Di tích trại Phú An – Trại 6

Trại 6 sau này được gọi là trại Phú An gồm 20 phòng giam, chia làm 02 khu: A và B, mỗi khu có 10 phòng được bố trí thành hai dãy đối diện nhau và có một khu biệt lập gồm 4 xà lim. Tổng diện tích 42.140m2

Cùng với sự gia tăng quy mô của cuộc chiến tranh xâm lược, nhà tù Côn Đảo cũng được mở rộng. Phái đoàn quân sự Hoa Kỳ sau nhiều đợt khảo sát (1967- 1968) đã đề nghị chính Phủ mỹ sử dụng ngân sách: “Chương trình viên trợ quân sự và kinh tế của Mỹ ở Việt Nam” để xây dựng trại giam kiểu mẫu ở Côn Đảo. Hãng thầu RMK- BRJ là một trong những hãng thầu nổi tiếng của Mỹ đã trúng thầu và gấp rút xây dựng một hệ thống trại giam gồm: Trại VI, Trại VII, Trại VIII (khởi công xây dựng cùng một lúc năm 1968), Riêng Trại IX đang xây dựng dang dở thì hiệp định Paris ký kết nên bỏ dở.

Khác với trại giam do thực dân Pháp xây dựng, các công trình phụ như nhà bếp, bệnh xá, kho lương thực, thực phẩm thì được bố trí trước cổng trại, còn các phòng giam thì ẩn sâu bên trong.

Đầu năm 1970. Khu A (từ phòng 1đến phòng 10) giam giữ những người tù chưa thành án (Câu lưu, hồi cứu), bị bắt sau tết Mậu Thân năm 1968 .

Tháng 8/1970, Mỹ ngụy đã thành lập Tiểu đoàn tâm lý chiến thí điểm Côn Sơn tại đây.

Khu B, lúc đầu là nơi giam giữ những người tù chính trị chống đối, được Tiểu đoàn tâm lý chiến khóa I thanh lọc. Đây là tập thể chiến đấu kiên cường được sàn lọc từ hàng trăm đợt đấu tranh chống tố cộng, chóng ly khai Đảng cộng sản từ thời Mỹ Diệm.

Năm 1972, sau khi Tiểu đoàn tâm lý chiến thất bại, địch đã đổi cách đọc ngược lại là từ phòng 11 đến phòng 20 gọi là khu A, từ phòng 01 đến phòng 10 là khu B.

Đảng bộ mang tên người chiến sỹ Lưu Chí Hiếu đã được thành lập vào ngày 3/02/1972. Bí thư là đông chí Trần Văn Cao(Tư Cao) với tinh thần đòan kết và chiến đấu cao, tù chính trị câu lưu ở rại 6 khu B đã tổ chức nhiều cuộc đấu tranh tiêu biểu. Trong đó có đợt tuyệt thực 19 ngày (10/1972). Cuộc đấu tranh chống lăn tay chụp hình, tráo án tù chính trị thành “gian nhân hiệp đảng” (5/1973) và đây cũng là nơi ra đời Tập san Sinh Hoạt và Xây Dựng.

Cuối năm 1974, nắm được tinh thần Hiệp dịnh Paris, Đảng ủy, Đảng bộ Lưu Chí Hiếu đã thành lập Ban quân sự, Ban an ninh để chuẩn bị đón thời cơ tự giải phóng.

Di tích trại Phú An đã được, Bộ Văn Hóa – Thông Tin đã ra quyết định số 54-VHQĐ Đặc cách công nhận Khu di tích đặc biệt quan trọng của Quốc gia ngày 29/4/1979. Ngày 10/5/2012 Thủ Tướng chính phủ ra quyết định 548/ QĐTTg công nhận là Di tích Đặc biệt Quốc gia.

Rate this post

Di tích trại Phú Phong – Trại 5

Sau khi thực dân Pháp bàn giao nhà tù Côn Đảo vào tháng 3/1955. Để mở rộng hệ thống nhà tù. Năm 1962 Mỹ ngụy đã cho xây dựng trại V, sau hiệp định Pari đổi tên là trại Phú Phong.

Trại Phú Phong gồm 12 phòng giam chia làm ba dãy, mỗi dãy có 4 phòng và 1 nhà bếp,..với tổng diện tích 3.594m2,, mái lợp bằng fibroximăng, được che chắn phía trước khu Chuồng cọp Pháp. Năm 1965, địch giam một bộ phận tù binh và tù câu lưu dân sự mới bị đày ra Côn Đảo.

Trong những năm 1966-1968. Tại đây, tập thể nữ tù chính trị đã trở thành lực lượng trung kiên, sát cánh với tập thể tù chính trị câu lưu và tập thể tù án chính trị đấu tranh chống chào cờ.

Ngày 23/9/1966, ngụy quyền Sài gòn đày 36 phụ nữ chống đối từ các nhà lao đất liền ra Côn Đảo giam ở Trại V. Toàn bộ nữ tù tuyên bố chống chào cờ, chống nội quy, chịu chế độ khắc nghiệt. Cuối năm 1966 nữ tù đấu tranh tuyệt thực, đòi cải thiện đời sống, đòi đưa về đất liền. Nữ tù đấu tranh hình thức cao nhất là mổ bụng, Tháng 3/1968, buộc địch đưa số nữ tù về nhà lao Chí Hòa. Sau đó tháng 9/1968, chúng chuyển về nhà lao Thủ Đức.

