục tờ báo lớn ở 33 nước và truyền hình Mỹ đã đăng lại. Cùng với những bức ảnh Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu để phản đối chiến tranh, ảnh em bé Tây Ninh bị bom Napan đốt cháy chạy trên đường, ảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan rút súng bắn tù binh đối phương trong tư thế 2 tay bị trói trên đường phố Sài Gòn trước đó, những bức ảnh “chuồng cọp” Côn Đảo đã thổi bùng lên ngọn lửa phong trào phản đối chiến tranh xâm lược của Mỹ tại Việt Nam lan rộng trên chính nước Mỹ và trên toàn thế giới. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa buộc phải ra lệnh dỡ bỏ “chuồng cọp” Côn Đảo.

Bà Sáu “mù” là tấm gương chiến đấu kiên trung, bất khuất tiêu biểu cho phong trào đấu tranh bảo vệ khí tiết của những người tù chính trị Côn Đảo nói chung và nữ tù chính trị ở “chuồng cọp” nói riêng. Bà Sáu “mù” tên thật là Nguyễn Thị Chỉ, quê Quảng Nam. Trong khu “chuồng cọp”, bị địch tung vôi bột đàn áp khiến đôi mắt của bà Sáu mờ dần.

Mặc dù vậy, bà vẫn đứng vững trong tập thể chiến đấu chống chào cờ, chống nội quy, chịu mọi cực hình ở “chuồng cọp”. Tóc bạc, lưng còng, mắt mờ, sức yếu, bà thường nép mình vào một xó “chuồng cọp”, đôi tay run run rờ rẫm trên đầu gối mình, lơ đãng lắng nghe mọi âm thanh đơn điệu quanh “chuồng cọp” số 27.

Tháng 6-1970, trong một lần xáo trộn phòng, bà Sáu “mù” được đưa về “chuồng cọp” số 24, nơi giam những phụ nữ đã chịu điều kiện. Họ thương bà, kính phục bà. Đến bữa ăn có đĩa rau muống và nửa quả trứng vịt luộc, bà biết là ở nơi chị em chịu điều kiện nên bỏ miếng trứng xuống, trào nước mắt, bỏ cơm, xin về lại “chuồng cọp” số 27 chung với tập thể chiến đấu, ăn cơm với tương chua, mắm ruốc nặng mùi quen thuộc của “chế độ kỷ luật”.

Sau này trong những lần trở lại Việt Nam, Don Luce và Tom Harkin đều đến thăm bà Sáu “mù”.

Đại đức Thích Hành Tuệ là tấm gương sáng về đạo pháp và lòng yêu nước giữa ngục tối Côn Đảo. Đại đức Thích Hành Tuệ sinh ra trong một gia đình yêu nước, có ông nội và cha tham gia các phong trào yêu nước dưới sự dẫn dắt của Trần Cao Vân, Trần Quý Cáp.

Đại đức Thích Hành Tuệ hồi nhỏ tên là Đấu, khi đi hoạt động cách mạng lấy tên Nguyễn Thới (SN 1935 tại xã Đại Phong, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam). Năm 1956, địch ráo riết truy lùng cán bộ kháng chiến cũ, nhiều người bị bắt thủ tiêu, giết bỏ trôi sông, số trốn thoát chuyển vùng hoạt động. Nguyễn Thới được cha là ông Nguyễn Hữu gửi tạm lánh vào chùa Cổ Lâm (xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam) làm người tu hành. Thời gian học Phật ở chùa Cổ Lâm, Nguyễn Thới tham gia hoạt động cùng với nhiều người yêu nước đóng vai tu hành nơi đây. Nguyễn Thới được gửi tu học tại chùa Phước Lâm (Hội An), lấy pháp danh Thích Hành Tuệ.

Năm 1963, phong trào Phật giáo từ miền Trung lan vào Sài Gòn, đẩy lên một bước phong trào đấu tranh chống chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình Diệm. Đại đức Thích Hành Tuệ tháp tùng Hòa thượng Thích Trí Quang vào Sài Gòn, giữ mối liên lạc giữa phong trào Phật giáo miền Trung và liên hệ với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam khu Sài Gòn – Gia Định qua đầu mối đơn tuyến, dưới sự chỉ đạo của đồng chí Huỳnh Tấn Phát.

