Lịch nước rút Hòn Bà Vũng Tàu tháng 11/2020

Yêu Vũng Tàu Team và taucaotoc.vn cập nhật lịch nước rút Hòn Bà Vũng Tàu tháng 11/2020 và thời gian đi bộ tham quan Hòn Bà Vũng Tàu dịp này để các bạn có thể trải nghiệm:

Xem video trải nghiệm khám phá trực tiếp đảo Hòn Bà Vũng Tàu:

Chi tiết lịch nước rút Hòn Bà tháng 11/2020
  • Chủ Nhật ngày 1/11/2020: Nước rút từ 7:00 – 9:00
  • Thứ Hai ngày 2/11/2020: Nước rút từ 6:30 – 10:00
  • Thứ Ba ngày 3/11/2020: Nước rút từ 7:00 – 11:00
  • Thứ Tư ngày 4/11/2020: Nước rút từ 7:00 – 11:45
  • Thứ Năm ngày 5/11/2020: Nước rút từ 7:30 – 12:30
  • Thứ Sáu ngày 6/11/2020: Nước rút từ 8:30 – 13:00
  • Thứ Bảy ngày 7/11/2020: Nước rút từ 9:00 – 14:00
  • Chủ Nhật ngày 8/11/2020: Nước rút từ Nước rút từ 10:00 – 14:30
  • Thứ Hai ngày 9/11/2020: Nước rút từ 12:00 – 15:00
  • Thứ Ba ngày 10/11/2020: Nước rút từ 14:00 – 15:00
  • Thứ Tư ngày 11/11/2020: Nước rút khoảng 40 phút từ 15:40 – 16:20
  • Thứ Năm ngày 12/11/2020: Nước lớn không đi bộ ra được
  • Thứ Sáu ngày 13/11/2020: Nước lớn không đi bộ ra được
  • Thứ Bảy ngày 14/11/2020: Nước rút từ 5:00 – 8:00
  • Chủ Nhật ngày 15/11/2020: Nước rút từ 5:15 – 9:45
  • Thứ Hai ngày 16/11/2020: Nước rút từ 5:30 – 10:30
  • Thứ Ba ngày 17/11/2020: Nước rút từ 6:45 – 10:30
  • Thứ Tư ngày 18/11/2020: Nước rút từ 7:30 – 11:00
  • Thứ Năm ngày 19/11/2020: Nước rút từ 7:00 – 13:00
  • Thứ Sáu ngày 20/11/2020: Nước rút từ 8:00 – 14:00
  • Thứ Bảy ngày 21/11/2020: Nước rút từ 9:00 – 14:30
  • Chủ Nhật ngày 22/11/2020: Nước rút từ 10:45 – 14:30
  • Thứ Hai ngày 23/11/2020: Nước rút từ 13:00 – 14:30
  • Thứ Ba ngày 24/11/2020: Nước lớn không đi bộ ra được
  • Thứ Tư ngày 25/11/2020: Nước lớn không đi bộ ra được
  • Thứ Năm ngày 26/11/2020: Nước lớn không đi bộ ra được
  • Thứ Sáu ngày 27/11/2020: Nước lớn không đi bộ ra được
  • Thứ Bảy ngày 28/11/2020: Nước rút từ 6:00 – 7:30
  • Chủ Nhật ngày 29/11/2020: Nước rút từ 5:35 – 9:00
  • Thứ Hai ngày 30/11/2020: Nước rút từ 5:20 – 9:30

Xem thêm: Lịch nước rút Hòn Bà Vũng Tàu tháng 12/2020 chi tiết từng ngày, giờ

Định kỳ hằng tháng, https://taucaotoc.vn/ sẽ cập nhật Lịch nước rút Hòn Bà Vũng Tàu tại đây để quý hành khách tham khảo.

Hòn Bà Vũng Tàu
5/5 - (1 bình chọn)

Di tích Trại Phú Bình (Chuồng Cọp Mỹ)

Trại Phú Bình có tổng diện tích 25.768m2, được xây dựng từ năm 1971 đến 1973 nhằm giam giữ tù chính trị chống đối ở Chuồng Cọp Pháp, Chuồng Bò và các trại khác chuyển giao về. Theo các tài liệu ghi chép lại, kinh phí xây dựng lên đến 400.000 USD, chuyên gia thiết kế và nhà thầu thi công đều là người Mỹ, nên tù nhân đặt là Chuồng Cọp Mỹ.

Nếu những trại tù do Pháp xây dựng kín cổng, có nhiều tháp canh bên trên, tường bao quanh trại và từng phòng giam đều xây bằng đá kiên cố, cao khoảng 4m, mái ngói, thì trại Phú Bình kiến trúc khác hẳn. Cổng và hàng rào bằng kẽm gai đan ô vuông vức, bên ngoài nhìn vào rất thoáng đãng, thấy cả sân đất, lối đi lát đá, các dãy nhà ăn, bếp, trạm xá, nhà kho… Thế nhưng tính chất thâm độc hơn Chuồng Cọp Pháp nhiều lần. Thay vì tra tấn bằng đòn rui, nhục hình như Chuồng Cọp Pháp, ở Chuồng Cọp Mỹ những tù nhân chính trị không bị cùm chân, nhưng lại bị hành hạ thể xác và tinh thần với những thủ đoạn tinh vi, độc địa.

Trại Phú Bình – Chuồng Cọp Mỹ là nơi khởi đầu cuộc nổi dậy giải phóng Côn Đảo năm 1975

Chuồng Cọp Mỹ xây dựng rất kiên cố nhằm giam giữ tù nhân chính trị. Bên trên dãy xà lim không có lối đi lợp mái tôn fibroximăng rất thấp, ban ngày trời nắng hắt xuống nóng như thiêu như đốt. Phòng giam không có bệ nằm, đêm về người tù phải nằm trên nền xi măng, khí đất xông lên, rất lạnh giá ẩm thấp. Mỗi phòng biệt giam chỉ khoảng 5 m2, đặt một thùng gỗ cho tù nhân tiểu tiện, có thời điểm mỗi phòng giam cầm đến 8 – 10 người, lại không cho đổ thùng vệ sinh tới vài tuần, phân và nước tiểu bê bết trên mình các tù nhân.

