Trận địa pháo cổ Cầu Đá

Tran-dia-phao-co-Cau-Da

Không có quy mô như trận địa pháo cổ ở Núi Lớn, nhưng trận địa pháo cổ Cầu Đá cũng là một trong những công trình quan trọng, ghi dấu ấn tham vọng của thực dân Pháp về việc xây dựng Vũng Tàu thành một tiền cảng quân sự.

Vào năm 1890, các quan cai trị Pháp ở Nam Kỳ nói chung và ở Vũng Tàu nói riêng đã đề xuất xây dựng ở Vũng Tàu một tiền cảng nhằm phục vụ cho mục đích quân sự, làm nơi neo đậu, tránh gió bão cho tàu chiến hoạt động trên biển, đồng thời phục vụ cho việc bốc xếp khí tài, hàng hóa phục vụ cho thành phố nghỉ mát và quân sự Vũng Tàu. Nhưng đề án chưa được duyệt vì lúc ấy tình hình Đông Dương vừa ổn định, kinh phí khó khăn.

Năm 1896, dự án trên được thực hiện. Tiền cảng Vũng Tàu là con đê dài hơn 400m, chân đê rộng 15m, mặt đê rộng 4m được kè bằng đá, đổ bê tông chạy dài từ mũi phía bắc núi Nhỏ ra giữa biển nằm song song với Bãi Trước (vịnh Hàng Dừa). Đê cảng Vũng Tàu do kỹ sư Pháp thiết kế và thị trưởng Vũng Tàu lúc bấy giờ là Outrey phê duyệt thi công.

Cảng Cầu Đá Vũng Tàu từ trên cao

Để làm được con đường ra giữa biển này, người Pháp đã chi hết 45.000 quan từ ngân sách khai thác thuộc địa. Nhân công là những người tù khổ sai, họ là những chí sĩ yêu nước tham gia các phong trào chống Pháp, bị thất bại và cuối cùng trở thành nô lệ cho bọn thực dân. Để làm được đê cảng này, thực dân Pháp đã huy động hơn cả ngàn tù nhân vận chuyển, khuân vác gần 50.000m3 đá, có những hòn đá nặng nề, to lớn để kè đê chắn sóng, họ phải ngâm mình dưới nước, phơi lưng giữa trời trong suốt thời gian dài. Sau khi làm xong đê cảng, người Pháp mới nhận ra sai lầm của các kỹ sư của họ mà người chịu trách nhiệm cao nhất là Outrey. Đê cảng chạy dài theo hướng đối diện và ngược lại với các dòng sông đổ vào vịnh Gềnh Rái. Mặt khác do tác động của dòng hải lưu nên bến cảng trở thành con đập chắn, là nơi tụ lắng bùn, cát biển… Cầu tàu này bị vô hiệu hóa hoàn toàn trước khi cơn bão Giáp Thìn (1904) phá hỏng hoàn toàn. Ngày nay những ngày thủy triều rút xuống, người ta vẫn còn nhìn thấy một con đê dài bằng đá tảng chạy thẳng ra biển, là bằng chứng tàn bạo của thực dân Pháp mà hơn thế kỷ qua sóng biển, thủy triều vẫn chưa bào mòn, phủ lấp.

Thực dân Pháp đã nhận thấy ý nghĩa quân sự của cửa ngõ Vũng Tàu, ngay sau khi chiếm Nam Bộ xong, chúng đã nhanh chóng lắp đặt ở đây nhiều ụ đại pháo và sau đó phát triển thành phòng tuyến quân sự quy mô kiên cố. Việc tổ chức phòng tuyến Vũng Tàu nhằm tạo ra hành lang chiến lược quân sự, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho cửa ngõ vùng đất Đông Nam Bộ mà thực dân trực tiếp cai trị, bảo đảm cho nơi neo đậu của các hạm đội Pháp hoạt động ở Viễn Đông, bảo đảm cho Vũng Tàu là thành phố nghỉ mát và dưỡng bệnh của quân đội thực dân.

