Đề nghị tăng 2 tàu cao tốc Vũng Tàu – Côn Đảo

Ngày 30-10, UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tổ chức cuộc họp lấy ý kiến về việc điều chỉnh dự án đầu tư tàu cao tốc tuyến Vũng Tàu – Côn Đảo của Công ty CP Tàu cao tốc Phú Quốc.

Theo đó, Công ty CP Tàu cao tốc Phú Quốc đã đưa vào hoạt động 2 tàu cao tốc có sức chứa 598 hành khách/tàu chạy tuyến Vũng Tàu – Côn Đảo và Sóc Trăng – Côn Đảo với tổng doanh thu hơn 116,5 tỷ đồng, lợi nhuận thu về hơn 40,6 tỷ đồng.

Hiện nhà đầu tư đề nghị tăng thêm 2 tàu cao tốc công suất vận chuyển khoảng 1.000 hành khách/tàu để tuyến hoạt động được ổn định, ít phụ thuộc vào thời tiết và giảm say sóng cho hành khách. Ngoài ra, công ty cũng đề nghị điều chỉnh tăng vốn thực hiện dự án từ 175 tỷ đồng lên 475 tỷ đồng và được khai thác thêm tuyến Cần Thơ – Côn Đảo.

Kết luận cuộc họp, Chủ tịch UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Nguyễn Văn Thọ cho biết, tỉnh ủng hộ việc đóng và đưa tàu cao tốc mới đi vào hoạt động, nhưng khi đưa 2 tàu mới khai thác thì phải ngưng hoạt động 2 tàu cũ ở tuyến đã được cấp phép. Ngoài ra, tàu không được chở các phương tiện giao thông của du khách ra huyện đảo, để tránh gây áp lực giao thông trên địa bàn.

NÔNG NGÂN

Báo Sài Gòn Giải Phóng

 

Rate this post

Tham quan Nhà Lớn Long Sơn và tham dự Lễ hội Trùng Cửu tại Vũng Tàu

Nhà Lớn Long Sơn là nơi thờ cúng đạo Khổng Tử, và nhà Thánh (thờ Khổng Tử). Chánh Điện là khu vực đầu tiên được xây dựng, tiếp sau đó là lầu Tiên, lầu Phật, lầu Cấm, nhà khách, vườn hoa và cổng tam quan lần lượt được xây dựng. Sau khi khu vực thờ cúng được hoàn thành, ông cho xây dựng lầu Dài, làm nơi nghỉ ngơi cho người đến thăm viếng, rồi tiếp tục xây 5 dãy phố cho cư dân đến lập nghiệp, trường học dạy chữ quốc ngữ và nhiều công trình thiết thực khác như nhà chợ, nhà máy xay lúa gạo, kho chứa thóc, nhà đèn, nhà thợ mộc, nhà bếp và nhiều hồ chứa nước ngọt … Tất cả những công trình này đều nằm trong một khu nên được gọi là Nhà Lớn, sau khi ông mất, khu di tích này còn được gọi là đền Ông Trần.

Mái nhà lớn Long Sơn

Nhà Lớn Long Sơn được xây dựng với phong cách pha trộn giữa tín ngưỡng dân gian (trời, đất) với Nho giáo, Lão giáo của Khổng Tử. Đa phần các vật dụng chính trong Nhà Lớn đều được làm bằng gỗ xà cừ và cẩn hoa cương. Tại đây cũng có rất nhiều món đồ cổ quý giá như bộ tủ thờ, bộ lư hương và chân đèn cổ, nhiều bức hoành phi, liễn thờ, những vật dụng này được ông sưu tầm và đem về lưu trữ sau những chuyến hàng có lời từ Sài Gòn.

Tín ngưỡng thờ Khổng Tử không yêu cầu quá nhiều nhang, đèn, kinh, kệ mà chủ yếu là những lời dạy, sách của đạo giáo mang ý nghĩa khai mở tri thức và khuyên răn con người. Du khách đến đây sẽ được đi tham quan hoàn toàn miễn phí, thậm chí còn được thưởng thức khoai mì, bánh ít trần, nhưng có một chú ý du khách nên chụp hình tại những nơi thờ cúng, chánh điện.

Khu vực đón tiếp và nghỉ ngơi tạm cho khách khi ghé Nhà Lớn – Long Sơn, mà gặp giờ qui định chưa đi tham quan được.

Khi Ông Trần mất, ngoài đạo giáo của Khổng Tử, ở đây còn hình thành tín ngưỡng đạo ông Trần, vốn pha trộn nhiều đạo giáo khác nhau, nhưng chủ đích vẫn hướng con người đến với chân – thiện – mỹ. Con cháu của ông vẫn giữ gìn những phong tục, tập quán của ông, vẫn mặc quần áo bà ba, đi chân đất, tóc búi gọn gàng, để giữ vững hình tượng mà Ông Trần để lại, từ sinh hoạt đến cả tính cách đậm chất Nam Bộ. Nếu bạn có cơ hội ghé qua đảo Long Sơn, hãy nhớ ghé khu di tích Nhà Lớn Long Sơn, để tham quan Nhà Lớn và tìm hiểu về đạo Ông Trần

Huyền thoại về người đi mở đất

Chúng tôi về thăm Nhà Lớn Long Sơn trong một chiều cuối thu mát mẻ. Dì Lê Thị Kiềm, hay còn gọi là dì Ba Kiềm, mặc áo bà ba đen, tóc búi gọn gàng đón chúng tôi, chậm rãi rót trà xanh và bày mứt đãi khách. Dì Ba Kiềm năm nay đã 74 tuổi, là cháu đời thứ tư của ông Lê Văn Mưu – người khai hoang mở đất Long Sơn.

Lối vào Nhà lớn Long Sơn

Theo lời dì Ba Kiềm, ông tên là Lê Văn Mưu nhưng người dân xã đảo thích gọi ông bằng tên theo kiểu miền Nam hơn: Ông Trần (vì ông hay ở trần khi phát quang ruộng rẫy) hay ông Nhà Lớn. Ông là người làng Thiên Khánh, tổng Hà Thanh, quận Giang Thành, nay là xã Tân Khánh Hòa, thị trấn Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang. Khoảng năm 1900, ông cùng đoàn người trên 5 chiếc thuyền lớn đã cập bến cù lao Núi Nứa (đảo Long Sơn ngày nay) trên hành trình trốn chạy sự truy nã của giặc Pháp vì tội tham gia lực lượng khởi nghĩa. Đảo khi ấy rất hoang vắng, bốn bề là rừng ngập mặn bao quanh và nhiều thú dữ; điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, nắng hạn, thiếu nguồn nước, đất đai chật hẹp, muỗi mòng rắn rết… Thấy nơi đây phong thủy hữu tình, có thế núi sông, biển cả giao hòa nên ông quyết định dừng thuyền, lập làng. Dưới sự chỉ huy của ông, nhóm người mới tới chặt cây dựng chòi, chiêu mộ bá tánh đến khai hoang mở đất. Từ đây hình thành nên một khu dân cư mới.

“Vào năm 1909, Ông Trần đã đề đạt với nhà cầm quyền Pháp ở Bà Rịa cho lập ra nhà thờ Khổng Tử để làm nơi thờ cúng của người dân ấp Bà Trao (nay là xã Long Sơn). Được sự chấp thuận, năm 1910, Ông Trần cho xây dựng Nhà Thánh (thờ Khổng Tử) làm khu chính điện. Sau đó, ông tiếp tục xây dựng Lầu Trời, Lầu Tiên, Lầu Phật, và sửa lại Nhà Hậu vốn có từ trước cho rộng lớn và khang trang hơn. Năm 1927, Ông Trần lại cho cất thêm Lầu Cấm (làm tiền điện), 2 ngôi nhà khách, cổng tam quan, khu vườn hoa, 2 cổng ra vào khu vực thờ cúng. Sau đó, ông cho dựng tiếp Lầu Dài, phần dưới để trống làm nơi ăn nghỉ cho người đến thăm viếng và lễ bái, tầng trên bày các bàn thờ”, dì Ba Kiềm cho hay.

Kể từ đó và những năm tiếp theo, Ông Trần cho xây cất 5 dãy phố (cho lưu dân cư ngụ khi mới đến lập nghiệp), nhà Long Sơn hội (nơi hội họp), trường học (dạy chữ quốc ngữ cho trẻ), nhà chợ, nhà máy xay xát lúa gạo, kho chứa thóc, nhà đèn, nhà thợ mộc, nhà bếp, các hồ và lu dùng để tích trữ nước ngọt.