Ở trại Phú Bình, khu giam giữ tù nhân nằm sâu bên trong, chia thành 8 khu AB, CD, EF, GH với tổng cộng 384 xà lim. Từ cổng trại đi vào đến từng xà lim phải đi qua từ 5 đến 7 lần cửa sắt. Trong mỗi khu, 2 dãy xà lim đối diện, mỗi dãy có 48 phòng, chỉ cách nhau một hành lang hẹp và tối. Mỹ – Ngụy dùng yếu tố bất lợi của thiên nhiên vào việc hành hạ, đầy ải người tù. Mái lợp tôn fibrocement thấp lè tè, không có trần mà thay vào đó là dàn song sắt lớn hàn dính vào nhau và chôn hẳn vào tường tương tự Chuồng Cọp Pháp, song các phòng giam ở đây nhỏ hẹp hơn Chuồng Cọp Pháp. Khi lớp mái tôn thấp hấp thụ ánh nắng thiêu đốt ban ngày rồi chuyển lạnh dần từ nửa đêm đến sáng, người tù từ chịu cái nóng hầm hập ban ngày, về đêm nằm dưới nền đất lạnh, khí đất xông lên, xương cốt đau nhức, bệnh tật, chết dần chết mòn.

Khu A Trại Phú Bình

Bên cạnh đó, một trong những ngón đòn thâm độc của chúng là tra tấn tù nhân bằng âm thanh. Mỗi cánh cửa của từng phòng giam đều thiết kế 1 cửa kéo nhỏ chừng vài tấc để cai ngục có thể kéo lên nhìn vào bên trong. Chúng thường mở cánh cửa sắt ra kiểm tra rồi đóng dập lại thật mạnh, tiếng vang dội lên đinh tai nhức óc khi lần lượt 48 phòng giam trong 1 dãy và liên tiếp 8 dãy với 384 lần dội vào đầu vào lồng ngực của tù nhân. Chưa cần đến đòn roi, tù nhân cũng chết dần chết mòn bởi lối kiến trúc này.

Thế nhưng, đòn thù thâm độc của kẻ thù không khuất phục được ý chí kiên cường của những người tù cách mạng. Chuồng Cọp Mỹ trở thành trung tâm đấu tranh của tù chính trị Côn Đảo trong giai đoạn này. Các báo cáo của nhà tù trong 2 năm 1973 – 1974 cho thấy, nhiều cuộc đấu tranh của tù chính trị đã nổ ra tại đây dưới hình thức: Hô la tập thể, đòi nhà cầm quyền phải cung cấp đầy đủ lương thực, thuốc men, đòi nhà cầm quyền tôn trọng Hiệp định Paris, trao trả tức khắc số tù chính trị còn bị giam giữ…

Phòng giam trại Phú Bình

Tại đây, cũng là nơi khởi đầu và là trung tâm chỉ đạo cuộc nổi dậy giải phóng Côn Đảo mùa xuân 1975. Được sự giúp đỡ của linh mục Phạm Gia Thụy và một số binh sĩ, công chức, gác ngục, ban lãnh đạo trại đã chớp thời cơ giải phóng Côn Đảo vào lúc 1 giờ sáng 1/5/1975. Đảng ủy lâm thời được thành lập gồm 7 người, do đồng chí Trịnh Văn Tư (Tư Cẩn) làm Bí thư. Đảng ủy tổ chức ngay lực lượng vũ trang chiếm các trại lính, ty cảnh sát và giải phóng cho các trại. 8 giờ sáng ngày 1/5/1975, 7.448 tù nhân (trong đó có 4.234 tù chính trị) ở 8 trại chính và nhiều trại phụ được giải phóng, tù chính trị hoàn toàn làm chủ Côn Đảo, thành lập chính quyền cách mạng và tổ chức lực lượng phòng thủ Côn Đảo.

Di tích trại Phú Bình đã được thủ tướng chính phủ ký quyết định số 548/QĐ-TTg công nhận là Di tích Quốc gia Đặc biệt ngày 10/5/2012.

5/5 - (5 bình chọn)

Suối Tranh Phú Quốc nơi hội tụ “Sơn thủy hữu tình”

Suối Tranh sở hữu một phong cảnh thiên nhiên đẹp với hoa cỏ, núi rừng, biển và suối, là địa điểm tổ chức cắm trại, dã ngoại thú vị. Đến đây, bạn có thể dựng lều bên bờ suối để nghỉ ngơi và tham gia nhiều hoạt động dã ngoại đặc sắc. Có đoạn suối chảy qua các ghềnh đá tạo nên những con thác nhỏ với làn nước mềm mại, trắng xoá… Có một lối mòn dọc theo bờ suối, đủ để hai người nắm tay nhau đi dưới tán rừng xanh mát. Những bậc tam cấp trên lối đi vừa với mỗi bước chân nên bạn không có cảm giác mệt dù đang lên núi. Khung cảnh tựa như bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp…

Nằm ở phía Nam đảo Phú Quốc cách thị trị trấn Dương Đông tầm 9 km, Suối Tranh là địa điểm tham quan khá nổi tiếng ở nơi đây. Với chiều dài khoảng 15km, Suối Tranh được tạo nên từ những khe nước nhỏ trên đầu nguồn của núi Hàm Ninh. Đặc biệt, đây là dòng suối luồn lách chảy qua nhiều hang động, ghềnh đá, rêu phong hiểm trở của rừng nguồn.

Nguồn gốc tên Suối Tranh

Theo câu chuyện được người dân ở đây tương truyền rằng, trước đây trên đỉnh thượng nguồn của con suối có một rừng tranh rộng bạt ngàn. Năm 1963, có một nhà thơ Đông Hồ đã khám phá ra ví trí này, đứng trước bức tranh thiên nhiện tuyệt mỹ ông đã sáng tác nên một bài thơ mang tên Suối Tranh. Nơi mà vừa có núi rừng, cỏ cây vừa có dòng suối thơ mộng và cũng chính từ đó cái tên Suối Tranh ra đời và lưu truyền đến bây giờ.

Thời điểm thích hợp để đi du lịch Suối Tranh

Bạn nên đến đây vào khoảng thời gian từ tháng 6 đến tháng 1 năm sau. Đây là khoảng thời gian dòng suối thể hiện rõ nhất về vẻ thơ mộng hùng vĩ của mình. Tuy nhiên, một điều bất lợi trong khoảng thời gian này là Phú Quốc hay có những cơn mưa kéo dài và việc di chuyển ra Phú Quốc thường bất tiện.