Phòng tuyến Vũng Tàu hình thành làm ba cụm lớn, liên hoàn với nhau trên các điểm cao Núi Nhỏ, Núi Lớn với tất cả 23 khẩu đại pháo cỡ đạn 140mm-300mm. Ba trận địa pháo này được khởi công xây dựng từ năm 1895. Toàn quyền Đông Dương không quên nhấn mạnh thời hạn hoàn thành: “Phải xây dựng Vũng Tàu thành một nơi đủ mạnh, công việc xây dựng các trận địa pháo phải được thực hiện xong trước năm 1897”.

Từ Cầu Đá, du khách có thể đến trận địa pháo Cầu Đá theo đường lên ngọn Hải Đăng, Vũng Tàu, hoặc theo lối vào Tịnh xá Ngọc Bích, chùa Bửu Sơn hoặc con đường nhỏ kế bên khách sạn Hải Âu, đường Hạ Long, trận địa nằm ở độ cao 15m bên sườn nam Núi Nhỏ, có 4 khẩu đại pháo nòng dài 5,5m, cở đạn 240mm bố trí theo hình cánh cung, nòng hướng ra biển Bãi Trước – Cần Giờ, thành phố Hồ Chí Minh, tạo nên tầm quan sát và tầm bắn rộng. Các khẩu pháo bố trí cách đều nhau 18m, có thể quay tròn 3600 trên mâm pháo, nâng cao hay hạ thấp tầm bắn nhờ hệ thống truyền động tầm hướng bằng bánh răng cưa.

Cùng với trận địa pháo trên Núi Nhỏ, Núi Lớn trận địa Cầu Đá Bãi Trước hợp thành một quần thể di tích lịch sử, đã được Bộ Văn hóa xếp hạng di tích quốc gia.

NGUYỄN VĂN TÂM
Báo Bà Rịa – Vũng Tàu

Tham khảo danh sách các cơ sở lưu trú, khách sạn tại Hà Tiên

Khách sạn tại Hà Tiên

Đến Hà Tiên, ngoài tham quan các danh thắng, thưởng thức các dịch vụ ăn uống, vui chơi giải trí, một nơi không thể không nhắc đến giúp du khách có thể nghỉ ngơi qua đêm tại điểm dừng chân đó là cơ sở lưu trú du lịch. Du khách có thể lựa chọn đủ các tiêu chuẩn lưu trú, phù hợp với thu nhập của mình từ nhà nghỉ cho đến khách sạn 03 sao, chủ yếu nằm trên các phường Tô Châu, Đông Hồ, Bình San, Pháo Đài.

Sau đây là một số cơ sở lưu trú, du khách có thể tham khảo:

Khách sạn 3 sao tại Hà Tiên

River Hotel

  • Địa chỉ: Trung tâm Thương mại, Phường Bình San, TP Hà Tiên
  • Điện thoại: 02973.955.888
  • Giá phòng: phòng đơn: 890.000đ và 990.000đ và 1.240.000đ; phòng đôi: 1.990.000đ và 2.300.000đ

Sammy Hotel

  • Địa chỉ: 53 Nguyễn Phúc Chu, Phường Pháo Đài, TP Hà Tiên
  • Điện thoại: 02973.956.222
  • Giá phòng: phòng đơn: 500.000đ; phòng đôi: 700.000đ; phòng 3 giường: 1.000.000đ
Sảnh khách sạn Sammy Hà Tiên

Khách sạn 2 sao tại Hà Tiên

Hải Yến

  • Địa chỉ: 15 Tô Châu, Phường Đông Hồ
  • Điện thoại: 02973.851.580
  • Giá phòng: phòng đơn 300.000 đồng; phòng đôi: 500.000 đồng

An Gia

  • Địa chỉ: Trung tâm Thương mại, Phường Bình San
  • Điện thoại: 0919.072.400 hoặc 02973.959.222
  • Giá phòng: phòng đơn 400.000 đồng; phòng đôi: 600.000 đồng

Dủ Hưng II

  • Địa chỉ: 12-14 Trần Hầu, Phường Bình San
  • Điện thoại: 02973.950.556 – 02973.950.555
  • Giá phòng: phòng đơn 300.000 đồng; phòng đôi: 500.000 đồng; phòng 3 người: 450.000 đồng; phòng 3 giường: 750.000 đồng; phòng tập thể: 1.000.000 đồng.