Bản thân Ông Trần vừa kết hợp nghề làm muối và trồng lúa nước. Ông còn chữa bệnh cho người dân trong vùng bằng cây lá thuốc Nam sẵn có hái từ trong núi. Đặc biệt cái “đạo ở đời” mà ông trao truyền ở đây mang tính dân tộc, đơn giản mà thiết thực, không có sự hỗ trợ của tiếng chuông, tiếng mõ, không kinh kệ, không ăn chay, kiêng kị, do đó được những người dân chất phác làm nghề nông, nghề muối, nghề rừng ở đây hưởng ứng. Những người đàn ông lớn tuổi cũng bắt chước ông để râu, tóc dài búi tó ở sau gáy, mặc bộ bà ba đen và đi chân đất. Thấy công việc làm ăn ngày càng thuận lợi, ai nấy đều khấm khá, để tính chuyện an cư lâu dài, ông Trần xin phép được quy dân lập ấp. Được nhà cầm quyền chấp thuận, ông đứng ra quy tập dân ở các nơi, nhất là miền Tây Nam Bộ đến khai phá đất đai… Ấp Bà Trao cứ thế mà hình thành.

Mái chèo tại Nhà Lớn Long Sơn

Những công trình do Ông Trần xây dựng đều nằm chung một khuôn viên nên nhân dân quen gọi đó là Nhà Lớn. Từ khi Ông Trần mất năm 1935, nhiều thế hệ người dân địa phương đã bảo tồn, gìn giữ những nếp sống chung một cách nghiêm ngặt. Đó là phương châm, lấy “Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín” làm lẽ sống. Chính vì thế, người từ khắp bốn phương tìm đến đều yên bề làm ăn và sống theo triết lý về đạo làm người. Ông Lê Văn Mưu được tôn vinh thành Ông Trần, vì cả cuộc đời ông chỉ ở trần đi chân đất. Tóc dài búi ngược gọn gàng. Suốt ngày ông cày cuốc và ra đồng làm muối. Ông sống với tấm lòng chân tình, cứu giúp người khi hoạn nạn, sẵn sàng hy sinh vì người khác. Những nguyên tắc ấy được tồn tại cho đến ngày nay. Theo dì Ba Kiềm thì: “Đó chỉ là đạo làm người. Ngày xưa Nhà Lớn thường dạy về “Nhân – Lễ – Nghĩa – Trí – Tín,… Dân cứ thế truyền miệng từ cha mẹ sang con cái, ông bà sang cháu chắt”.

“Việc phải thì làm”

Những ngày này, con cháu Nhà Lớn đang đóng từng bao gạo, mỗi bao từ 10-15kg để phát cho người dân nghèo xã đảo Long Sơn. Như đã thành thông lệ, mỗi lần có lúa gạo bá tánh từ các tỉnh miền Tây gửi về, ngoài dùng cho việc đón khách và các ngày lễ vía trong năm, Nhà Lớn lại phát gạo cho người dân xã đảo, như một tập quán sẻ chia từ bao đời mà ông Trần truyền lại.

Dì Ba Kiềm dẫn chúng tôi đi xem kho lúa, vừa đi vừa kể: “Ở Long Sơn người nghèo không sợ thiếu ăn. Nhiều thì không có chứ gạo, nước tương, bột ngọt, dầu ăn lúc nào Nhà Lớn cũng có sẵn để chia sẻ cho người nghèo, thiếu ăn. Người khó nhiều thì cho theo tháng, người khó ít thì một năm cho vài lần coi như động viên họ làm ăn”.

Kho lúa, gạo rộng chừng 20m2, chất đầy bao lúa và gạo được xát sẵn. Theo lời kể của dì Bùi Thị Phú, cháu ngoại đời thứ tư của Ông Trần thì đây là gạo do ghe tàu của bá tánh ở Kiên Giang, Tiền Giang và các tỉnh miền Tây gửi lên sau vụ thu hoạch lúa Đông Xuân. “Năm nào cũng vậy, sau mùa gặt là hàng ngàn giạ lúa được phơi khô, quạt sạch gửi lên cho Nhà Lớn đặng lo cơm nước cho bá tánh về đây tham quan, kỉnh ông”, dì Phú nói.

Lịch gói bánh tại Nhà Lớn Long Sơn

“Nhưng câu chuyện này lại được bắt nguồn từ việc làm nhân nghĩa của Ông Trần từ năm xưa, bá tánh nhờ ơn ông nên gửi lúa gạo về”, dì Ba Kiềm tiếp lời. Đó là vào năm Giáp Thìn (1904), một trận bão lớn đã tàn phá suốt dải ven biển Nam bộ gây nên nạn lụt lội, thiệt hại lớn về nhà cửa hoa màu cho dân chúng. Lúc đó, Ông Trần xuất 7 thiên lúa (7.000 giạ lúa) cho những người thân tín mang về Gò Công, Cai Lậy, Mỹ Tho… cứu trợ và đón người bị nạn lũ lụt về Bà Trao cư trú làm ăn. Tiếng lành đồn xa, các tầng lớp nhân dân nô nức bảo nhau tới ấp Bà Trao lập nghiệp. Ông Trần thu nhận, giao đất khẩn hoang cho bất cứ ai, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn miễn là chịu tuân theo những điều răn dạy của ông. Trước làn sóng di cư ào ạt, dân số của ấp Bà Trao tăng lên nhanh chóng. Cư dân theo Ông Trần cư trú thành tập đoàn quần tụ trong khu vực phía Đông Núi Nứa. Họ xây dựng nhà cửa theo những lớp vành khăn ôm lấy chân núi và có quan hệ thân thuộc với nhau.

Theo lời kể của các cụ già ở Long Sơn, Ông Trần đối xử với dân bình đẳng và khiêm nhường. Ông tự xưng là “người này”, gọi người khác là “người lớn” hoặc người nhỏ” tuỳ theo tuổi tác của họ. Buổi tối sau những giờ lao động mệt nhọc, khi việc nhà đã được lo liệu xong, ông thường tập trung dân tại nhà thánh để nghe đọc truyện hoặc kể truyện về những gương trung hiếu, tiết nghĩa. Mỗi khi nghe xong một câu chuyện, Ông Trần thường cắt nghĩa cặn kẽ cho người nghe. Những buổi tập trung sinh hoạt văn hóa tại nhà thánh còn là dịp để Ông Trần đứng ra phân xử, hòa giải những mâu thuẫn, va chạm xích mích của người dân theo ông. Đồng thời ông khuyên bảo họ ăn hiền ở lành, làm việc thiện, tránh việc ác khơi gợi cho họ lòng yêu nước, tự hào dân tộc. Giữ gìn những phong tục tập quán của cha ông, không hợp tác với thực dân xâm lược. Ông Trần còn làm thuốc để chữa trị bệnh cho dân rất được tín nhiệm. Những người từ nơi khác đến đều được ông thu nhận, cho ở trong những đãy nhà dành cho bá tánh (dãy phố) và khoanh đất, cấp dụng cụ, vốn liếng cho họ làm ăn trong vài ba năm. Chừng nào đã đủ sống thì cất nhà ra ở riêng. Mọi người dân theo ông đều sinh hoạt bình đẳng, không phân chia ngôi thứ, tầng lớp. Họ sống tự giác và hòa thuận theo những qui ước chung do ông Trần đặt ra.

“Sinh thời, Ông Trần chỉ phát huy cái hay cái đẹp của đạo Tứ ân hiếu nghĩa, không theo hình thức cư sĩ, không cần ly gia cắt ái, không quan tâm đến giáo lý mà chú tâm đến việc thờ cúng ông bà tổ tiên, lấy việc tu nhân làm nền tảng, không ép buộc ăn chay, không có mê tín dị đoan. Tức đạo Ông Trần là đạo làm người. Ông Trần thường dạy về nhân, lễ, nghĩa, trí, tín, trung, hiếu, cứ thế mà truyền đời, nên được tôn sùng như một tôn giáo”, cụ Võ Văn Giót, 82 tuổi – một hương chức Nhà Lớn nói thêm.