Bên cạnh khoảng thời gian tháng 6 đến tháng 1 năm sau thì khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 5 cũng là lúc lý tưởng cho một chuyến đi đến Suối Tranh. Thế nhưng, từ khoảng thời gian từ tháng 2 trở đi dòng suối sẽ bình lặng hơn những và vẻ đẹp cũng hơi trầm lắng hơn.

Có gì đẹp ở suối Tranh Phú Quốc

Du khách đến với Suối Tranh để tận hưởng khung cảnh hữu tình đẹp tựa như tranh vào tháng mùa mưa, bạn không nên đến nơi đây vào từ tháng 2 đến tháng 5. Đường đến Suối Tranh rất dễ dàng so với Suối Đá Bàn, nên lượng khách du lịch đến đây rất đông vào mùa cao điểm.

Khuôn viên Khu du lịch Suối Tranh Phú Quốc

Suối Tranh được bao bọc bởi cây cối xanh tươi, với đủ loại hoa thơm cỏ lạ. Dọc hai bên bờ suối cây cối um tùm, nhiều thân cây màu xanh xám do được phủ một lớp rêu mềm mại, nhiều thân cây lại sặc sỡ do có những cây phong lan hoa vàng, hoa đỏ bám vào,… Nước suối mát lạnh, trong vắt, nhiều đoạn suối chảy hiền hòa, êm đềm, nhưng có những đoạn, khi chảy qua các ghềnh đá, thì dữ dội, tạo nên những dòng thác trắng xóa.

Từ chân suối, du khách đi theo đường lát đá gập ghềnh lên nguồn 300m để khám phá thiên nhiên kỳ bí, cắm trại, tắm suối – thác và nghỉ ngơi thư giãn giữa hương rừng.Những dây leo chằng chịt hai bên đường đến suối như làm tăng thêm vẻ huyền bí cho khu du lịch này. Có đọan suối chảy qua các ghềnh đá tạo nên những con thác mềm mại, trắng xóa trong màu xanh mượt mà của cỏ cây hoa lá. Khung cành tựa như bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp nên người ta gọi là Suối Tranh.

Du khách đến Suối Tranh có thể thưởng thức thiên nhiên hữu tình đẹp tựa như tranh vào những tháng mùa mưa, hay để đắm mình trong dòng nước trong vắt, mát lạnh, ngả mình trên những tảng đá phủ kín rêu xanh nghe tiếng suối chảy róc rách, tiếng chim kêu thánh thót trong bầu không khí thoảng hương hoa rừng. Để chuyến đi thêm phần thú vị, du khách có thể leo núi khám phá những hang động kỳ bí, trong đó có hang Dơi nằm ở độ cao 200m, hang sâu 50m với nhiều thạch đẹp và lạ mắt.

Suối Tranh Phú Quốc

Dòng suối men theo các kẽ đá, lúc chảy cuồn cuộn, lúc lững lờ, như một bức tranh tươi đẹp của thiên nhiên ban tặng cho đảo ngọc. Các phiến đá ven suối phủ đầy rêu nên rất trơn trợt, là một thử thách đối với những bạn nào muốn vượt qua.

Hướng dẫn tham quan du lịch Suối Tranh

Bạn có thể chọn di chuyển đến Suối Tranh bằng xe máy, ô tô hay xe bus theo cung đường sau:

  • Từ thị trấn Dương Đông bạn di chuyển theo đường DT47 về hướng Hàm Ninh. Sau khi đi tầm 10km có một điểm vòng ngược lại.
  • Lúc này chỉ cần bạn quay đầu vòng lại tầm 200m nữa sẽ có bảng chỉ dẫn vào khu du lịch Suối Tranh. Đường đi hơi khó nên tay lái bạn cần phải chắc chắn nhé, hoặc có thể di chuyến bằng taxi hoặc mua tour du lịch khám phá Suối Tranh tại các công ty du lịch để có thể trải nghiệm được đầy đủ nhé!

Giá vé: 30.000 đồng/người/lượt

Giờ mở cửa: 7:00 AM – 18:00 PM

Địa chỉ: thị trấn Dương Đông, Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang

Du khách tắm suối tại Suối Tranh

Không chỉ ngắm cảnh, đến khu du lịch Suối Tranh Phú Quốc du khách còn có thể chơi nhiều trò chơi khá thú vị và hấp dẫn như:

Tắm suối: Đến Suối Tranh bạn nhất định phải tắm suối. Ngâm mình trong làn nước trong mát, bao mệt mỏi, căng thẳng sẽ tan biến. Các phiến đá ven suối phủ đầy rêu phong xanh rì mang vẻ đẹp hoang dã vô cùng cuốn hút. Hãy tận hưởng những giây phút yên bình giữa trời mây non nước ở đây nhé.

Câu cá và nướng cá: Sau khi tắm suối, bạn có thể câu cá sẽ rất thú vị. Lưu ý, trước khi đi chơi nhớ mang theo cần câu cá nhé.

Cắm trại: Khu du lịch suối tranh chắc chắn sẽ là điểm đến lý tưởng cho những hoạt động picnic cuối tuần cho các gia đình hay nhóm bạn bè. Không gian yên tĩnh, mát mẻ, thoáng đãng và cực kỳ trong lành. Trải nghiệm khách sạn ngàn sao thì còn gì tuyệt vời hơn. Trước khi đi bạn nhớ chuẩn bị đồ ăn cho bữa tiệc ngoài trời này nha.

Tổ chức teambuilding: Vừa dã ngoại vừa vui chơi và thư giãn cùng với cây cỏ sông nước, không gian rộng rãi mọi người thoải mái các trò chơi.

5/5 - (3 bình chọn)

Đình thờ Nguyễn Trung Trực tại Phú Quốc

Đình thờ Nguyễn Trung Trực tại Phú Quốc gồm: 1 nhà chánh điện, 2 gian thờ. Trong đó có 1 gian thờ được giữ và cải tạo lại dựa trên nhà chánh điện hiện hữu. Ngoài ra còn có 2 hiên chờ và hệ thống hạ tầng, cảnh quan đồng bộ và phù hợp toàn khu.

Được biết, đình thờ trước đây được người dân đóng góp xây dựng từ năm 1993 để thể hiện lòng kính ngưỡng đối với vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, người thủ lĩnh quả cảm của phong trào khởi nghĩa chống Pháp cuối thế kỷ 19.