Khách sạn – Hà Tiên

  • Địa chỉ: 36 Trần Hầu, Phường Đông Hồ
  • Điện thoại: 02973.851.563 – 02973.952.092
  • Giá phòng: 370.000 đồng – 800.000 đồng

Hải Vân

  • Địa chỉ: 55 Lam Sơn, Phường Bình San
  • Điện thoại: 02973.852.001
  • Giá phòng: 200.000 đồng – 350.000 đồng

Pháo Đài

  • Địa chỉ: Quốc lộ 80, Phường Pháo Đài
  • Điện thoại: 02973.851.849
  • Giá phòng: 300.000 đồng – 600.000 đồng

Khách sạn 1 sao tại Hà Tiên

Tên cơ sở lưu trú Địa chỉ Điện thoại Phòng đơn Phòng đôi
Hoa Mai 1-3 Trần Hầu, Phường Bình San 02973.852.670 300.000đ 400.000đ
Kim Có 2 Trung tâm Thương mại, Phường Bình San 02973.959.999 – 0916.686.141 350.000đ 550.000đ
Long Châu Trung tâm Thương mại, Phường Bình San 02973.959.189 300.000đ 500.000đ
Ngọc Yến 153, Mạc Thiên Tích, Phường Bình San 02973.952.953 250.000đ 500.000đ
Phương Thuỷ Trung tâm Thương mại, Phường Bình San 02973.959.155 250.000đ 450.000đ
Yến Kiều Trung tâm Thương mại, Phường Bình San 02972.211.999 – 0913.787.960 180.000đ – 220.000đ 240.000đ – 280.000đ
Hải Phượng Số 52, Đặng Thùy Trâm, Phường Bình San 02973.852.240 – 0984.191.344 400.000đ 600.000đ
Hưng Chiêu Phát 151, Mạc Thiên Tích, Phường Bình San 02973.950.990 200.000đ –  250.000đ
Hà Tiên – Hạnh Phúc 13,14, Hoàng Văn Thụ, Phường Bình San 02973.966.688 250.000đ
Dủ Hưng I 27A Trần Hầu, Phường Bình San 02973.951.555 300.000đ 450.000đ
Tú Anh 170 Mạc Thiên Tích, Phường Pháo Đài 02973.852.622 – 02973.700.435 250.000đ 350.000đ – 450.000đ
Gió Biển 165 Tỉnh lộ 28, Phường Pháo Đài 02973.951.667 450.000đ 750.000đ

Các cơ sở lưu trú, resort tại Hà Tiên

Tên cơ sở lưu trú Địa chỉ Điện thoại Phòng đơn Phòng đôi
Mũi Nai Bãi sau KDL Mũi Nai, Phường Pháo Đài 02978.610.458 400.000đ – 500.000đ
Hồng Hoa Bãi trước KDL Mũi Nai, Phường Pháo Đài 0918.614.195 200.000đ 300.000đ
Đồi Nai Vàng Bãi trước KDL Mũi Nai, Phường Pháo Đài 0979.873.171 700.000đ 800.000đ
Núi Đèn – Hà Tiên Đường Núi Đèn, KP3, Phường Pháo Đài 02973.965.666 470.000đ
Hồng Phát Bãi trước KDL Mũi Nai, Phường Pháo Đài 02973.951.661 300.000đ – 500.000đ 400.000đ – 800.000đ
Hải Đăng Bãi trước KDL Mũi Nai, Phường Pháo Đài 02973.852.878 – 0986.545.385 300.000đ – 700.000đ
Tà Pang (Mũi Nai)  Bãi sau KDL Mũi Nai, Phường Pháo Đài 02973.955.544 – 0939.975.656 350.000đ – 500.000đ
Nhà nghỉ dưỡng Mũi Nai Bãi sau KDL Mũi Nai, Phường Pháo Đài 02973.950.999 350.000đ – 600.000đ
Trang Đài 1 Trung tâm Thương mại, Phường Bình San 02973.966.999 250.000đ 400.000đ
Trang Đài 2 đường dẫn cầu Tô Châu, Phường Pháo Đài 0917.205.520 250.000đ 400.000đ
Gia Phúc Số 48, Đặng Thùy Trâm, Phường Bình San 02973.851.469 250.000đ 400.000đ
Hải Loan Số 48, Lê Quang Định, Phường Bình San 0944.852.249 – 02973.956.939 300.000đ 500.000đ