Trong không khí rộn ràng chuẩn bị đón đoàn khách từ Tây Ninh tới, bất chợt chúng tôi hình dung rõ nét hơn, cụ thể hơn về lời của dì Ba Kiềm khi nói rằng, Nhà Lớn là một cộng đồng tín ngưỡng hướng tới điều thiện, ăn hiền ở lành, việc gì phải thì làm, quấy thì chừa, việc gì nhà nước cấm thì đừng…

Những tục lệ huyền bí

Theo tục lệ ở đây, khi có người qua đời, Nhà Lớn sẽ trích quỹ mua tặng nhà có đám 6 tấm lá, 2 tấm đệm, 4,5m vải trắng, 4,5m vải đỏ và một bao gạo cùng các nhu yếu phẩm phục vụ đám ma. Ngoài hiện vật, mỗi nhà có đám còn được hỗ trợ 500.000 đồng để thuê người xây mộ. Đưa cho chúng tôi xem từng xấp vải đỏ, vải trắng, dì Ba Kiềm cho hay: Số vải này được Nhà Lớn đặt mua ở chợ Bà Rịa. Sau khi mua về, các dì cắt ra mỗi khúc vải 4,5m, xếp vuông vức, gọn gàng để vào tủ. Người chết sẽ dùng chung “lồng liệt” (hay còn gọi là quan tài). “Lồng liệt” có nắp được làm từ cây lồ ô, xung quanh thân đan bằng tre, tạo thành một cái lồng, phía dưới đáy là miếng gỗ. “Lồng liệt” được phủ sơn đỏ, hai đầu vẽ những bông sen vàng. Có thể hình dung “liệt” dùng để đặt xác chết, còn “lồng” dùng để che xác chết. “Hồi xưa ông quan niệm “sống đồng tịch đồng sàng, thác đồng quan đồng quách”, nghĩa là lúc sống thì mọi người cùng làm việc, ăn chung, do vậy đến khi chết cũng phải dùng chung một cái “lồng liệt”. Tục lệ này còn mang ý nghĩa sâu xa nữa là không phân biệt người sang hay dân hèn, người có chức quyền hay không đều bình đẳng như nhau khi chết”, dì Ba Kiềm giải thích thêm.

Cổng Nhà Lớn Long Sơn

Tại căn phòng dùng để “lồng liệt”, ngay cạnh đó là những bó lá dừa nước đã được phơi khô, xếp ngay ngắn vào góc nhà; những tấm cói được xếp lớp, ngăn nắp kê dưới bàn…

Cũng theo lời kể của dì Ba Kiềm, ở Long Sơn, đám tang được tổ chức rất đơn giản. Người đã mất được quấn trong 3 lớp. Lớp thứ nhất là 4,5m vải trắng, lớp thứ hai là một đôi chiếu, lớp thứ ba là 4,5m vải đỏ, sau đó quấn tiếp bằng 5 ruột vải trắng, gọi là “võng thân” – dùng để đưa thi hài xuống huyệt, rồi thi hài mới được đặt vào chiếc bao quan thỉnh ở Nhà Lớn về. Dưới đáy huyệt đã được để sẵn một đôi đệm, một đôi chiếu. Sau khi đưa thi hài xuống, người ta dùng 6 tấm lá chằm (lá dừa bện lại thành tấm, người xưa dùng để lợp nhà) xếp vào huyệt, mỗi bên 3 tấm, mô phỏng hình nóc nhà 2 mái. Sở dĩ vậy là do người dân nơi đây luôn có ý niệm người đã khuất cũng cần có nhà để không phải bơ vơ, hoang lạnh.

Chiếc lồng liệt (áo quan) được những người theo đạo ông Trần dùng chung khi mất.

Tang lễ của những người theo Ông Trần ở Long Sơn thật đơn giản, không rườm rà, không gây tốn kém và có nhiều điểm tiến bộ. Nhà có người quá cố không làm cỗ đãi khách đến viếng. Xác chết không quàn tại nhà quá 24 giờ (nếu chết buổi sáng thì buổi chiều đưa đi chôn, nếu chết buổi chiều hoặc buổi tối thì chôn vào sáng ngày hôm sau). Không cần chọn giờ làm lễ nhập quan, di quan… Về quy định không dùng quan tài, xác chết chỉ chôn không trong đất, tương truyền được Ông Trần giải thích, con người sinh ra và lớn lên nhờ đất, nước, không khí… đến lúc người ta chết đi cũng phải trả về với đất, nước… Việc chôn cất như vậy là để mau tiêu hủy, chóng siêu thoát, ít tốn kém vô ích và bảo đảm vệ sinh công cộng. Tục xả tang tại huyệt cũng được giải thích là không gây ưu phiền và tốn kém cho người còn sống. Sau khi hạ huyệt xong chiếc quan tài được lấy lại và đem về chỗ cũ. Trong một ngày nếu như xã có 2-3 người chết thì người dân sẽ tự phân chia giờ để chôn cất. Mộ phần sẽ được gia đình xây ngay sau đó. Mộ được đắp thành nấm, không dựng bia, khắc chữ.

Theo các cụ cao niên ở Nhà Lớn, từ ngày khai hoang lập làng đến nay, đây là chiếc “lồng liệt” thứ hai được dùng cho việc chôn cất. Chiếc đầu tiên từ thời Ông Trần còn sống nhưng sau đó vì thời gian và hỏng nhiều nên được làm lễ tiêu hủy và cho người làm chiếc khác để tiếp tục tục lệ trên. Chiếc “lồng liệt” đã được sử dụng bao năm qua, lâu lâu Nhà Lớn lại tu sửa bằng cách quét sơn lên quan tài, hàn gắn những vết nứt để làm ấm lòng bao người đã khuất.

Lưu giữ nét đẹp văn hóa cho muôn đời sau

Đến Nhà Lớn vào ngày 21 tháng Chạp hàng năm, du khách sẽ bắt gặp hình ảnh những ông đồ mặc áo đen, đầu đội khăn vấn, ngồi trên chiếu, tay miệt mài viết liễn. Mỗi năm có 3 kỳ viết và dán liễn, đó là lễ Vía Ông, lễ Trùng Cửu và Tết Nguyên đán.

Theo lời của dì Ba Kiềm thì tục viết liễn có từ trăm năm nay kể từ khi ông Nhà Lớn mở đất Long Sơn. Ông Trần là người thông thạo nghề nông, có tài tổ chức, tập hợp quần chúng, giàu lòng nhân ái, sống cương trực và có bản lĩnh. Bản thân cuộc sống của ông là tấm gương cho những người theo ông lập nghiệp noi theo. Chính vì vậy mà những điều ông truyền dạy (về đạo làm người, về nếp sống sinh hoạt…) có giá trị sâu sắc, đi vào cuộc sống của dân chúng, được họ tự giác thực hiện, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác như một nét đẹp, một chuẩn mực cuộc sống. Sau khi Ông Trần mất đi, con cháu và tín đồ vẫn duy trì tập quán cũ, trong đó có tục viết liễn đón xuân… Đây cũng là nơi hiếm hoi còn lưu giữ được phong tục viết liễn đón xuân tại BR-VT. Trong hệ thống câu đối liễn ngày Tết ở Nhà Lớn thường là có nội dung giáo dục, phát huy truyền thống tốt đẹp của tổ tiên về Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí – Tín ở đời, trong đó có nhiều câu dạy con cháu cách đối nhân xử thế, giữ gìn điều nhẫn hòa…