Người dân Phú Quốc thường đến đền thờ Nguyễn Trung Trực để cầu xin bình an, may mắn. Mỗi năm đến ngày giỗ của ông, người dân thường làm lễ giỗ tưởng nhớ ông và những nghĩa quân liệt sĩ kiên trung. Ghé thăm đền thờ giản dị của anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực tại Gành Dầu Phú Quốc, tìm hiểu thêm về thân thế sự nghiệp của ông, chắc bạn sẽ càng thêm cảm mến ông cùng những nghĩa quân liệt sĩ áo vải quả cảm không ngần ngại hy sinh cuộc sống để bảo vệ quê hương…

Đình được công nhận là Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp tỉnh vào năm 2011, và là điểm tham quan của nhiều du khách khi đến Phú Quốc. Được sự đóng góp của nhân dân, ban bảo vệ di tích thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ, bảo trì và tổ chức lễ hội hàng năm.

Địa chỉ: xã Gành Dầu, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang Xã Gành Dầu, Phú Quốc, Tỉnh Kiên Giang

Chuyện kể về ‘cụ Nguyễn’ đảo Phú Quốc

“Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”, câu nói đó của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực đã lưu danh sử vàng đất Việt bao đời nay. Còn với người dân tỉnh Kiên Giang nói chung và đảo Phú Quốc nói riêng, “cụ Nguyễn” luôn là chỗ dựa tinh thần giúp họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống….

Đón tôi trong một chiều nắng ươm vàng trên đảo, anh Lộc – một lái xe tắc xi người Khmer kể cho tôi những gì anh được nghe từ cha ông kể lại về người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Suốt cả câu chuyện, anh Lộc dùng đại từ danh xưng “cụ” đủ để thấy rằng trong tâm thức của từng người dân Phú Quốc từ trẻ đến già, hình ảnh của người anh hùng dân tộc luôn sống mãi và thân thiết như người một nhà.
“Lúc còn nhỏ tôi nghe cha kể lại, sau này đi làm lái xe đọc thêm và nghe từ người dân tôi được biết, cụ Nguyễn Trung Trực vốn là một người dân chài ở tỉnh Gia Định nay là Long An. Nhân dân tỉnh Kiên Giang gọi cụ Nguyễn Trung Trực bằng “ông”, “cụ” hoặc “cụ Nguyễn” vì kiêng gọi tên húy. Cuộc đời cụ tuy ngắn ngủi nhưng rất hào hùng. Cụ đã để lại cho dân tộc chiến thắng vẻ vang đó là đánh chìm tàu chiến Pháp mang tên Esperanza. Năm 1868, cụ bị bọn đô hộ Pháp bắt và hành hình tại chợ Rạch Giá lúc mới có 31 tuổi.

Thương cụ, tưởng nhớ cụ ở Kiên Giang có rất nhiều miếu thờ cụ Nguyễn chứ không riêng gì Phú Quốc. Đền thờ cụ Nguyễn trên đảo là một trong những đền thờ lớn thờ cụ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, được xếp hạng di tích cấp tỉnh, thành phố ngày 8/8/2011.

Mỗi năm đến ngày mất của cụ, nhân dân các nơi tụ tập về đây tổ chức cúng cơm cho cụ. Khá nhiều người, từ ngư dân, học trò, người buôn bán đến đây lễ bái, cầu xin bình an, học hành tấn tới, thi cử thành đạt, làm ăn phát tài…” – anh Lộc thong thả kể trong lúc lái xe đưa tôi đến thăm đền thờ.

Sự hy sinh sống mãi trong trái tim mọi người dân

Sử sách ghi lại, Nguyễn Trung Trực sinh năm Đinh Dậu 1837, mất năm Mậu Thìn 1868 là liệt sĩ cận đại, nhà lãnh đạo cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Tân An (nay thuộc tỉnh Long An) và Rạch Giá (nay thuộc tỉnh Kiên Giang), tục gọi là Quản Chơn hay Quản Lịch (vì lúc nhỏ ông có tên là Chơn, rồi từ năm Kỉ Mùi 1859 đổi là Lịch, còn Quản là chức Quản cơ).

Sau khi đốt tàu L’Esperance, ông đổi tên là Nguyễn Trung Trực và tên này được nhân dân gọi cho đến ngày cuối cùng. Quê ông ở phủ Tân An, tỉnh Gia Định (nay thuộc ngoại ô thị xã Tân An, Long An).

Ông xuất thân trong một gia đình chài lưới ở hạ lưu sông Vàm Cỏ, năm 1861, hưởng ứng lịch Cần Vương chống Pháp, ông chiêu mộ một số đông nông dân nổi dậy đánh phá các đồn Pháp ở các vùng thuộc phủ Tân An.

Lập được nhiều chiến công nên được triều đình Huế phong chức Quản cơ. Nghĩa quân dưới quyền lãnh đạo của ông gồm một số nhà yêu nước: Nguyễn Văn Điền (hay Điền), Nguyễn Học, lương thân Hồ Quang… tổ chức cuộc phục kích đốt tàu L’Esperance của Pháp trưa ngày 10/12/1861 tại vàm Nhật Tảo.

Sau đó, ông tiếp tục chiến đấu qua lại trên địa bàn Gia Định, Biên Hòa. Sau khi ba tỉnh miền đông Nam Bộ mất (theo Hòa ước Nhâm Tuất 1862) ông được phong làm Lãnh binh. Năm 1861 ông lại được triều đình phong chức Hà Tiên thành thủ úy để trấn giữ đất Hà Tiên. Sau khi thành Hà Tiên thất thủ, ngày 23/6/1867, ông rút quân về Rạch Giá tiếp tục cuộc chiến đấu, lập căn cứ ở Hòn Chồng. Ngày 16/6/1868, ông cho quân đánh úp đồn Kiên Giang (nay là thị xã Rạch Giá) tiêu diệt địch.

Giặc Pháp phản công, ông rút ra đảo Phú Quốc lập căn cứ nhằm chống giặc lâu dài. Pháp phải huy động một lực lượng hùng hậu đến bao vây và tấn công đảo. Đến tháng 10/1868, để bảo đảm lực lượng nghĩa quân và nhân dân trên đảo, ông tự ra nộp mình cho giặc bắt. Chúng nhiều lần dụ dỗ, mua chuộc nhưng ông quyết không đầu hàng.

Sau đó, ông bị giải về Sài Gòn, viên thống soái Nam Kì lúc đó vừa dụ hàng, vừa hăm dọa, ông đã khẳng khái trả lời: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”. Không lung lạc được tinh thần người anh hùng, giặc Pháp đem ông ra hành hình ở chợ Rạch Giá ngày 27/10/1868, khi ông mới 31 tuổi.