Giai thoại về cái giếng cổ ở Vũng Tàu

Mieu-ba-gieng-ngu-Bai-Dau

Tọa lạc trên triền Núi Lớn (90, Trần Phú, phường 5, TP. Vũng Tàu) là một ngôi miếu có tên gọi Giếng Ngự, bởi trong miếu có 1 cái giếng cổ, chứa đựng những giai thoại ly kỳ.

Theo những giai thoại được lưu truyền trong dân gian về Miếu bà Giếng Ngự (còn gọi là Giếng Gia Long), đây là nơi vua Gia Long từng đến. Truyền thuyết kể rằng, trong khi trốn chạy sự truy sát của vua Quang Trung, quan quân nhà Nguyễn đã đặt chân đến vùng núi này. Đến đây, chủ tớ cùng khát khô cả họng, nhưng không tìm ra dòng nước ngọt nào bởi bốn bề toàn là biển cả. Nhà vua bèn cắm thanh gươm xuống đất và khấn rằng, nếu ông còn “chân mệnh thiên tử” thì sẽ mang nước ngọt tới. Lát sau, xung quanh thanh gươm rỉ ra nước ngọt. Ông và quân lính vui mừng khôn xiết, vội đào quanh thanh gươm tạo thành một cái giếng lấy nước uống…

Từ đó, người xưa đồn rằng, uống nước giếng này có thể giúp con trai, con gái xinh đẹp, tài năng như công chúa, hoàng tử. Người xưa còn tin rằng, nước giếng giúp chữa lành nhiều chứng bệnh, giúp đẹp da, đẹp tóc. Trải qua hàng trăm năm, đến nay nhiều khách thập phương và người dân địa phương vẫn tìm đến để cầu an, xin nước giếng về tắm, gội cầu mong sức khỏe, bệnh tật tan biến.

Những người địa phương có gia đình sống nhiều đời ở đây cho biết, chiếc giếng cổ này không dưới 100 năm, ước khoảng vào năm 1788. Bà Nguyễn Thị Thúy Phượng (65 tuổi), cai quản ngôi miếu này kể, năm 1935, ông Hai Thiệu là ông nội của bà cùng một số người dân trong vùng lên núi đốn củi đã phát hiện ra cái am nhỏ có bức tranh vẽ thờ 5 Bà chúa của vùng đất này. Kế bên là cái giếng như giai thoại kể trên. Sau đó, ông đã xây dựng lại am thành miếu và đặt tên là Miếu bà Giếng Ngự. Từ đó đến nay, ngôi miếu được các thế hệ trong gia đình ông Hai Thiệu trông giữ và chăm sóc.

Lễ tại Miếu bà Giếng Ngự Bãi Dâu

Với những giai thoại kỳ bí, ngôi miếu thu hút khá đông khách thập phương và người dân địa phương đến thăm viếng, cầu phúc lành. Bà Trần Thị Vân (65 tuổi, ở phường 5), cho hay: “Từ nhỏ, tôi đã nghe người dân trong vùng kể về sự linh thiêng của ngôi miếu và chiếc giếng này. Tuần nào tôi cũng lên đây để cầu phúc, cầu sức khỏe, an lành cho cả gia đình và xin nước giếng về ngâm chân với ước mong khỏe mạnh”.

Có một thời gian, nhiều người dân, du khách lấy nước giếng để tắm giặt khiến cho nguồn nước dần mất đi tính linh thiêng và gây nên cảnh lộn xộn, phản cảm. Để bảo vệ nguồn nước giếng, gia đình bà Phượng đã xây lại giếng, hằng ngày múc nước lên đóng vào từng chai nhỏ cho khách hành hương mang về. Chiếc giếng có miệng khoảng 80cm, độ sâu chừng 3-4m, nhưng quanh năm có nước và rất ngọt, mát. Năm 2019, ngôi miếu đã được sửa sang, tu bổ khang trang từ nguồn đóng góp của bá tánh.