Dẫn chúng tôi đi tham quan, cụ Lê Văn Mai, 73 tuổi, hậu duệ đời thứ 4 của Ông Trần cho biết: Trải qua 7 đời, Nhà Lớn vẫn giữ gìn nét đẹp văn hóa truyền thống viết liễn và dán liễn. Những câu liễn được dán ở khắp mọi nơi. Mỗi khu vực như cửa ra vào, đền thờ, phố, chợ… có những loại liễn khác nhau và nội dung khác nhau. Trong nhà hậu ở Nhà Lớn có dán câu: Thiên tăng tuế nguyệt nhơn tăng thọ/ Xuân mãn càn khôn phước mãn đường (Trời thêm tuổi, người thêm sống lâu/ Mùa xuân đến phước lộc đầy nhà). Trong khu vực chính ở Nhà Lớn có câu Thiên hữu tứ thời xuân tại thủ/ Nhơn sanh bá hạnh hiếu duy tiên (Trời đất có bốn mùa thì mùa xuân là mùa đầu tiên/Con người có bốn đức hạnh thì chữ hiếu phải lấy làm đầu) hay Tứ thời hòa khí xuân thường tại/Nhất thất an cư khánh hữu dư (Bốn mùa không khí bình hòa nhưng mùa xuân là mùa mát mẻ nhất/ Xuân đến chúc cho nhà nhà bình an, khỏe mạnh, may mắn)… Còn đối với liễn dán ngoài chợ, hình thức và nội dung cũng phải phụ thuộc vào từng mặt hàng buôn bán để viết. Liễn dán ngoài chợ, hình thức và nội dung cũng phải phụ thuộc vào từng mặt hàng buôn bán để viết. Chẳng hạn, ở cổng chợ thường dán câu “Đông – Tây – Nam – Bắc tài nguyên tựu/ Xuân – Hạ – Thu – Đông lợi đường thông” (Đông – Tây – Nam – Bắc ai có cái gì cũng mang đến tụ họp/Xuân – Hạ – Thu – Đông mọi đường đi đều thuận lợi); hàng bán trà thì có câu “Nhất bôi tiên động cao nhân thưởng/ Sở ẩm năng giao dật sĩ hiền” (Trao một chén trà cho người thưởng thức ở trong động/Việc ăn uống rất vui say đối với kẻ hiền sĩ)…

Chuẩn bị món ăn thiết đãi khách thập phương về nhà lớn Long Sơn

Cũng theo lời kể của cụ Lê Văn Mai, ngày viết liễn và dán liễn được chọn cố định: Lễ Vía Ông viết liễn ngày 12, dán liễn ngày 13; Lễ Trùng Cửu viết liễn ngày 2, dán liễn ngày 5; Tết Nguyên đán viết liễn ngày 21, dán liễn ngày 22 tháng Chạp. Cứ đến ngày này là những người biết chữ Hán như cụ Lê Văn Mai lại mặc áo the đen, đầu đội khăn vấn vào Nhà Lớn viết liễn. Trước khi ngồi vào chiếu trải giữa nhà hậu để mài mực Tàu, rọc giấy đỏ, chắp bút lông, mọi người trang trọng xếp hàng lên điện thờ thắp nhang kỉnh Ông. Mỗi dịp Tết về, Nhà Lớn tổ chức viết và dán gần 200 tờ liễn vuông, hơn 60 tờ ngang, khoảng 300 đôi liễn dài… Hàng trăm năm đã trôi qua, những người theo đạo Ông Trần vẫn giữ được nét văn hóa cổ xưa, giản dị, mộc mạc. Có lẽ, cũng không ở đâu, nét đặc trưng của đời sống tâm linh đậm chất Nam Bộ lại hiện hữu, rõ ràng như ở Long Sơn, trong cộng đồng Nhà Lớn.

Khách tham dự Lễ hội Trùng Cửu tại Nhà lớn Long Sơn

Nét kiến trúc độc đáo

Nhà Lớn Long Sơn là một quần thể kiến trúc nghệ thuật theo lối cổ mang nhiều nét đặc sắc, độc nhất vô nhị, là biểu hiện sinh động và rất ấn tượng đối với du khách về sự pha trộn tín ngưỡng dân gian địa phương với Nho giáo và Lão giáo.

Đến Khu di tích Nhà lớn Long Sơn, cảm giác đầu tiên của mỗi du khách là vừa thân thuộc nhưng lại vừa kỳ lạ. Nhà Lớn Long Sơn là một quần thể kiến trúc gồm nhiều ngôi nhà có lối kiến trúc tựa kiểu đình làng Việt Nam, được làm bằng gạch ngói và các loại gỗ quý, nằm trên tổng diện tích khoảng 2ha. Điều đặc biệt của Nhà Lớn Long Sơn là các công trình không được xây theo một quy hoạch tổng thể nào. Nhà lầu, nhà trệt xen kẽ kế tiếp nhau, không cân đối, không sau trước, đã tạo nên một bố cục kiến trúc khác lạ.

1 góc khu Nhà Lớn – xã Long Sơn

Dẫn chúng tôi đi tham quan khu Nhà lớn, dì Ba Kiềm cho biết: Nhà lớn Long Sơn được xây dựng trong gần 20 năm (từ năm 1910 đến 1929 thì hoàn thành). Đây là một tập hợp quần thể kiến trúc khép kín và liên thông, được chia thành 3 khu riêng biệt đó là: Khu nhà thờ, khu lăng mộ Ông Trần, và một khu gồm nhiều nhà với các chức năng khác nhau. Các công trình đều mang màu sắc tươi sáng với tường vôi trắng, các ô cửa, mành che và vách gỗ sơn xanh, thể hiện nét tín ngưỡng của đạo Ông Trần và tính quần cư, đoàn kết giữa những người dân tha hương khi đến chốn rừng núi hoang vu lập nghiệp.

Bên ngoài Nhà Lớn Long Sơn

Tất cả vật liệu cần thiết để xây dựng nên Nhà Lớn ngày nay đều là của Ông Trần và những người tin theo ông tự nguyện gom góp. Mục đích chính của Nhà Lớn Long Sơn là làm nơi thờ cúng của đạo Khổng Tử, và nhà Thánh (thờ Khổng Tử) – Chánh Điện, là khu vực đầu tiên được xây dựng. Ban đầu, Nhà Lớn được làm bằng gỗ ván, tre nứa, nhưng sau này khi trùng tu, các con cháu và đệ tử Ông Trần đã cho thay thế một phần gạch ngói và xi măng.

Ấn tượng nhất ở Nhà Lớn Long Sơn là khu nhà thờ. Khu nhà này quay mặt về hướng Đông, có diện tích 7.800m2 bao gồm các công trình kiến trúc: Lầu Cấm (Tiền điện); Nhà Thánh, Lầu Trời, Lầu Tiên, Lầu Phật (Chính điện), nhà Hậu (Hậu điện) và Lầu Dài là nơi lễ nghi hội hè. Ngoài ra còn một số nhà phụ như: lẫm đựng lúa, kho đựng đồ, nhà bếp, nhà máy đèn, nhà ở của bá tánh và dòng tộc… Khu đền thờ ngăn cách với khu ngoài bằng bức tường hoa, trên có gắn những tượng: Phượng hoàng, nghê bằng gốm men xanh. Từ ngoài vào khu đền thờ qua 2 cổng được xây bằng ciment quét vôi trắng rộng 2,5m, trên cổng đắp nổi hình cuốn thư với những hoa tiết trang trí hình dải đao. Trên nóc có tượng hình 2 con sư tử chầu nguyệt và tượng người đứng tay nâng đĩa hình tròn bằng gốm phủ men lam.

Trong các gian thờ có vô số kỷ vật cổ, đa phần bằng gỗ quý. Cách bày trí nội thất khu di tích rất trang nghiêm, uy nghi với nhiều hoành phi, hương án bài vị, bàn thờ, tủ cẩn, câu đối… Với những tòa nhà, đền đài uy nghiêm, bề thế, khu đền thờ đã vượt quá tầm vóc của một dòng tộc trên một hòn đảo nhỏ. Cách bày trí nội thất khu di tích trang nghiêm, uy nghi với nhiều hoành phi, hương án bài vị, bàn thờ, tủ cẩn, câu đối… Tất cả các báu vật trên thật sự là những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc có nguồn gốc từ nhiều nơi trên đất nước ta, thể hiện rõ nét truyền thống trang trí mỹ thuật của dân tộc bằng tứ linh, tứ quý, hoa lạ cỏ thiêng, hoa sen, lá đề cách điệu; lão mai, lão trúc hóa rồng. Nghệ thuật điêu khắc trên các đồ vật bộc lộ biểu hiện về ước mơ trong tâm thức của người lao động như bằng hoa mai tượng trưng cho tiểu vũ trụ, hoa địa lan linh thiêng, sen cho thanh cao trong sạch, lựu cho hạnh phúc, phát triển đông đủ.

Một góc Nhà Lớn Long Sơn

Theo lời kể của các hương chức Nhà Lớn, hiện nơi đây đang tìm giữ nhiều sưu tập về tủ thờ bằng gỗ lim cẩn xà cừ, chạm khắc tinh xảo gồm 33 cái có nguồn gốc từ vùng Hà Đông (Bắc Bộ), bộ bàn ghế bát tiên, sưu tập đồng hồ cổ do Pháp chế tạo đầu thế kỷ 20. Chiếc giường cổ chạm khắc tinh xảo, sơn son thếp vàng lộng lẫy, ghế ngai, bao lam… đều thể hiện giá trị nghệ thuật cao về điêu khắc trang trí mỹ thuật. Lịch sử xây dựng khu di tích cũng đồng thời là quá trình hình thành và phát triển của ấp Bà Trao. Vì vậy bố cục kiến trúc, nghệ thuật trang trí của khu Nhà Lớn đã phần nào thể hiện nét đặc trưng của những người theo Ông Trần.