Chuyện kể rằng, vào buổi sáng 27/10/1868, nhân dân trong vùng tập trung về chợ Rạch Giá để chứng kiến vị anh hùng của họ bị giặc Pháp xử tử. Cụ Nguyễn yêu cầu nhà cầm quyền mở trói, không bịt mắt để ông nhìn đồng bào, quê hương lần cuối.

Người dân trải xuống đất một chiếc chiếu hoa có chữ “Thọ” màu đỏ cho ông đứng thọ hình. Trước giờ xử tử Nguyễn Trung Trực đã ung dung đọc bài thơ tuyệt mệnh: “Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên/Yêu gian đảm khí hữu long tuyền/Anh hùng nhược ngộ vô dung địa/Bảo hận thâm cừu nhất đái thiên” (dịch nghĩa: Theo việc binh nhung thuở trẻ trai/Phong trần hăng hái tuốt gươm mài/Anh hùng gặp phải hồi không đất/Thù hận chang chang chẳng đội trời).

Với từng người dân nước Việt nói chung và người dân Kiên Giang, Phú Quốc nói riêng, cho dù người Pháp đã dùng cái chết để kết thúc cuộc đời một anh hùng, nhưng sự hy sinh của Nguyễn Trung Trực đã thành ngọn lửa bất khuất hâm nóng mọi con tim, nhân lên rộng khắp thành những ngọn lửa bừng cháy mãnh liệt trong cuộc đấu tranh kiên cường giành độc lập và giữ gìn đất nước.

Hiếm có người anh hùng dân tộc nào được nhân dân trong vùng tín ngưỡng như Nguyễn Trung Trực. Để tỏ lòng kính ngưỡng người con ưu tú của dân tộc, vị thủ lĩnh kiên cường của phong trào khởi nghĩa chống Pháp, người dân nhiều nơi đã dựng đền thờ tôn vinh Nguyễn Trung Trực, trong đó tiêu biểu phải kể đến đền thờ tại Long An quê hương ông, đền thờ tại Rạch Giá nơi ông bị xử tử và đền thờ tại Gành Dầu, Phú Quốc nơi ông bị bắt trong trận chiến đấu cuối cùng…

Anh khí như hồng

Đền thờ Nguyễn Trung Trực trên đảo Phú Quốc được dựng ngay tại mũi Gành Dầu, cách trung tâm huyện đảo chừng 40km. Đền thờ được xây theo kiểu chữ tam, gồm chính điện, đông lang và tây lang. Chính điện thờ bài vị của ông, cùng các vị thần linh và những người có công khác như: Chánh soái đại càn, Phó lãnh binh Lâm Quang Ky, Phó cơ Nguyễn Hiền Điều, những nghĩa quân liệt sĩ áo vải quả cảm đã không ngại ngần hy sinh cuộc sống để bảo vệ quê hương.

Ở trong đền thờ, có bức hoành phi ngay tại gian giữa thu hút mọi ánh nhìn với bốn chữ vàng “Anh khí như hồng” ca ngợi tiết khí của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực luôn sáng như cầu vồng bảy sắc.

Mỗi năm đến ngày giỗ của ông, người dân thường làm lễ giỗ tưởng nhớ ông và những nghĩa quân liệt sĩ kiên trung. Không dừng lại ở nghĩa cử tôn vinh anh hùng liệt sĩ, đình thần Nguyễn Trung Trực còn nhuốm nhiều màu sắc tín ngưỡng dân gian trong sinh hoạt thường ngày của cư dân địa phương. Vì thế, vào những ngày thường cũng có khá đông người dân và khách du lịch đến đền thờ Nguyễn Trung Trực để cầu xin bình an, may mắn.

Theo thông tin từ truyền thông và các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa, xung quang ngày giỗ của Nguyễn Trung Trực cũng có nhiều điều thú vị. Hay nói cách khác, ông là người anh hùng có hai ngày giỗ.

Theo các tài liệu lịch sử chính thống, anh hùng Nguyễn Trung Trực hy sinh vào ngày 27/10/1868 (tức ngày 12/9 năm Mậu Thìn). Theo phong tục tập quán, ngày giỗ được làm ngày trước ngày mất, còn ngày giỗ chính diễn ra đúng vào ngày mất. Các hậu duệ của Nguyễn Trung Trực ở Long An cũng đều cúng giỗ “cụ Nguyễn” vào ngày 12/9 âm lịch hàng năm. Hầu hết các đình, đền thờ Nguyễn Trung Trực ở khắp miền Tây cũng đều làm lễ giỗ, kỷ niệm theo ngày này.

Thế nhưng, ở chính nơi Nguyễn Trung Trực hy sinh – thành phố Rạch Giá, Kiên Giang, ngày giỗ “cụ Nguyễn” kéo dài 3 ngày từ 26 đến 28 tháng 8 âm lịch hàng năm. Theo lý giải của người dân, thì lễ hội truyền thống Nguyễn Trung Trực tại thành phố Rạch Giá được tổ chức trước ngày cụ Nguyễn hy sinh khoảng nửa tháng, có thể có liên quan đến việc đền thờ Nguyễn Trung Trực trước đây vốn là một ngôi miếu thờ Cá Ông (Nam Hải Đại Tướng Quân). Người dân thờ cúng ông trong ngôi miếu để qua mắt chính quyền thực dân. Sau nhiều lần trùng tu ngôi miếu ấy đã thành đền thờ Nguyễn Trung Trực như hiện nay.

Kết

Một người anh hùng có hai ngày giỗ, dù còn nhiều tranh luận cũng như quan điểm cần có một cuộc hội thảo cấp khu vực hoặc quốc gia để làm sáng tỏ và thống nhất, nhưng với mọi người dân ở miền Tây Nam bộ thì điều đó có hề chi.