Hiện nay, ngôi miếu có khu thờ 5 Bà chúa. Tục thờ 5 Bà xuất phát từ tín ngưỡng thờ mẫu, là 5 vị thánh mẫu cai quản, bảo trợ vùng núi này. Ngoài ra, miếu còn có các quần thể thờ tự: các vị thần núi, vua Gia Long, phật bà Quan âm, ngũ hổ, Giếng Ngự.

Vào ngày 16/3 âm lịch hằng năm, tại miếu diễn ra lễ cúng Bà. Trong ngày này, gia đình bà Phượng thường tổ chức cúng 7 mâm gồm: mâm vàng, mâm bạc và 5 mâm ngũ sắc tượng trưng cho 5 Bà. Các mâm cúng đều là thực phẩm chay, hoa quả, cau trầu… Nghi thức cúng theo phong tục thờ mẫu gồm có lễ đội mâm và dâng mâm lên Bà.

Bài: MINH THIÊN

Báo Bà Rịa – Vũng Tàu

Nức tiếng khô cá chỉ vàng Vũng Tàu

Khô cá chỉ vàng Vũng Tàu

Khô cá chỉ vàng là sản phẩm ẩm thực nổi tiếng của tỉnh BR-VT. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh hàng chục cơ sở sản xuất khô cá chỉ vàng, trong đó tập trung nhiều nhất tại xã Phước Tỉnh (huyện Long Điền).

Cá chỉ vàng tên khoa học là Selaroides leptolepis, là loài cá nước mặn, ăn nổi gần bờ, phân bố ở Ấn Độ Dương và Tây Nam Thái Bình Dương. Cá chỉ vàng là hải sản có giá trị kinh tế cao, là nguyên liệu để chế biến thành nhiều món ăn ngon, đặc biệt hơn cả là món cá khô.

Hình dáng cá chỉ vàng khá đẹp, thân cá hình thoi, dẹt, đầu hình tam giác, hàm trên hơi thụt vào so với hàm dưới, dọc 2 bên thân có sọc vàng óng ánh chạy thẳng từ sau mắt đến gần đuôi. Lưng cá màu xanh xám và phơn phớt hồng. Bụng cá màu trắng bạc, trên mang cá có chấm đen. Vây và đuôi cá màu vàng, đầu hơi nhọn. Kích cỡ khi cá trưởng thành dài từ 65 đến 155mm. Thịt cá chỉ vàng tươi thơm ngon, ngọt, pha lẫn vị chua thanh.

Cá chỉ vàng tươi xẻ

Cá chỉ vàng tươi có thể chế biến thành nhiều món ăn đặc sắc như: cá chỉ vàng nướng, cá chỉ vàng kho tương gừng, cá chỉ vàng hấp quýt, rim chua ngọt, rim sa tế, cá chỉ vàng xào mắm nêm… Nhưng ngon và nổi tiếng hơn cả là khô cá chỉ vàng.

Để chế biến cá chỉ vàng tươi thành khô cá chỉ vàng phải qua nhiều công đoạn. Bước đầu tiên, đem rửa sạch cá khi vừa đánh bắt từ biển trở về. Khi cá ráo nước, ướp cá với muối, đường, bột ngọt, gia vị… rồi đem ủ khoảng hơn một ngày để gia vị thấm vào từng thớ thịt bên trong con cá. Công đoạn cuối cùng là phơi nắng, sấy khô, đóng gói để thành sản phẩm khô cá chỉ vàng, có thể sử dụng lâu dài.

Khô cá chỉ vàng là món ăn giàu dinh dưỡng, nhiều khoáng chất, giá cả rẻ hơn nhiều so với các loại hải sản khô như tôm, mực… nên được nhiều khách hàng ưa chuộng.