“Việc trông coi và giữ gìn Nhà Lớn Long Sơn do nhân dân cùng con cháu Ông Trần tự nguyện thực hiện. Việc cúng lễ, quét dọn, tu sửa hàng ngày do phiên ngũ (5 người) đảm nhiệm, cứ 3 ngày thay phiên 1 lần, với trên 300 người thay phiên nhau”, dì Ba Kiềm cho chúng tôi biết thêm.

Bên trong Nhà Lớn Long Sơn

Liên hệ đặt đoàn tham quan Nhà lớn Long Sơn

Địa chỉ: Thôn 10, xã Long Sơn, TP. Vũng Tàu

Người đại diện: 08 vị hương chức

Điện thoại: 02543844044 – 0913369874 (Cô Kiềm – Thành Viên)

Ngọc Thúy

5/5 - (3 bình chọn)

Lịch nước rút Hòn Bà Vũng Tàu tháng 11/2020

Yêu Vũng Tàu Team và taucaotoc.vn cập nhật lịch nước rút Hòn Bà Vũng Tàu tháng 11/2020 và thời gian đi bộ tham quan Hòn Bà Vũng Tàu dịp này để các bạn có thể trải nghiệm:

Xem video trải nghiệm khám phá trực tiếp đảo Hòn Bà Vũng Tàu:

Chi tiết lịch nước rút Hòn Bà tháng 11/2020
  • Chủ Nhật ngày 1/11/2020: Nước rút từ 7:00 – 9:00
  • Thứ Hai ngày 2/11/2020: Nước rút từ 6:30 – 10:00
  • Thứ Ba ngày 3/11/2020: Nước rút từ 7:00 – 11:00
  • Thứ Tư ngày 4/11/2020: Nước rút từ 7:00 – 11:45
  • Thứ Năm ngày 5/11/2020: Nước rút từ 7:30 – 12:30
  • Thứ Sáu ngày 6/11/2020: Nước rút từ 8:30 – 13:00
  • Thứ Bảy ngày 7/11/2020: Nước rút từ 9:00 – 14:00
  • Chủ Nhật ngày 8/11/2020: Nước rút từ Nước rút từ 10:00 – 14:30
  • Thứ Hai ngày 9/11/2020: Nước rút từ 12:00 – 15:00
  • Thứ Ba ngày 10/11/2020: Nước rút từ 14:00 – 15:00
  • Thứ Tư ngày 11/11/2020: Nước rút khoảng 40 phút từ 15:40 – 16:20
  • Thứ Năm ngày 12/11/2020: Nước lớn không đi bộ ra được
  • Thứ Sáu ngày 13/11/2020: Nước lớn không đi bộ ra được
  • Thứ Bảy ngày 14/11/2020: Nước rút từ 5:00 – 8:00
  • Chủ Nhật ngày 15/11/2020: Nước rút từ 5:15 – 9:45
  • Thứ Hai ngày 16/11/2020: Nước rút từ 5:30 – 10:30
  • Thứ Ba ngày 17/11/2020: Nước rút từ 6:45 – 10:30
  • Thứ Tư ngày 18/11/2020: Nước rút từ 7:30 – 11:00
  • Thứ Năm ngày 19/11/2020: Nước rút từ 7:00 – 13:00
  • Thứ Sáu ngày 20/11/2020: Nước rút từ 8:00 – 14:00
  • Thứ Bảy ngày 21/11/2020: Nước rút từ 9:00 – 14:30
  • Chủ Nhật ngày 22/11/2020: Nước rút từ 10:45 – 14:30
  • Thứ Hai ngày 23/11/2020: Nước rút từ 13:00 – 14:30
  • Thứ Ba ngày 24/11/2020: Nước lớn không đi bộ ra được
  • Thứ Tư ngày 25/11/2020: Nước lớn không đi bộ ra được
  • Thứ Năm ngày 26/11/2020: Nước lớn không đi bộ ra được
  • Thứ Sáu ngày 27/11/2020: Nước lớn không đi bộ ra được
  • Thứ Bảy ngày 28/11/2020: Nước rút từ 6:00 – 7:30
  • Chủ Nhật ngày 29/11/2020: Nước rút từ 5:35 – 9:00
  • Thứ Hai ngày 30/11/2020: Nước rút từ 5:20 – 9:30

Xem thêm: Lịch nước rút Hòn Bà Vũng Tàu tháng 12/2020 chi tiết từng ngày, giờ

Định kỳ hằng tháng, https://taucaotoc.vn/ sẽ cập nhật Lịch nước rút Hòn Bà Vũng Tàu tại đây để quý hành khách tham khảo.

Hòn Bà Vũng Tàu
5/5 - (1 bình chọn)

Di tích Trại Phú Bình (Chuồng Cọp Mỹ)

Trại Phú Bình có tổng diện tích 25.768m2, được xây dựng từ năm 1971 đến 1973 nhằm giam giữ tù chính trị chống đối ở Chuồng Cọp Pháp, Chuồng Bò và các trại khác chuyển giao về. Theo các tài liệu ghi chép lại, kinh phí xây dựng lên đến 400.000 USD, chuyên gia thiết kế và nhà thầu thi công đều là người Mỹ, nên tù nhân đặt là Chuồng Cọp Mỹ.

Nếu những trại tù do Pháp xây dựng kín cổng, có nhiều tháp canh bên trên, tường bao quanh trại và từng phòng giam đều xây bằng đá kiên cố, cao khoảng 4m, mái ngói, thì trại Phú Bình kiến trúc khác hẳn. Cổng và hàng rào bằng kẽm gai đan ô vuông vức, bên ngoài nhìn vào rất thoáng đãng, thấy cả sân đất, lối đi lát đá, các dãy nhà ăn, bếp, trạm xá, nhà kho… Thế nhưng tính chất thâm độc hơn Chuồng Cọp Pháp nhiều lần. Thay vì tra tấn bằng đòn rui, nhục hình như Chuồng Cọp Pháp, ở Chuồng Cọp Mỹ những tù nhân chính trị không bị cùm chân, nhưng lại bị hành hạ thể xác và tinh thần với những thủ đoạn tinh vi, độc địa.

Trại Phú Bình – Chuồng Cọp Mỹ là nơi khởi đầu cuộc nổi dậy giải phóng Côn Đảo năm 1975

Chuồng Cọp Mỹ xây dựng rất kiên cố nhằm giam giữ tù nhân chính trị. Bên trên dãy xà lim không có lối đi lợp mái tôn fibroximăng rất thấp, ban ngày trời nắng hắt xuống nóng như thiêu như đốt. Phòng giam không có bệ nằm, đêm về người tù phải nằm trên nền xi măng, khí đất xông lên, rất lạnh giá ẩm thấp. Mỗi phòng biệt giam chỉ khoảng 5 m2, đặt một thùng gỗ cho tù nhân tiểu tiện, có thời điểm mỗi phòng giam cầm đến 8 – 10 người, lại không cho đổ thùng vệ sinh tới vài tuần, phân và nước tiểu bê bết trên mình các tù nhân.

Ở trại Phú Bình, khu giam giữ tù nhân nằm sâu bên trong, chia thành 8 khu AB, CD, EF, GH với tổng cộng 384 xà lim. Từ cổng trại đi vào đến từng xà lim phải đi qua từ 5 đến 7 lần cửa sắt. Trong mỗi khu, 2 dãy xà lim đối diện, mỗi dãy có 48 phòng, chỉ cách nhau một hành lang hẹp và tối. Mỹ – Ngụy dùng yếu tố bất lợi của thiên nhiên vào việc hành hạ, đầy ải người tù. Mái lợp tôn fibrocement thấp lè tè, không có trần mà thay vào đó là dàn song sắt lớn hàn dính vào nhau và chôn hẳn vào tường tương tự Chuồng Cọp Pháp, song các phòng giam ở đây nhỏ hẹp hơn Chuồng Cọp Pháp. Khi lớp mái tôn thấp hấp thụ ánh nắng thiêu đốt ban ngày rồi chuyển lạnh dần từ nửa đêm đến sáng, người tù từ chịu cái nóng hầm hập ban ngày, về đêm nằm dưới nền đất lạnh, khí đất xông lên, xương cốt đau nhức, bệnh tật, chết dần chết mòn.