Bởi tinh thần bất khuất của “cụ Nguyễn” của họ luôn sống mãi và câu nói bất khuất của cụ “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây” đã lưu danh vào sử sách cùng các anh hùng nước Việt khác như của Bà Triệu lãnh đạo nhân dân chống lại ách đô hộ của nhà Ngô vào thế kỷ III

“Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở Biển Đông, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tì thiếp người”; như của Thái sư Trần Thủ Độ trước thế giặc Mông Cổ: “Đầu thần chưa rơi xuống đất, bệ hạ đừng lo gì khác” thể hiện quyết tâm đánh giặc đến cùng; như của Trần Bình Trọng danh tướng của nhà Trần “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”…

Những câu nói ấy đã trở thành lời tuyên bố đanh thép trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, thành lời hiệu triệu cho biết bao thế hệ thanh niên ra đi tìm đường cứu nước…

Hồng Minh

https://baophapluat.vn/

5/5 - (3 bình chọn)

Ngắm vẻ đẹp đội tàu cao tốc hai thân Phú Quốc Express chuẩn 5 sao

Từ những con tàu cao tốc hai thân đầu tiên có sức tải 300 hành khách để chạy tuyến ngắn Rạch Giá – Phú Quốc, chỉ sau 2 năm đội tàu cao tốc Phú Quốc Express trở mình với những con tàu có sức tải lên đến 598 hành khách, có thể vượt biển ra tới Côn Đảo trong hơn 3 giờ đồng hồ xuất phát từ Vũng Tàu.

Các con tàu cao tốc công nghệ 2 thân có thể cắt sóng, triệt tiêu sóng cấp 5 và gió giật lên tới cấp 7 đạt tốc độ trên 30 hải lý/giờ nhưng vẫn êm ái. Đội tàu Phú Quốc Express được ví như những chuyến xe “cao tốc trên biển Đông” với chất lượng dịch vụ đạt chuẩn 5 sao.

Hãy cùng chúng tôi điểm qua những đội tàu cao tốc hai thân của Phú Quốc Express

Tàu cao tốc Phú Quốc Express 5
Tàu cao tốc Phú Quốc Express 6 tại Bến tàu khách Hà Tiên
Tàu cao tốc Phú Quốc Express 7
Tàu cao tốc Phú Quốc Express 8
Phú Quốc Express 9 tại Bến tàu khách Hà Tiên
Tàu cao tốc Trưng Trắc
Tàu cao tốc Trưng Nhị tại Cảng Bến Đầm, Côn Đảo
Tàu cao tốc Côn Đảo Express 36

Những con tàu hai thân của Phú Quốc Express đưa vào sử dụng trở thành hiện tượng của vận tải biển Việt Nam khi chứng tỏ hiệu quả cao, được du khách đánh giá rất tốt đồng thời đạt nhiều kỷ lục Việt Nam như: Tàu cao tốc 2 thân chở khách lớn nhất Việt Nam, tàu cao tốc hiện đại nhất do Việt Nam thiết kế… Nhưng giấc mơ của cựu thuyền trưởng Vũ Văn Khương không dừng lại ở đó. Ông đang cùng với những đồng sự tiếp tục với kế hoạch đóng con tàu 2 thân lớn hơn, có thể chở tới 1.000 khách để xây dựng những tuyến vận tải cao tốc, nối liền biển đảo khắp cả nước.

5/5 - (1 bình chọn)

Lịch sử hình thành đảo Phú Quốc

Lịch sử hình thành đảo Phú Quốc – hòn đảo lớn nhất của Việt Nam, với nhiều tình tiết vô cùng thú vị, gắn liền với dòng họ Mạc những ngày đầu khai hoang trên mảnh đất này.

Vị trí địa lý đảo Phú Quốc

Vùng biển Phú Quốc có 27 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó đảo Phú Quốc lớn nhất có diện tích 574 km² (56.200 ha), dài 50 km, nơi rộng nhất (ở phía bắc đảo) 25 km. Điểm cao nhất tới 603 m (núi Chúa). Địa hình thiên nhiên thoai thoải chạy từ nam đến bắc với 99 ngọn núi đồi. Phần các vùng biển quanh đảo nông có độ sâu chưa đến 10 m. Tuy nhiên, cụm đảo nhỏ của cảng An Thới bị ngăn cách hẳn với phần mũi phía nam của đảo Phú Quốc bởi một eo biển có độ sâu tới hơn 60 m. Thị trấn Dương Đông, tọa lạc ở phía tây bắc, là thủ phủ của huyện đảo. Phú Quốc nằm cách thành phố Rạch Giá 120 km và cách thị xã Hà Tiên 45 km.

Bản đồ đảo Phú Quốc

Lịch sử hình thành đảo Phú Quốc

Năm 1671, một người Hoa tên là Mạc Cửu (Mạc Kính Cửu), quê ở Lôi Châu, tỉnh Quảng Đông, mang cả gia đình, binh sĩ và một số sĩ phu khoảng 400 người lên thuyền rời Phúc Kiến đi về vùng biển phương Nam.

Sau nhiều ngày lênh đênh trên biển, đoàn người của Mạc Cửu đặt chân lên một vùng đất hoang trong vịnh Thái Lan. Sau khi dò hỏi và biết vùng đất này thuộc ảnh hưởng Chân Lạp, phái đoàn liền tìm đường đến Oudong xin tị nạn, nhưng lúc đó nội bộ Chân Lạp có loạn. Mạc Cửu gặp Nặc Ông Thu (Ang Sur – Jayajettha III) và ở lại hợp tác cho đến năm 1681. Trong năm 1680, Mạc Cửu đã lập một số ấp rải rác từ Vũng Thơm, Trủng Kè, Cần Vọt, Rạch Giá, Hà Tiên, và Cà Mau đã nhanh chóng trở thành thương cảng quan trọng. Có những thôn ấp định cư nằm san sát ở mé biển, khá thuận tiện cho ghe thuyền tới lui, cũng có thôn ấp ở đất cao dọc theo Giang Thành, sông Cái Lớn, sông Gành Hào, Ông Đốc để canh tác.

Trở lại với quá trình mở mang vùng đất mới của Mạc Cửu, ông đã lập ra 7 sòng bạc dọc bờ biển như Mán Khảm (Peam), Long Kỳ (Ream), Cần Bột (Kampot), Hương Úc (Kompong Som), Sài Mạt (Cheal Meas), Linh Quỳnh (Rạch Giá) và Phú Quốc (Koh Tral). Thủ phủ đặt tại Mán Khảm (cảng của người Mán, tức người Khmer), sau đổi thành Căn Khẩu (Căn Kháo hay Căn Cáo). Tiếng đồn về vùng đất phồn thịnh này ngày càng vang xa, do đó lưu dân gốc Hoa từ khắp nơi trong vịnh Thái Lan đã xin đến đây lập nghiệp.