Mùa Phật đản năm 1966, Phật tử chịu sự đàn áp khủng khiếp. Đại đức Thích Hành Tuệ bị bắt, bị tra tấn rất dã man, bị giam tại khám Chí Hòa. Năm 1968, Đại đức Thích Hành Tuệ cùng một số tù chính trị bị địch đày ra Côn Đảo. Ngay từ khi ra Côn Đảo, Đại đức Thích Hành Tuệ đã tham gia và đi đầu trong phong trào chống chào cờ Việt Nam Cộng hòa và bị đàn áp khốc liệt.

Tháng 7-1968, địch đưa Đại đức cùng một số tù chính trị về Chí Hòa, sau đó đến tháng 11-1968 đưa trở lại Côn Đảo và giam ở khu “chuồng cọp”.

Thời điểm Tom Harkin và Don Luce cùng đoàn nghị sĩ Mỹ ra Côn Đảo, Đại đức Thích Hành Tuệ bị giam chung với ông Đào Duy Nghệ, Hai A (tức Đỗ Văn Minh) tại “chuồng cọp” số 5 (khu “chuồng cọp” II). Đại đức nằm cạnh Hai A phía trong, Đào Duy Nghệ nằm gần cửa nghe ngóng động tĩnh, theo dõi động thái của trật tự, gác ngục, phán đoán tình hình để có biện pháp đối phó.

Khi Đào Duy Nghệ phát hiện đoàn nghị sĩ Mỹ vào “chuồng cọp”, thầy Thích Hành Tuệ mặc áo nhà tu nói lớn: “Chúng tôi đói. Chúng tôi khát. Chúng tôi bị đòn…”. Cả phái đoàn liền tập trung trên nóc “chuồng cọp” số 5. Don Luce phiên dịch, Tom Harkin ghi chép, ghi âm, chụp hình.

Đại đức dõng dạc tuyên bố: “Tôi là một nhà sư và tôi đấu tranh cho hòa bình từ năm 1966. Tôi ở đây không vì lý do gì ngoài mong muốn hòa bình. Tôi bị bắt, bị tra tấn. Nhưng tôi vẫn tiếp tục đấu tranh cho hòa bình”.

Khi phái đoàn rời Côn Đảo, bọn cai ngục đánh Đại đức Thích Hành Tuệ để trả thù. Vừa đánh, chúng vừa chất vấn: “Tại sao mày đi tu mà không chịu chào cờ quốc gia? Không chịu hô đả đảo Hồ Chí Minh?”. Bị đòn roi oằn người nhưng Đại đức vẫn hiên ngang trả lời: “Cụ Hồ là vị anh hùng cứu nước của dân tộc Việt Nam, chúng tôi luôn kính trọng, làm sao mà đả đảo được. Còn lá cờ ba que không phải cờ của Tổ quốc chúng tôi”.

Trước áp lực của dư luận, chính quyền Việt Nam Cộng hòa buộc phải ra lệnh phá bỏ “chuồng cọp”. Đại đức Thích Hành Tuệ cùng số tù bại lết được chuyển về chuồng bò. Tại đây, Đại đức Thích Hành Tuệ tiếp tục dẫn đầu phong trào chống đàn áp, chống cưỡng bức tư tưởng, chống khổ sai…

Tháng 11-1971, địch đàn áp, đưa số tù bại lết giam tại khu “chuồng cọp” Mỹ mới xây dựng. “Chuồng cọp” Mỹ không có bệ nằm, tù nhân nằm sắp lớp dưới nền chuồng. Mái tôn úp sát giàn song sắt, tối tăm, ngột ngạt. Ngày nóng bức hầm hập, đêm thấm lạnh thấu xương. Ở tù trong hoàn cảnh nghiệt ngã tại “chuồng cọp” mới thấu hiểu thế nào là đói và rét. Càng đói, càng thấm cái rét đến tận xương tủy. Càng rét, càng thấy cái đói cồn cào gan ruột.

Hơn 1 năm ở “chuồng cọp” Mỹ, Đại đức Thích Hành Tuệ phát bệnh nặng, thường xuyên ho ra máu, hậu quả của những trận đòn thù từ nhiều năm trước. 7h sáng ngày 8-1-1973, Đại đức Thích Hành Tuệ đã tắt thở trên tay Đào Duy Nghệ tại bệnh xá trại VII.

Phần mộ của Đại đức Thích Hành Tuệ hiện ở khu C nghĩa trang Hàng Dương (Côn Đảo). Bài vị và di ảnh của Đại đức được đưa về chùa Diệu Pháp (đường Nơ Trang Long, phường 13, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh), đặt ở nơi trang trọng nhất. Ngày 19-5-1978, Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đã ký tặng Bằng Tổ quốc ghi công cho liệt sĩ Nguyễn Thới.