Khu A Trại Phú Bình

Bên cạnh đó, một trong những ngón đòn thâm độc của chúng là tra tấn tù nhân bằng âm thanh. Mỗi cánh cửa của từng phòng giam đều thiết kế 1 cửa kéo nhỏ chừng vài tấc để cai ngục có thể kéo lên nhìn vào bên trong. Chúng thường mở cánh cửa sắt ra kiểm tra rồi đóng dập lại thật mạnh, tiếng vang dội lên đinh tai nhức óc khi lần lượt 48 phòng giam trong 1 dãy và liên tiếp 8 dãy với 384 lần dội vào đầu vào lồng ngực của tù nhân. Chưa cần đến đòn roi, tù nhân cũng chết dần chết mòn bởi lối kiến trúc này.

Thế nhưng, đòn thù thâm độc của kẻ thù không khuất phục được ý chí kiên cường của những người tù cách mạng. Chuồng Cọp Mỹ trở thành trung tâm đấu tranh của tù chính trị Côn Đảo trong giai đoạn này. Các báo cáo của nhà tù trong 2 năm 1973 – 1974 cho thấy, nhiều cuộc đấu tranh của tù chính trị đã nổ ra tại đây dưới hình thức: Hô la tập thể, đòi nhà cầm quyền phải cung cấp đầy đủ lương thực, thuốc men, đòi nhà cầm quyền tôn trọng Hiệp định Paris, trao trả tức khắc số tù chính trị còn bị giam giữ…

Phòng giam trại Phú Bình

Tại đây, cũng là nơi khởi đầu và là trung tâm chỉ đạo cuộc nổi dậy giải phóng Côn Đảo mùa xuân 1975. Được sự giúp đỡ của linh mục Phạm Gia Thụy và một số binh sĩ, công chức, gác ngục, ban lãnh đạo trại đã chớp thời cơ giải phóng Côn Đảo vào lúc 1 giờ sáng 1/5/1975. Đảng ủy lâm thời được thành lập gồm 7 người, do đồng chí Trịnh Văn Tư (Tư Cẩn) làm Bí thư. Đảng ủy tổ chức ngay lực lượng vũ trang chiếm các trại lính, ty cảnh sát và giải phóng cho các trại. 8 giờ sáng ngày 1/5/1975, 7.448 tù nhân (trong đó có 4.234 tù chính trị) ở 8 trại chính và nhiều trại phụ được giải phóng, tù chính trị hoàn toàn làm chủ Côn Đảo, thành lập chính quyền cách mạng và tổ chức lực lượng phòng thủ Côn Đảo.

Di tích trại Phú Bình đã được thủ tướng chính phủ ký quyết định số 548/QĐ-TTg công nhận là Di tích Quốc gia Đặc biệt ngày 10/5/2012.

5/5 - (5 bình chọn)

Suối Tranh Phú Quốc nơi hội tụ “Sơn thủy hữu tình”

Suối Tranh sở hữu một phong cảnh thiên nhiên đẹp với hoa cỏ, núi rừng, biển và suối, là địa điểm tổ chức cắm trại, dã ngoại thú vị. Đến đây, bạn có thể dựng lều bên bờ suối để nghỉ ngơi và tham gia nhiều hoạt động dã ngoại đặc sắc. Có đoạn suối chảy qua các ghềnh đá tạo nên những con thác nhỏ với làn nước mềm mại, trắng xoá… Có một lối mòn dọc theo bờ suối, đủ để hai người nắm tay nhau đi dưới tán rừng xanh mát. Những bậc tam cấp trên lối đi vừa với mỗi bước chân nên bạn không có cảm giác mệt dù đang lên núi. Khung cảnh tựa như bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp…

Nằm ở phía Nam đảo Phú Quốc cách thị trị trấn Dương Đông tầm 9 km, Suối Tranh là địa điểm tham quan khá nổi tiếng ở nơi đây. Với chiều dài khoảng 15km, Suối Tranh được tạo nên từ những khe nước nhỏ trên đầu nguồn của núi Hàm Ninh. Đặc biệt, đây là dòng suối luồn lách chảy qua nhiều hang động, ghềnh đá, rêu phong hiểm trở của rừng nguồn.

Nguồn gốc tên Suối Tranh

Theo câu chuyện được người dân ở đây tương truyền rằng, trước đây trên đỉnh thượng nguồn của con suối có một rừng tranh rộng bạt ngàn. Năm 1963, có một nhà thơ Đông Hồ đã khám phá ra ví trí này, đứng trước bức tranh thiên nhiện tuyệt mỹ ông đã sáng tác nên một bài thơ mang tên Suối Tranh. Nơi mà vừa có núi rừng, cỏ cây vừa có dòng suối thơ mộng và cũng chính từ đó cái tên Suối Tranh ra đời và lưu truyền đến bây giờ.

Thời điểm thích hợp để đi du lịch Suối Tranh

Bạn nên đến đây vào khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 1 năm sau. Đây là khoảng thời gian dòng suối thể hiện rõ nhất về vẻ thơ mộng hùng vĩ của mình. Tuy nhiên, một điều bất lợi trong khoảng thời gian này là Phú Quốc hay có những cơn mưa kéo dài và việc di chuyển ra Phú Quốc thường bất tiện.

Bên cạnh khoảng thời gian tháng 6 đến tháng 1 năm sau thì khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 cũng là lúc lý tưởng cho một chuyến đi đến Suối Tranh. Thế nhưng, từ khoảng thời gian từ tháng 2 trở đi dòng suối sẽ bình lặng hơn những và vẻ đẹp cũng hơi trầm lắng hơn.

Có gì đẹp ở suối Tranh Phú Quốc

Du khách đến với Suối Tranh để tận hưởng khung cảnh hữu tình đẹp tựa như tranh vào tháng mùa mưa, bạn không nên đến nơi đây vào từ tháng 2 đến tháng 5. Đường đến Suối Tranh rất dễ dàng so với Suối Đá Bàn, nên lượng khách du lịch đến đây rất đông vào mùa cao điểm.

Khuôn viên Khu du lịch Suối Tranh Phú Quốc

Suối Tranh được bao bọc bởi cây cối xanh tươi, với đủ loại hoa thơm cỏ lạ. Dọc hai bên bờ suối cây cối um tùm, nhiều thân cây màu xanh xám do được phủ một lớp rêu mềm mại, nhiều thân cây lại sặc sỡ do có những cây phong lan hoa vàng, hoa đỏ bám vào,… Nước suối mát lạnh, trong vắt, nhiều đoạn suối chảy hiền hòa, êm đềm, nhưng có những đoạn, khi chảy qua các ghềnh đá, thì dữ dội, tạo nên những dòng thác trắng xóa.

Từ chân suối, du khách đi theo đường lát đá gập ghềnh lên nguồn 300m để khám phá thiên nhiên kỳ bí, cắm trại, tắm suối – thác và nghỉ ngơi thư giãn giữa hương rừng.Những dây leo chằng chịt hai bên đường đến suối như làm tăng thêm vẻ huyền bí cho khu du lịch này. Có đọan suối chảy qua các ghềnh đá tạo nên những con thác mềm mại, trắng xóa trong màu xanh mượt mà của cỏ cây hoa lá. Khung cành tựa như bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp nên người ta gọi là Suối Tranh.

Du khách đến Suối Tranh có thể thưởng thức thiên nhiên hữu tình đẹp tựa như tranh vào những tháng mùa mưa, hay để đắm mình trong dòng nước trong vắt, mát lạnh, ngả mình trên những tảng đá phủ kín rêu xanh nghe tiếng suối chảy róc rách, tiếng chim kêu thánh thót trong bầu không khí thoảng hương hoa rừng. Để chuyến đi thêm phần thú vị, du khách có thể leo núi khám phá những hang động kỳ bí, trong đó có hang Dơi nằm ở độ cao 200m, hang sâu 50m với nhiều thạch đẹp và lạ mắt.