Kể từ đó nơi đây đã ra đời tên gọi mới: Căn Khẩu Quốc. Đảo Koh Tral cũng đổi tên thành Phú Quốc (vùng đất giàu có). Năm 1708, Mạc Cửu bắt đầu liên lạc với Chúa Nguyễn Phúc Chu. Năm 1714, Mạc Cửu xin làm thuộc hạ của chúa Nguyễn và được phong chức tổng binh cai trị đất Căn Khẩu. Tiếp đến vào năm 1724, Mạc Cửu lại một lần nữa dâng toàn bộ đất đai có được và được chúa Nguyễn phong chức đô đốc trấn giữ vùng lãnh thổ này, đồng thời đổi tên vùng Căn Khẩu thành Long Hồ dinh. Cho đến năm 1729, Long Hồ dinh đã nổi tiếng là vùng đất trù phú nhất ở vùng vịnh Thái Lan.

Năm 1735 Mạc Cửu mất, con của ông là Mạc Sĩ Lân (sau đổi tên thành Mạc Thiên Tứ) được phong làm đô đốc, kế nghiệp cha cai trị Long Hồ dinh. Vì những cống hiến của gia đình họ Mạc, Ninh vương Nguyễn Phúc Trú đã nâng dòng họ Mạc lên hàng vương tôn. Long Hồ dinh lúc bấy giờ được đổi tên thành trấn Hà Tiên. Năm 1739, Mạc Thiên Tứ lập thêm bốn huyện: Long Xuyên (Cà Mau), Kiên Giang (Rạch Giá), Trấn Giang (Cần Thơ) và Trấn Di (bắc Bạc Liêu). Năm 1755, Nặc Nguyên nhờ Mạc Thiên Tứ dâng chúa Nguyễn vùng lãnh thổ gồm hai phủ Tầm Bôn (thuộc Cần Thơ) và Lôi Lập (Long Xuyên) để được về Nam Vang cai trị.

Năm 1758, chúa Nguyễn đưa Nặc Tôn (Ang Ton II) lên làm vua và được tặng thêm lãnh thổ Tầm Phong Long (Châu Đốc và Sa Đéc). Nặc Tôn tặng riêng Mạc Thiên Tứ lãnh thổ 5 phủ miền Đông-Nam Chân Lạp gồm Hương Úc (Kompong Som), Cần Bột (Kampot), Trực Sâm (Chưng Rừm), Sài Mạt (Cheal Meas) và Linh Quỳnh (vùng duyên hải từ xã Sré Ambel đến làng Peam). Nói chung, toàn bộ vùng duyên hải bao quanh đảo Phú Quốc. Sau đó, Mạc Thiên Tứ đã dâng hết cho Võ vương Nguyễn Phúc Khoát. Thật ra, đây chỉ là những vùng đất hoang, không người Khmer nào sinh sống vì sình lầy và lụt lội quanh năm. Võ vương đã sát nhập tất cả các vùng đất mới vào trấn Hà Tiên, giao cho Mạc Thiên Tứ cai trị.

Năm 1770, nhà truyền giáo Pierre Pigneu de Béhaine đặt chân lên Phú Quốc và xác nhận cư dân ở đây sử dụng tiếng Việt để giao tiếp, không sử dụng tiếng Khmer.

Năm 1855, Hoàng để Napoleon III của Pháp xác nhận Phú Quốc thuộc chủ quyền Việt Nam.

Thời Pháp thuộc, Pháp đặt Phú Quốc làm đại lý hành chính, thuộc hạt thanh tra Kiên Giang, rồi Rạch Giá. Ngày 1 tháng 8 năm 1867, Phú Quốc thuộc hạt Hà Tiên. Ngày 25 tháng 05 năm 1874, Pháp thành lập hạt Phú Quốc, bao gồm các đảo nằm trong khu vực 100°Đ – 102°Đ và 9°B – 11°30’B. Đồng thời, Pháp còn mở cảng Dương Đông cho tàu thuyền các nước vào buôn bán.

Ngày 16 tháng 06 năm 1875, giải thể hạt Phú Quốc, tái lập tổng thuộc hạt Hà Tiên, gồm 5 thôn: Lạc Hiệp, An Thới, Dương Đông, Hàm Ninh, Phú Dữ.

Từ ngày 5 tháng 1 năm 1876, các thôn gọi là làng, thuộc hạt Hà Tiên.

Ngày 18 tháng 05 năm 1878, đổi tên làng Lạc Hiệp thành làng Lạc Phú.

Từ ngày 12 tháng 01 năm 1888, tổng Phú Quốc thuộc hạt tham biện Châu Đốc.

Từ ngày 27 tháng 12 năm 1892, lại thuộc hạt Hà Tiên.

Ngày 1 tháng 1 năm 1900, thuộc tỉnh Hà Tiên.

Ngày 4 tháng 10 năm 1912, nhập hai làng An Thới và Lạc Phú vào làng Dương Đông. Từ ngày 09 tháng 02 năm 1913, tổng Phú Quốc đổi thành đại lý Phú Quốc, thuộc tỉnh Châu Đốc.

Ngày 25 tháng 4 năm 1924, đặt làm quận Phú Quốc, thuộc tỉnh Hà Tiên. Sau năm 1956, quận Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang, các làng gọi là xã, giải thể xã Phú Dữ, còn hai xã Dương Đông và Hàm Ninh, dân số năm 1965 là 12.449 người.

Năm 1949, khi quân Trung Hoa Dân quốc thua trận trước Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc, Hoàng Kiệt (黃杰 Huang Chieh) một tướng lĩnh Quốc dân đảng, gốc tỉnh Hồ Nam, dẫn hơn 30.000 quân chạy sang Việt Nam lánh nạn. Lúc bấy giờ, thực dân Pháp cho họ ra đóng quân tại phía Nam đảo Phú Quốc. Sau đó, năm 1953, họ về Đài Loan theo Tưởng Giới Thạch. Đội quân Trung Hoa này bỏ lại nhà cửa, đồn điền… Pháp thấy vậy tận dụng nhà cửa có sẵn, lập ra nhà tù rộng khoảng 40 ha gọi là “Trại Cây Dừa”, có sức giam giữ 14.000 tù nhân.

Thời kì Việt Nam Cộng hòa, Phú Quốc là một duyên khu của hải quân.

Năm 1964, vua Sihanouk của Campuchia tuyên bố chấp nhận đường Brevie từ thời thuộc địa là biên giới biển, đồng nghĩa với việc từ bỏ yêu sách của mình đối với Phú Quốc, công nhận Phú Quốc thuộc chủ quyền Việt Nam.