Cách chế biến khô cá chỉ vàng thành món ăn trong các bữa tiệc cũng rất đơn giản. Thông dụng nhất là cá chỉ vàng nướng, chấm tương ớt, đây là món nhậu khoái khẩu khi lai rai với vài ly rượu, bia. Khô cá chỉ vàng cũng có thể nướng bằng cồn như nướng mực khô. Cách nướng này vừa nhanh, vừa giữ được hương vị thơm ngọt tự nhiên của cá. Ngoài ra, khô cá chỉ vàng còn được chế biến thành nhiều món khác như, khô cá chỉ vàng chiên, khô cá chỉ vàng rim me…

Hiện nay trên địa bàn tỉnh BR-VT có nhiều cơ sở chế biến khô cá chỉ vàng, nhưng tập trung nhiều nhất ở xã Phước Tỉnh (huyện Long Điền). Theo lời bà Nguyễn Thị Nhung, chủ một đại lý hải sản ở Bến Đình, TP. Vũng Tàu, cá chỉ vàng ở Phước Tỉnh cung cấp cho hầu hết các đại lý hải sản lớn trên toàn tỉnh và nhiều đại lý ở TP. Hồ Chí Minh cũng như một số tỉnh miền Bắc.

Có thể kể đến một số cơ sở chế biến khô cá chỉ vàng nổi tiếng trên địa bàn tỉnh như: Cơ sở Nga Sơn (ấp Phước Thái, xã Phước Tỉnh). Cơ sở này có hơn 20 năm làm nghề, mỗi tháng cung cấp khoảng 3 tấn khô cá chỉ vàng cho thị trường trong và ngoài tỉnh. Tại cơ sở này, khô cá chỉ vàng được sản xuất theo quy trình sạch, khép kín, từ khâu nhập nguyên liệu cho đến khâu thành phẩm. Nguyên liệu cá tươi được nhập về từ các tàu ghe đánh bắt hải sản, có chứng nhận vệ sinh an toàn thực phẩm. Về đến nơi chế biến, công nhân dùng giấy quỳ thử lượng urê để đảm bảo cá tươi, không bị ướp hóa chất trong quá trình vận chuyển. Chỉ những nguyên liệu cá chỉ vàng đạt chuẩn mới được đưa vào khu sơ chế. Hay như Công ty CP Chế biến Xuất nhập khẩu thủy sản (Baseafood) chuyên sản xuất, chế biến và cung cấp các mặt hàng thủy hải sản đạt tiêu chuẩn châu Âu cũng là một nhà chế biến khô cá chỉ vàng nổi tiếng.

TRẦN BÌNH

Báo Bà Rịa – Vũng Tàu

Đặc sắc bún Hà Tiên

Quan-bun-Ha-Tien

Hương vị và cách chế biến các món bún Hà Tiên như: bún kèn, bún nhâm, bún xiêm lo, đã làm nức lòng thực khách gần xa. Để thưởng thức những món này quý hành khách dễ dàng tìm kiếm tại các quán ăn nhỏ chuyên bán đồ ăn sáng dọc các con phố của thành phố và khu chợ ẩm thực của Trung tâm thương mại Hà Tiên.

BÚN KÈN

Người Nam bộ, nói đến kèn ta nghĩ ngay đến nước cốt dừa mà người ta hay sử dụng như “bí kèn”, ốc len kèn dừa…, nhưng nước kèn chan bún không như thế, càng không phải như cà ri. Trong nước kèn chan bún có nguyên liệu chính là cá biển. Một số loại cá biển thường dùng như: cá đưng, cá nhồng, cá rựa và ngon nhất là cá lẹp vàng.