Suối Tranh Phú Quốc

Dòng suối men theo các kẽ đá, lúc chảy cuồn cuộn, lúc lững lờ, như một bức tranh tươi đẹp của thiên nhiên ban tặng cho đảo ngọc. Các phiến đá ven suối phủ đầy rêu nên rất trơn trợt, là một thử thách đối với những bạn nào muốn vượt qua.

Hướng dẫn tham quan du lịch Suối Tranh

Bạn có thể chọn di chuyển đến Suối Tranh bằng xe máy, ô tô hay xe bus theo cung đường sau:

  • Từ thị trấn Dương Đông bạn di chuyển theo đường DT47 về hướng Hàm Ninh. Sau khi đi tầm 10km có một điểm vòng ngược lại.
  • Lúc này chỉ cần bạn quay đầu vòng lại tầm 200m nữa sẽ có bảng chỉ dẫn vào khu du lịch Suối Tranh. Đường đi hơi khó nên tay lái bạn cần phải chắc chắn nhé, hoặc có thể di chuyến bằng taxi hoặc mua tour du lịch khám phá Suối Tranh tại các công ty du lịch để có thể trải nghiệm được đầy đủ nhé!

Giá vé: 30.000 đồng/người/lượt

Giờ mở cửa: 7:00 AM – 18:00 PM

Địa chỉ: thị trấn Dương Đông, Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

Du khách tắm suối tại Suối Tranh

Không chỉ ngắm cảnh, đến khu du lịch Suối Tranh Phú Quốc du khách còn có thể chơi nhiều trò chơi khá thú vị và hấp dẫn như:

Tắm suối: Đến Suối Tranh bạn nhất định phải tắm suối. Ngâm mình trong làn nước trong mát, bao mệt mỏi, căng thẳng sẽ tan biến. Các phiến đá ven suối phủ đầy rêu phong xanh rì mang vẻ đẹp hoang dã vô cùng cuốn hút. Hãy tận hưởng những giây phút yên bình giữa trời mây non nước ở đây nhé.

Câu cá và nướng cá: Sau khi tắm suối, bạn có thể câu cá sẽ rất thú vị. Lưu ý, trước khi đi chơi nhớ mang theo cần câu cá nhé.

Cắm trại: Khu du lịch suối tranh chắc chắn sẽ là điểm đến lý tưởng cho những hoạt động picnic cuối tuần cho các gia đình hay nhóm bạn bè. Không gian yên tĩnh, mát mẻ, thoáng đãng và cực kỳ trong lành. Trải nghiệm khách sạn ngàn sao thì còn gì tuyệt vời hơn. Trước khi đi bạn nhớ chuẩn bị đồ ăn cho bữa tiệc ngoài trời này nha.

Tổ chức teambuilding: Vừa dã ngoại vừa vui chơi và thư giãn cùng với cây cỏ sông nước, không gian rộng rãi mọi người thoải mái các trò chơi.

5/5 - (3 bình chọn)

Đình thờ Nguyễn Trung Trực tại Phú Quốc

Đình thờ Nguyễn Trung Trực tại Phú Quốc gồm: 1 nhà chánh điện, 2 gian thờ. Trong đó có 1 gian thờ được giữ và cải tạo lại dựa trên nhà chánh điện hiện hữu. Ngoài ra còn có 2 hiên chờ và hệ thống hạ tầng, cảnh quan đồng bộ và phù hợp toàn khu.

Được biết, đình thờ trước đây được người dân đóng góp xây dựng từ năm 1993 để thể hiện lòng kính ngưỡng đối với vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, người thủ lĩnh quả cảm của phong trào khởi nghĩa chống Pháp cuối thế kỷ 19.

Người dân Phú Quốc thường đến đền thờ Nguyễn Trung Trực để cầu xin bình an, may mắn. Mỗi năm đến ngày giỗ của ông, người dân thường làm lễ giỗ tưởng nhớ ông và những nghĩa quân liệt sĩ kiên trung. Ghé thăm đền thờ giản dị của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực tại Gành Dầu Phú Quốc, tìm hiểu thêm về thân thế sự nghiệp của ông, chắc bạn sẽ càng thêm cảm mến ông cùng những nghĩa quân liệt sĩ áo vải quả cảm không ngần ngại hy sinh cuộc sống để bảo vệ quê hương…

Đình được công nhận là Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp tỉnh vào năm 2011, và là điểm tham quan của nhiều du khách khi đến Phú Quốc. Được sự đóng góp của nhân dân, ban bảo vệ di tích thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ, bảo trì và tổ chức lễ hội hàng năm.

Địa chỉ: xã Gành Dầu, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Xã Gành Dầu, Phú Quốc, Tỉnh Kiên Giang

Chuyện kể về ‘cụ Nguyễn’ đảo Phú Quốc

“Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”, câu nói đó của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực đã lưu danh sử vàng đất Việt bao đời nay. Còn với người dân tỉnh Kiên Giang nói chung và đảo Phú Quốc nói riêng, “cụ Nguyễn” luôn là chỗ dựa tinh thần giúp họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống….

Đón tôi trong một chiều nắng ươm vàng trên đảo, anh Lộc – một lái xe tắc xi người Khmer kể cho tôi những gì anh được nghe từ cha ông kể lại về người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Suốt cả câu chuyện, anh Lộc dùng đại từ danh xưng “cụ” đủ để thấy rằng trong tâm thức của từng người dân Phú Quốc từ trẻ đến già, hình ảnh của người anh hùng dân tộc luôn sống mãi và thân thiết như người một nhà.
“Lúc còn nhỏ tôi nghe cha kể lại, sau này đi làm lái xe đọc thêm và nghe từ người dân tôi được biết, cụ Nguyễn Trung Trực vốn là một người dân chài ở tỉnh Gia Định nay là Long An. Nhân dân tỉnh Kiên Giang gọi cụ Nguyễn Trung Trực bằng “ông”, “cụ” hoặc “cụ Nguyễn” vì kiêng gọi tên húy. Cuộc đời cụ tuy ngắn ngủi nhưng rất hào hùng. Cụ đã để lại cho dân tộc chiến thắng vẻ vang đó là đánh chìm tàu chiến Pháp mang tên Esperanza. Năm 1868, cụ bị bọn đô hộ Pháp bắt và hành hình tại chợ Rạch Giá lúc mới có 31 tuổi.

Thương cụ, tưởng nhớ cụ ở Kiên Giang có rất nhiều miếu thờ cụ Nguyễn chứ không riêng gì Phú Quốc. Đền thờ cụ Nguyễn trên đảo là một trong những đền thờ lớn thờ cụ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, được xếp hạng di tích cấp tỉnh, thành phố ngày 8/8/2011.

Mỗi năm đến ngày mất của cụ, nhân dân các nơi tụ tập về đây tổ chức cúng cơm cho cụ. Khá nhiều người, từ ngư dân, học trò, người buôn bán đến đây lễ bái, cầu xin bình an, học hành tấn tới, thi cử thành đạt, làm ăn phát tài…” – anh Lộc thong thả kể trong lúc lái xe đưa tôi đến thăm đền thờ.

Sự hy sinh sống mãi trong trái tim mọi người dân

Sử sách ghi lại, Nguyễn Trung Trực sinh năm Đinh Dậu 1837, mất năm Mậu Thìn 1868 là liệt sĩ cận đại, nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Tân An (nay thuộc tỉnh Long An) và Rạch Giá (nay thuộc tỉnh Kiên Giang), tục gọi là Quản Chơn hay Quản Lịch (vì lúc nhỏ ông có tên là Chơn, rồi từ năm Kỉ Mùi 1859 đổi là Lịch, còn Quản là chức Quản cơ).

Sau khi đốt tàu L’Esperance, ông đổi tên là Nguyễn Trung Trực và tên này được nhân dân gọi cho đến ngày cuối cùng. Quê ông ở phủ Tân An, tỉnh Gia Định (nay thuộc ngoại ô thị xã Tân An, Long An).

Ông xuất thân trong một gia đình chài lưới ở hạ lưu sông Vàm Cỏ, năm 1861, hưởng ứng lịch Cần Vương chống Pháp, ông chiêu mộ một số đông nông dân nổi dậy đánh phá các đồn Pháp ở các vùng thuộc phủ Tân An.

Lập được nhiều chiến công nên được triều đình Huế phong chức Quản cơ. Nghĩa quân dưới quyền lãnh đạo của ông gồm một số nhà yêu nước: Nguyễn Văn Điền (hay Điền), Nguyễn Học, lương thân Hồ Quang… tổ chức cuộc phục kích đốt tàu L’Esperance của Pháp trưa ngày 10/12/1861 tại vàm Nhật Tảo.