Năm 1969, chính quyền Việt Nam Cộng hòa bác bỏ đề xuất lấy đường Brevie từ thời thuộc địa là biên giới biển và tiến hành mở rộng hải phận của Việt Nam.

Khmer Đỏ đã hoàn toàn chấp nhận đường Brevie trong các cuộc đàm phán của họ với người Việt Nam (cho dù Khmer Đỏ đã tiến hành một chiến dịch chiếm đảo thất bại vào năm 1975).

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, Phú Quốc là một huyện thuộc tỉnh Kiên Giang, gồm thị trấn Dương Đông và 3 xã: Cửa Dương, Dương Tơ, Hàm Ninh.

Ngày 4 tháng 5 năm 1975, một toán quân Khmer Đỏ đột kích đảo Phú Quốc. Ngày 10 tháng 5 năm 1975, Khmer Đỏ dùng tàu đổ bộ LSM và 3 tàu tuần tra PCF đưa quân đánh chiếm đảo Thổ Châu, dồn hơn 500 người dân Việt Nam trên đảo đưa về Campuchia và tàn sát toàn bộ.

Ngày 27 tháng 5 năm 1975, hải quân nhân dân Việt Nam giải phóng đảo Thổ Châu.

Ngày 17 tháng 2 năm 1979, chia xã Cửa Dương thành hai xã Cửa Dương và Cửa Cạn, chia xã Dương Tơ thành hai xã Dương Tơ và An Thới, đổi tên xã Hàm Ninh thành xã Bãi Bổn.

Ngày 24 tháng 04 năm 1993, thành lập xã Thổ Châu trên cơ sở quần đảo Thổ Châu, thành lập xã Bãi Thơm từ một phần các xã Cửa Dương và Cửa Cạn, đổi lại tên xã Bãi Bổn thành xã Hàm Ninh.

Ngày 18 tháng 3 năm 1997, Chính phủ ban hành Nghị định số 23-CP, chia xã Cửa Cạn thành hai xã Cửa Cạn và Gành Dầu.

Năm 1999, Chính phủ Vương quốc Campuchia và Chính phủ Việt Nam thống nhất về đường Brevie và Phú Quốc thuộc chủ quyền Việt Nam.

Ngày 11 tháng 2 năm 2003, Chính phủ Việt Nam lại ban hành Nghị định 10/2003/NĐ – CP, giải thể xã An Thới để thành lập thị trấn An Thới và xã Hòn Thơm. Như vậy, Phú Quốc có 2 thị trấn và 8 xã như hiện nay.

Kể từ đó cho đến nay, trải qua biết bao thăng trầm của lịch sử, đảo Phú Quốc vẫn tươi nguyên màu xanh của biển, của những bãi cát trắng phẳng lì, gợi cho du khách biết bao hoài niệm về một thời đi mở cõi của dòng họ Mạc nói riêng và của người Việt trên vùng đất mới nói chung, để càng yêu thêm từng mảnh đất trên quê hương mình.

Văn hóa, tôn giáo trên đảo

Phú Quốc được xem là nơi phát tích của đạo Cao Đài. Ngày nay trên đảo có một thánh thất Cao Đài ở thị trấn Dương Đông.

Trên đảo có duy nhất một nhà thờ đạo Thiên chúa ở thị trấn An Thới, đó cũng là nơi trước đây tập trung dân di cư từ miền bắc vào năm 1954.
Ở đảo Phú Quốc, vào ngày rằm tháng 7 âm lịch người dân thường đi chùa tại thị trấn Dương Đông. Vào ngày này sinh hoạt tôn giáo diễn ra khá nhộn nhịp.

Bãi biển Ông Lang Phú Quốc

Khí hậu – Thủy văn Phú Quốc

Do vị trí đặc điểm của Đảo Phú Quốc nằm ở vĩ độ thấp lại lọt sâu vào vùng vịnh Thái Lan, xung quanh biển bao bọc nên thời tiết mát mẻ mang tính nhiệt đới gió mùa. Khí hậu chia hai mùa rõ rệt, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 âm lịch đến tháng 4 âm lịch năm sau và mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 âm lịch đến tháng 10 âm lịch năm sau.

  • Mùa khô: Đảo Phú Quốc chịu ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc có cường độ tương đối mạnh, tốc độ gió trung bình 4 m/s. Khi gió Đông Bắc mạnh, tốc độ đạt từ 20 đến 24 m/s. Mùa khô có độ ẩm trung bình 78%. Nhiệt độ cao nhất 35 độ C vào tháng 4 và tháng 5.
  • Mùa mưa: Đảo Phú Quốc là cửa ngõ đón gió mùa Tây – Tây Nam, tốc độ gió trung bình 4,5 m/s. Mùa mưa mây nhiều, độ ẩm cao, từ 85 đến 90%. Lượng mưa trung bình là 414 mm/tháng. (Cả năm trung bình là 3000 mm). Trong khu vực Bắc đảo có thể đạt 4000 mm/năm; có tháng mưa kéo dài 20 ngày liên tục.
Vinpearl Safari Phú Quốc

Thành lập Thành phố Phú Quốc

Ngày 9/12/2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa thông qua nghị quyết thành lập TP Phú Quốc thuộc tỉnh Kiên Giang. Theo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (có hiệu lực thi hành từ 1-3-2021), thành lập TP Phú Quốc trên cơ sở nguyên trạng toàn bộ diện tích tự nhiên và quy mô dân số 179.480 người của huyện Phú Quốc.

Mũi Gành Dầu Phú Quốc

Phú Quốc được bao phủ bởi bờ biển dài với nhiều bãi biển đẹp và còn nguyên sơ, các ngư trường giàu tiềm năng và vùng nước biển sâu tạo điều kiện phát triển du lịch, đánh bắt hải sản và phát triển hệ thống cảng biển. Sau 15 năm xây dựng và phát triển, kinh tế của Phú Quốc luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao và duy trì ổn định.

Sau khi thành lập, TP Phú Quốc có 9 đơn vị hành chính cấp xã, gồm: phường Dương Đông, phường An Thới và 7 xã: Hàm Ninh, Dương Tơ, Gành Dầu, Bãi Thơm, Cửa Dương, Cửa Cạn, Thổ Châu.

Phường Dương Đông và  phường An Thới là hai đô thị của thành phố Phú Quốc. Phường Dương Đông có vai trò là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội; phường An Thới là đầu mối giao thông cảng biển quan trọng nhất của huyện

5/5 - (2 bình chọn)