Tô Bún Kèn Hà Tiên

Phải qua nhiều công đoạn chế biến rất tỉ mỉ mới có được tô bún kèn ngon đặc sắc. Cá biển tươi (Có thể thực hiện được với nhiều loại cá khác nhau nhưng sẽ ngon hơn nếu ta chọn được loại cá Nhòng, cá Lẹp Vàng hoặc cá Rựa… bởi thịt cá trắng và rất ngọt). Sau khi mua cá về làm sạch, cho vào nồi nước sôi luộc chín, vớt cá ra để ráo và nguội, nước luộc cá để riêng. Sau đó gở lấy thịt cá bỏ xương, giã thịt cá với 1 phần tỏi, sả, nghệ cho nhuyễn và thơm

– Hạt điều được phi lên với dầu ăn rồi cho ra chén để riêng

– Tôm khô: Chọn loại tươi ngon, có vị ngọt tự nhiên, ngâm nước cho mềm, vớt ra để ráo và giã nhuyễn

– Cơm dừa nạo ra vắt lấy nước cốt đầu đậm đặc (nước thứ nhất) để riêng 2 phần, nước dão dừa (nước thứ 2,3) để riêng.

– Tỏi, sả, hành lá: Băm nhuyễn để riêng 3 phần

– Các loại rau lặt và rửa sạch để ráo nước, riêng đu đủ sống và dưa leo được bào sợi nhỏ.

– Tiếp theo, phi tỏi, sả vàng cho thịt cá vừa được giã nhuyễn vào nồi xào thơm, cho nước luộc cá và nước cốt dừa dão vào nấu chung với cá đến khi nước trong nồi sôi lên thì cho nước cốt dừa vào để lửa riu riu giữ nóng, cho thêm ít tỏi, sả, nghệ băm nhuyễn vào làm tăng thêm vị thơm của món ăn. Nêm gia vị cho vừa ăn, cho nước hạt điều vào tạo màu sắc đẹp mắt cùng ít hành lá.

Nồi bún nước kèn khi đã nấu xong có màu vàng của hạt điều khá hấp dẫn. Trong tô bún nước kèn, phía dưới là giá sống, dưa leo xắt nhỏ, đu đủ bào sợi và rau thơm, trên là bún, sau khi chan nước kèn vào tô, nhìn có một lớp cá như cá chà bông trên mặt, tôm khô giã nhuyễn cho lên mặt. Mùi thơm của cá biển, tôm khô, vị nồng nàn của bột hạt điều, cay thơm của các loại rau đã hình thành nét văn hóa ẩm thực rất riêng của vùng biển Tây Nam.

Tại đường Chi Lăng quý khách có thể ghé quán dì Của gần nhà nghỉ Việt Toàn để thưởng thức món bún này.\

Xem thêm: Nhớ mãi hương vị Bún Kèn Phú Quốc

BÚN NHÂM

Nhâm còn được gọi là gỏi, các tỉnh phía Bắc gọi là nộm, Nhâm được làm từ trái đu đủ mỏ vịt (đu đủ mới vừa chín, vỏ có màu vàng giống mỏ vịt) bào hoặc xắt sợi thêm đường, giấm, ớt, nước mắm, tôm luộc và thịt ba chỉ cùng rau thơm là đã có ngay dĩa nhâm.

Bún nhâm là bún khô bởi món ăn giản đơn và mộc mạc này nguyên liệu chỉ gồm có sợi bún tươi, đu đủ sống bào sợi, bắp chuối xắt sợi, rau sống, tôm khô (xay cho bông lên), nước cốt dừa cùng nước mắm pha chua ngọt. Vậy mà, với tài khéo léo của người bán, tô bún được dọn ra trông thật hấp dẫn với màu trắng của bún, màu xanh của rau thơm, màu cam đỏ của chà bông tôm, màu vàng cam của đu đủ sống bào sợi, và màu đỏ của ớt.

Bún Nhâm Hà Tiên

Tất cả màu sắc của nguyên liệu thôi đã làm đẹp lòng người thưởng thức, vì toàn là vật liệu sống nên tô bún nhâm không có hương nồng, không có mùi của lửa củi, sợi bún vừa ướt nước cốt dừa với cảm giác giòn giòn của nhâm, mùi của rau thơm cộng với đủ vị mặn, ngọt, chua, cay, béo, tạo cho món bún thêm hương vị dân giả. Làm bún nhâm đơn giản, không cần nấu nướng, không cần hâm nóng nên được nhiều gia đình áp dụng khi muốn “ trở món” lâu dần trở thành món ăn ưa thích của người dân Hà Tiên. Ra chợ vào buổi sáng thế nào cũng bắt gặp những quầy bán bún nhâm, bún kèn. Hãy nếm thử để tận hưởng hương vị dân dã của vùng biển Tây Nam.