Sau đó, ông tiếp tục chiến đấu qua lại trên địa bàn Gia Định, Biên Hòa. Sau khi ba tỉnh miền đông Nam Bộ mất (theo Hòa ước Nhâm Tuất 1862) ông được phong làm Lãnh binh. Năm 1861 ông lại được triều đình phong chức Hà Tiên thành thủ úy để trấn giữ đất Hà Tiên. Sau khi thành Hà Tiên thất thủ, ngày 23/6/1867, ông rút quân về Rạch Giá tiếp tục cuộc chiến đấu, lập căn cứ ở Hòn Chồng. Ngày 16/6/1868, ông cho quân đánh úp đồn Kiên Giang (nay là thị xã Rạch Giá) tiêu diệt địch.

Giặc Pháp phản công, ông rút ra đảo Phú Quốc lập căn cứ nhằm chống giặc lâu dài. Pháp phải huy động một lực lượng hùng hậu đến bao vây và tấn công đảo. Đến tháng 10/1868, để bảo đảm lực lượng nghĩa quân và nhân dân trên đảo, ông tự ra nộp mình cho giặc bắt. Chúng nhiều lần dụ dỗ, mua chuộc nhưng ông quyết không đầu hàng.

Sau đó, ông bị giải về Sài Gòn, viên thống soái Nam Kì lúc đó vừa dụ hàng, vừa hăm dọa, ông đã khẳng khái trả lời: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”. Không lung lạc được tinh thần người anh hùng, giặc Pháp đem ông ra hành hình ở chợ Rạch Giá ngày 27/10/1868, khi ông mới 31 tuổi.

Chuyện kể rằng, vào buổi sáng 27/10/1868, nhân dân trong vùng tập trung về chợ Rạch Giá để chứng kiến vị anh hùng của họ bị giặc Pháp xử tử. Cụ Nguyễn yêu cầu nhà cầm quyền mở trói, không bịt mắt để ông nhìn đồng bào, quê hương lần cuối.

Người dân trải xuống đất một chiếc chiếu hoa có chữ “Thọ” màu đỏ cho ông đứng thọ hình. Trước giờ xử tử Nguyễn Trung Trực đã ung dung đọc bài thơ tuyệt mệnh: “Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên/Yêu gian đảm khí hữu long tuyền/Anh hùng nhược ngộ vô dung địa/Bảo hận thâm cừu nhất đái thiên” (dịch nghĩa: Theo việc binh nhung thuở trẻ trai/Phong trần hăng hái tuốt gươm mài/Anh hùng gặp phải hồi không đất/Thù hận chang chang chẳng đội trời).

Với từng người dân nước Việt nói chung và người dân Kiên Giang, Phú Quốc nói riêng, cho dù người Pháp đã dùng cái chết để kết thúc cuộc đời một anh hùng, nhưng sự hy sinh của Nguyễn Trung Trực đã thành ngọn lửa bất khuất hâm nóng mọi con tim, nhân lên rộng khắp thành những ngọn lửa bừng cháy mãnh liệt trong cuộc đấu tranh kiên cường giành độc lập và giữ gìn đất nước.

Hiếm có người anh hùng dân tộc nào được nhân dân trong vùng tín ngưỡng như Nguyễn Trung Trực. Để tỏ lòng kính ngưỡng người con ưu tú của dân tộc, vị thủ lĩnh kiên cường của phong trào khởi nghĩa chống Pháp, người dân nhiều nơi đã dựng đền thờ tôn vinh Nguyễn Trung Trực, trong đó tiêu biểu phải kể đến đền thờ tại Long An quê hương ông, đền thờ tại Rạch Giá nơi ông bị xử tử và đền thờ tại Gành Dầu, Phú Quốc nơi ông bị bắt trong trận chiến đấu cuối cùng…

Anh khí như hồng

Đền thờ Nguyễn Trung Trực trên đảo Phú Quốc được dựng ngay tại mũi Gành Dầu, cách trung tâm huyện đảo chừng 40km. Đền thờ được xây theo kiểu chữ tam, gồm chính điện, đông lang và tây lang. Chính điện thờ bài vị của ông, cùng các vị thần linh và những người có công khác như: Chánh soái đại càn, Phó lãnh binh Lâm Quang Ky, Phó cơ Nguyễn Hiền Điều, những nghĩa quân liệt sĩ áo vải quả cảm đã không ngại ngần hy sinh cuộc sống để bảo vệ quê hương.

Ở trong đền thờ, có bức hoành phi ngay tại gian giữa thu hút mọi ánh nhìn với bốn chữ vàng “Anh khí như hồng” ca ngợi tiết khí của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực luôn sáng như cầu vồng bảy sắc.

Mỗi năm đến ngày giỗ của ông, người dân thường làm lễ giỗ tưởng nhớ ông và những nghĩa quân liệt sĩ kiên trung. Không dừng lại ở nghĩa cử tôn vinh anh hùng liệt sĩ, đình thần Nguyễn Trung Trực còn nhuốm nhiều màu sắc tín ngưỡng dân gian trong sinh hoạt thường ngày của cư dân địa phương. Vì thế, vào những ngày thường cũng có khá đông người dân và khách du lịch đến đền thờ Nguyễn Trung Trực để cầu xin bình an, may mắn.

Theo thông tin từ truyền thông và các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, xung quang ngày giỗ của Nguyễn Trung Trực cũng có nhiều điều thú vị. Hay nói cách khác, ông là người anh hùng có hai ngày giỗ.

Theo các tài liệu lịch sử chính thống, anh hùng Nguyễn Trung Trực hy sinh vào ngày 27/10/1868 (tức ngày 12/9 năm Mậu Thìn). Theo phong tục tập quán, ngày giỗ được làm ngày trước ngày mất, còn ngày giỗ chính diễn ra đúng vào ngày mất. Các hậu duệ của Nguyễn Trung Trực ở Long An cũng đều cúng giỗ “cụ Nguyễn” vào ngày 12/9 âm lịch hàng năm. Hầu hết các đình, đền thờ Nguyễn Trung Trực ở khắp miền Tây cũng đều làm lễ giỗ, kỷ niệm theo ngày này.

Thế nhưng, ở chính nơi Nguyễn Trung Trực hy sinh – thành phố Rạch Giá, Kiên Giang, ngày giỗ “cụ Nguyễn” kéo dài 3 ngày từ 26 đến 28 tháng 8 âm lịch hàng năm. Theo lý giải của người dân, thì lễ hội truyền thống Nguyễn Trung Trực tại thành phố Rạch Giá được tổ chức trước ngày cụ Nguyễn hy sinh khoảng nửa tháng, có thể có liên quan đến việc đền thờ Nguyễn Trung Trực trước đây vốn là một ngôi miếu thờ Cá Ông (Nam Hải Đại Tướng Quân). Người dân thờ cúng ông trong ngôi miếu để qua mắt chính quyền thực dân. Sau nhiều lần trùng tu ngôi miếu ấy đã thành đền thờ Nguyễn Trung Trực như hiện nay.

Kết

Một người anh hùng có hai ngày giỗ, dù còn nhiều tranh luận cũng như quan điểm cần có một cuộc hội thảo cấp khu vực hoặc quốc gia để làm sáng tỏ và thống nhất, nhưng với mọi người dân ở miền Tây Nam bộ thì điều đó có hề chi.

Bởi tinh thần bất khuất của “cụ Nguyễn” của họ luôn sống mãi và câu nói bất khuất của cụ “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây” đã lưu danh vào sử sách cùng các anh hùng nước Việt khác như của Bà Triệu lãnh đạo nhân dân chống lại ách đô hộ của nhà Ngô vào thế kỷ III

“Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người”; như của Thái sư Trần Thủ Độ trước thế giặc Mông Cổ: “Đầu thần chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo gì khác” thể hiện quyết tâm đánh giặc đến cùng; như của Trần Bình Trọng danh tướng của nhà Trần “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”…

Những câu nói ấy đã trở thành lời tuyên bố đanh thép trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, thành lời hiệu triệu cho biết bao thế hệ thanh niên ra đi tìm đường cứu nước…

Hồng Minh

https://baophapluat.vn/

5/5 - (3 bình chọn)