Ngày 19-8-1985, Chủ tịch nước Trường Chinh truy tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất về những công lao của ông trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa tên Đại đức Thích Hành Tuệ vào quỹ đặt tên đường của thành phố.

Điều còn mãi…

Năm 1995, trong dịp trở lại Việt Nam, ra thăm Côn Đảo, Tom Harkin đã trao tặng những bức hình chụp tại khu “chuồng cọp” cho Cao Nguyên Lợi, người đã giúp ông phát hiện vụ “chuồng cọp” Côn Đảo. Những bức ảnh chính là tấm lòng của những người bạn Mỹ đã góp phần làm thay đổi chế độ lao tù, góp phần sớm chấm dứt sự dính líu của Mỹ vào cuộc chiến tranh phi nghĩa tại miền Nam Việt Nam.

Tom Harkin, Don Luce, Cao Nguyên Lợi chính là những sứ giả đấu tranh cho hòa bình từ 2 chiến tuyến. Các ông là những nhà ngoại giao nhân dân, kết nối 2 dân tộc Việt Nam – Mỹ bằng trái tim, từ trái tim.

Từ đó đến nay, ông Cao Nguyên Lợi vẫn giữ mối liên lạc với Tom Harkin và Don Luce, trân trọng ân tình về những gì mà 2 người bạn Mỹ đã tranh đấu cho hòa bình ở Việt Nam, làm vơi đi nỗi đau cho những người tù chính trị Côn Đảo. Ông cùng người bạn đời thủy chung – bà Tô Thị Thủy, người đã kiên cường đấu tranh đòi trả tự do cho ông, góp phần vào việc đưa ra ánh sáng những tội ác tột cùng tại “chuồng cọp” Côn Đảo đã có dịp sang Mỹ để cảm ơn những người bạn Mỹ.

47 năm đã trôi qua, ông Cao Nguyên Lợi trầm ngâm khi nói về những người bạn tù Côn Đảo mỗi năm một thưa dần. Cuốn sách “Tù chính trị câu lưu Côn Đảo 1957-1975 từ thực tiễn nhìn lại” đã được tái bản 3 lần. Với nỗ lực của ban tổ chức và các nhà tài trợ, mỗi lần tổ chức ra mắt cuốn sách cũng là dịp những cựu tù chính trị Côn Đảo từ khắp mọi miền của Tổ quốc được gặp gỡ, thăm hỏi sức khỏe và ôn lại những kỷ niệm một thời nơi “địa ngục trần gian”.

Không nói nhiều về bản thân, ông Lợi rưng rưng nói rằng, mơ ước lớn nhất của những cựu tù chính trị ở tuổi gần đất xa trời như ông, là cuộc gặp gỡ, giao lưu giữa những người yêu nước Việt Nam và những người phản chiến Mỹ như Tom Harkin, như Don Luce vào một ngày gần nhất, bởi thời gian đối với họ giờ đây không còn nhiều nữa.

Theo Đại tá, nhà văn, nhà báo Lê Anh Dũng – người tổ chức bản thảo của cuốn sách “Cựu tù chính trị câu lưu Côn Đảo (1957-1975) từ thực tiễn nhìn lại”, thì cuộc gặp gỡ những con người đã đi vào lịch sử này cũng là ý tưởng của những người tham gia biên soạn cuốn sách, sẽ được lên kế hoạch kết nối và tổ chức thực hiện vào lần tái bản thứ tư tại Vũng Tàu.

Trước khi chia tay, tôi đề nghị được chụp ảnh ông Cao Nguyên Lợi làm kỷ niệm. Trong khuôn viên Bảo tàng Lịch sử quân sự Việt Nam, ông Cao Nguyên Lợi chủ động đứng trước một khẩu đại bác, giơ chiếc ba lô bịt họng súng với thông điệp: Yêu hòa bình, phản đối chiến tranh.