Để thưởng thức món Bún kèn và bún nhâm, quý khách nên tham khảo hai địa chỉ Số 82 Chi Lăng – KP3 – Phường Bình San – ĐT: 02972.472.473 và Số 9 Mạc Tử Hoàng – Phường Bình San – ĐT: 0919.951.291

BÚN XIÊM LO

Bún Xiêm Lo có nguồn gốc từ nước bạn campuchia, khi về tới Hà Tiên, bún Xiêm Lo đã được cách điệu dần để phù hợp với khẩu vị của người Việt và trở thành một trong những món ăn mang đậm nét riêng của Hà Tiên.

Cũng từ những nguyên liệu và cách chế biến món bún Kèn chúng ta có một sự gia giảm nhỏ để tạo nên một món bún Xiêm Lo không kém phần thơm ngon so với hai món trước.

Bún Xiêm Lo Hà Tiên

Ở món bún này sẽ không có nước cốt dừa mà được thay thế bằng củ ngải bún, bông súng chẻ làm tư và nước hầm từ xương heo.

Thịt cá biển tươi đã luộc chín đem giã nhuyễn cùng với tỏi, sả, nghệ, ngải bún. Tiếp tục cho vào nồi xào thơm lên với tỏi, sả sau đó cho nước luộc cá và nước hầm từ xương heo vào nấu sôi lên, nêm vừa ăn để lửa liu riu dùng nóng.

Khi dùng cho bún ra tô cùng với đu đủ, dưa leo bào sợi, bông súng, tôm khô giã nhuyễn, chan nước dùng vào là có thể thưởng thức.

Với tô bún Xiêm Lo, bạn sẽ không có được cái cảm giác béo ngậy của nước cốt dừa nhưng sẽ cảm nhận được vị ngọt thơm từ nước luộc cá, nước hầm từ xương heo và tôm khô giã nhuyễn hòa quyện vào nhau, sẽ cho bạn món ăn nhẹ không kém phần thú vị.

Để thưởng thức những món bún xiêm lo quý khách nên tham khảo quán tại địa chỉ Số 44 Tỉnh lộ 28 – Phường Bình San – TP Hà Tiên

 

 

Danh sách các di tích được xếp hạng ở Hà Tiên

Di tích lịch sử Nhà tù Hà Tiên

Danh sách di tích được công nhận: nhà tù Hà Tiên, Thạch Động, Mũi Nai, Bình San, Đá Dựng, chùa Xà Xía, chùa Phù Dung, chùa Tam Bảo, đình Thần Thành Hoàng

1. Di tích lịch sử nhà tù Hà Tiên – được công nhận ngày 05/09/1989 xếp hạn cấp Quốc Gia.

2. Di tích thắng cảnh Thạch Động – được công nhận ngày 21/01/1989 xếp hạn cấp Quốc Gia.

3. Di tích thắng cảnh Mũi Nai – được công nhận ngày 21/01/1989 xếp hạn cấp Quốc Gia.

4. Di tích lịch sử văn hóa Bình San – được công nhận ngày 21/01/1989 xếp hạn cấp Quốc Gia.

5. Di tích danh thắng Đá Dựng – được công nhận ngày 03/08/2007 xếp hạn cấp Quốc Gia.

6. Di tích chứng tích chiến tranh chùa Xà Xía – được công nhận ngày 11/08/2003 xếp hạn cấp Tỉnh.

7. Di tích lịch sử văn hóa chùa Phù Dung – được công nhận ngày 07/04/2004 xếp hạn cấp Tỉnh.

8. Di tích lịch sử văn hóa chùa Tam Bảo – được công nhận ngày 03/09/2004 xếp hạn cấp Tỉnh.

9. Di tích lịch sử văn hóa Đình thần Thành Hoàng – được công nhận ngày 27/01/2009 xếp hạn cấp Tỉnh.

Nhật Phương (hatien.kiengiang.gov.vn)