Côn Đảo giờ đây đã trở thành điểm đến hấp dẫn trên bản đồ du lịch Việt Nam cũng như thế giới không chỉ bởi vẻ đẹp hoang sơ mà còn bởi mỗi địa danh nơi đây còn gắn với một câu chuyện lịch sử đậm chất sử thi như những huyền thoại. Và câu chuyện “chuồng cọp” Côn Đảo, một sự kiện lịch sử gây chấn động thế giới gần 50 năm trước, sẽ mãi mãi ghi dấu ấn về một tình hữu nghị đẹp đẽ giữa những người yêu chuộng hòa bình của Việt Nam và nước Mỹ – dù cách nửa vòng trái đất nhưng trái tim của họ luôn chung một nhịp đập.

http://antg.cand.com.vn/

 

Những “Chúa đảo” khét tiếng của nhà tù Côn Đảo

Nhắc đến hệ thống nhà tù Côn Đảo, một hệ thống nhà tù khốc liệt , tàn ác tinh vi của hai chế độ thực dân và đế quốc, chắc hẳn sẽ không thể thiếu được những cái tên như: Chuồng Cọp, hầm đá, Chuồng Bò…Những cái tên đó sẽ mãi mãi in sâu trong tiềm thức, trong sự đấu tranh bất khuất , kiên cường và hòa lẫn đau thương, mất mát của những người tù chính trị, những chiến sĩ yêu nước đã từng bị giam cầm, đày ải ở chốn “Địa ngục trần gian” .

Trong suốt 113 năm của nhà tù Côn Đảo đã có 53 đời chúa đảo ( 39 thời Pháp, 14 thời Mỹ-ngụy) từng cai trị tại nơi đây. Mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ là một sự tàn ác và tinh vi khác nhau, nhưng trong số đó có những tên chúa đảo sau đây được người tù liệt vào hàng “bạo chúa”, “hung thần” mang nợ máu ngất ngưỡng với tù nhân.

Đứng đầu danh sách này có thể kể đến Andouard, một trung úy trù bị, cụt tay phải trong trận Verdun, được gắn huân chương Bắc đẩu bội tinh, cải ngạch làm chúa ngục từ năm 1917. Báo chí Sài Gòn thời đó gọi hắn là “Tên đao phủ khát máu”, tù nhân thì gọi hắn là “Ông lớn một tay”, động một chút là hắn phạt rất nặng, nhất là đối với tù chung thân thì kẻ hầm, người xiềng, không mấy người thoát khỏi. Andouard có nuôi một con chó Berger, đi đâu cũng dẫn theo, không ưa người tù nào, thì hắn xuỵt chó nhảy vào cắn cổ. Để đàn áp tù vượt ngục, Andouard ra lệnh bắn giết thẳng tay. Cứ bắn chết một người tù, cắt một tai đem về thì được hắn thưởng 10 đồng ( tương đương vài giạ gạo lúc đó) không ít người tù đã chết oan nghiệt vì khoản tiền bất nhân này. Bọn lính coi ngục mỗi lúc tiền ăn nhậu, thì bày trò thí mạng tù nhân để lãnh thưởng, chúng sai một người tù nào đó đi lên rừng hái lá về nấu canh, thế rồi người tù xấu số ấy bị bắn gục tại bìa rừng, xẻo tai mang về nộp lấy 10 đồng thưởng về tội “Mưu toan vượt ngục” mà chúng dàn dựng. Phải đến khi Andouard đền tội thì luật này mới bãi bỏ.

Người tiếp theo đó chính là tên chúa ngục Bouvier – Chánh tham biện, làm chúa ngục 2 nhiệm kỳ, cũng chính là 2 thời kỳ khủng bố trắng (1930-1934) và (1939-1942). Trong 5 năm từ 1930 đến 1934 chế độ khủng bố trắng của Bouvier đã giết hại 802 người tù.. Sau Nam kỳ khởi nghĩa (11/1940), chế độ khủng bố còn rùng rợn hơn, tù nhân chết hàng loạt, có thời kỳ mỗi ngày chết vài chục người. Chỉ trong 2 năm 1941-1942, số lượng tù nhân đã vơi đi hàng ngàn người. Bouvier đã phải cho mở thêm nghĩa địa mới mang tên Hàng Dương để chôn những người tù bị giết hại. Dưới chế độ giết người thời ấy của Bouvier thì Côn Đảo được mệnh danh là “Địa ngục trần gian”. Dưới thời của Bouvier có rất nhiều cuộc vượt ngục diễn ra, vì với những tù nhân thời kỳ ấy, thà chết đói trên rừng, hoặc làm mồi cho cá mập dưới biển còn dễ chịu hơn sống dưới bàn tay độc ác của Bouvier. Vì đời sống tù nhân lúc bấy giờ vô cùng thiếu thốn, làm việc quá sức, ăn uống thì bẩn thiểu, không thuốc men chữa trị. Ngoài ra bọn gác, coi ngục thì vô cùng độc ác, vô nhân đạo đánh đập người tù vô tội vạ, củi đòn ba trắc, tầm vông thấm đầy những máu…Ngoài 2 chúa ngục vừa kể trên thời Pháp ra còn có những tên khác cũng giàu thủ đoạn và thâm độc không kém như Brule, Lafosse, Jacty..

Chấm dứt gần 1 thế kỷ chồng chất tội ác của thực dân Pháp trên hòn đảo thiêng liêng này. Tháng 3-1955, Thiếu tá Aloise Blanck đã bàn giao nhà lao Côn Đảo cho Bạch Văn Bốn – thiếu tá quân đội VNCH. Với bản chất tàn bạo và hiếu thắng, Bạch Văn Bốn ra sức đánh giết tù để tiến thân, trong nhiệm kỳ hơn 3 năm, Bốn đã tổ chức nhiều chiến dịch khủng bố, giết hại 350 tù chính trị do bất lực về phương diện cải huấn, không tổ chức học tố cộng được với hơn 1000 tù chính trị lao I trong nhiều năm nên Bốn vẫn không được lên sao và phải nhường chức cho Lê Văn Thể – một tên tàn bạo và hiếu thắng hơn nhiều.

Lê Văn Thể không từ một thủ đoạn tàn bạo nào. Hắn nhốt chặt tù nhân vào mùa hè, xối nước tù nhân vào mùa đông, cho tay chân xông vào đánh tù nhân bằng củi chẻ đến tàn phế hay chết tươi ngay tại Chuồng Cọp, đày ải man rợ cho chết đi sống lại hàng trăm lần, thậm chí hắn còn bắt tù nhân đào mả lấy xương người chết về để đốt xông khói cho đàn vịt của hắn khỏi chết dịch..Nhưng cuối cùng thì Lê Văn Thể cũng mất chức vì không khuất phục được tinh thần quật cường của những người tù chính trị.

Trong ký ức của nhiều tù nhân, Nguyễn Văn Vệ là một “Con hùm xám”, là siêu đẳng trong nghề trị tù. Vệ từng ngự trị 9 năm, hai nhiệm kỳ. Và trong ngần ấy năm Vệ đã gây biết bao nhiêu tội ác với tù nhân Côn Đảo, chính hắn đã trực tiếp chỉ huy những trận khủng bố tàn bạo nhất. Ngày 12-5-1967 Vệ chỉ huy hàng trăm trật tự ác ôn, đàn áp tù chính trị ở Chuồng Cọp I, gây ra cái chết thảm khốc cho 2 người, 10 người bị thương tích nặng và hàng trăm người khác máu đổ, thịt tan.

Hắn đã thiết lập kỷ luật ngiệt ngã nhất đối với những người tù chống ly khai ở Chuồng Cọp với những cây còng Mỹ siết chặt vào cổ chân, làm hàng trăm người tù phải teo cơ, bại liệt vĩnh viễn, sào nhọn bịt đồng, vôi bột, gậy gộc và đạo quân trật tự, an ninh do Vệ tổ chức đã gây nên những tội ác man rợ nhất. Và cao trào nhất vụ “Chuồng Cọp Côn Đảo” tai tiếng 1970 bị phanh phui, làm chấn động cả thế giới. Rồi với lần thứ 2 trở lại Vệ càng tỏ rõ bản chất hung thần hơn với các chính sách đàn áp tù chính trị với âm mưu tráo án người tù, bắt người tù phải lăn tay, chụp hình để đổi tù chính trị phạm sang thành phần gian nhân hiệp đảng. Những trận đàn áp đẫm máu, khốc liệt diễn ra liên tiếp trong thời gian dài đã cướp đi sinh mạng và thương tật nghiêm trọng cho hàng ngàn người tù chính trị…

Xét cho cùng, mỗi đời chúa ngục thì cũng chỉ là những tên tay sai của thực dân và đế quốc, chúng sẽ bị lịch sử bêu tên, nguyền rủa mãi mãi. Và sẽ còn mãi những đau thương, những bi hùng, ý chí đấu tranh sáng ngời và những nấm mồ vinh quang, hiên ngang giữa đất trời Côn Đảo. Để giờ đây, khi chiến tranh đã đi qua, đất nước đã thanh bình, vẫn còn đó bóng dáng của những người tù năm ấy, đang ngày đêm xây dựng, cống hiến quãng đời còn lại của mình cho quê hương , đất nước, tiếp nối tâm nguyện của đồng chí, đồng đội đã hy sinh để ngày hôm nay cho chúng ta thấy được một biển, một trời Côn Đảo xanh tươi như thế này.

Nguồn: Trang Côn Đảo – Poulocondore.