Trại Phú Phong là nơi diển ra nhiều cuộc đàn áp của địch, đồng thời cũng là nơi biểu dương tinh thần đấu tranh kiên cường của tập thể nữ tù và tù nhân bị giam giữ tại đây.

Di tích trại Phú Phong đã được, Bộ Văn Hóa – Thông Tin đã ra quyết định số 54-VHQĐ Đặc cách công nhận Khu di tích đặc biệt quan trọng của Quốc gia ngày 29/4/1979. Ngày 10/5/2012 Thủ Tướng chính phủ ra quyết định 548/ QĐTTg công nhận là Di tích Đặc biệt Quốc gia

5/5 - (1 bình chọn)

Di tích Sở Cò Côn Đảo

Di tích Sở Cò do thực dân Pháp xây dựng từ năm 1929, nhằm phục vụ cho bộ máy cai trị tù, Bước sang giai đọan đế quốc Mỹ, ngôi nhà này là trụ sở Quân cảnh. Đặc biệt, Sở Cò là nơi lưu lại những giờ phút cuối đời của nữ tù chính trị đầu tiên và duy nhất thời thực dân Pháp đó là Võ Thị Sáu. Khi đưa ra pháp trường tại Côn Đảo, đang cận kề với cái chết nhưng chị vẫn giữ vững khí phách của người Cộng sản, lạc quan tin tưởng vào sự thắng lợi của cách mạng. Gương kiên trung bất khuất của chị đã trở thành niềm tự hào của tuổi trẻ cả nước khi nhắc đến tên chị.

Di tích Sở Cò nằm trên đường Lê Duẩn, du khách có thể đi bằng ôtô hoặc xe máy, xe đạp hay đi bộ đều có thể đến điểm tham quan di tích này. Di tích Sở Cò đã được thủ tướng chính phủ ký quyết định số 548/QĐ-TTg công nhận là Di tích Quốc gia Đặc biệt ngày 10/5/2012.

5/5 - (3 bình chọn)

Lễ hội Miếu Bà Ngũ Hành Vũng Tàu

Lễ hội Miếu Bà Ngũ Hành được diễn ra vào các ngày 16, 17, 18/10 Âm lịch hàng năm tại Miếu Hòn Bà Vũng TàuĐình thần Thắng Tam Vũng Tàu.

Miếu Bà Ngũ Hành cùng với lăng ông Nam Hải và đình thần Thắng Tam, miếu Bà Ngũ Hành tạo thành một quần thể kiến trúc di tích và lễ hội tập trung tại khu đình thần Thắng Tam. Miếu Bà Ngũ Hành được sáng lập và xây dựng vào năm Nhâm Thìn 1832, được vua Thiệu Trị tặng cấp 04 đạo sắc Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi Thượng Đẳng Thần vào năm 1845-1846. Vua Tự Đức tặng cấp 02 đạo sắc Thiên Y A Na Thần Nữ Thượng Đẳng Thần và Thủy Long Thần Nữ thượng đẳng thần vào năm 1850. Tên miếu được nhân dân gọi theo đối tượng thờ cúng chính trong miếu, được ghi rõ trên bức hoành treo trước cửa chính điện: “Ngũ Hành miếu”. Nhiều người gọi miếu Ngũ Hành là miếu Bà ngũ hành, còn ngư dân địa phương thường gọi là miếu Bà (các đối tượng thờ trong miếu đều là bà).

Lễ hội Miếu bà Ngũ hành được tổ chức hàng năm trong ba ngày, từ 16 đến 18 tháng 10 âm lịch.Thông thường từ 6 giờ sáng ngày 16 tháng 10, người ta tổ chức lễ nghinh Bà. Đám rước gồm có chủ lễ, học trò lễ, dân làng với kiệu, bàn thờ bài trí ngũ sự, trầu cau, hoa quả, rượu trà, cờ ngũ hành, chiêng trống, đoàn múa lân… Ra miếu hòn Bà – bãi Sau nghinh Bà về Miếu Ngũ Hành cúng lễ.

Điều đặc biệt của lễ nghinh Bà ngũ hành khác với nghinh Ông là đám rước đi bộ trên đất liền, không dùng ghe, kể cả khi hòn Bà (nằm cách bờ biển chừng 50 mét, vì vậy người ta thường chọn khi thủy triều xuống mới ra nghinh Bà). Từ hòn Bà, đám rước theo đường Thùy Vân, qua đường phan Chu Trinh ra đường Hoàng Hoa Thám về khu đình thắng Tam.Sau khi nghinh Bà về đến miếu, khoảng 8 giờ – 8 giờ 30 tổ chức nghi cúng giỗ tiền hiền – hậu hiền.Trước khi cúng chính lễ, khoảng 11 giờ tổ chức Bóng rỗi, chầu mời, với ý nghĩa mời Bà về dự lễ và múa dâng mâm vàng, mâm bạc cho bà.

Đúng 12 giờ trưa bắt đầu nghi lễ cúng ngũ hành. Đây là chính lễ, vừa cúng nghinh vừa cúng tạ thần. Bắt đầu vào lễ cúng, người ta đánh ba hồi chiêng trống ( một chấp sự đánh chiêng, một chấp sự đánh trống). 8 học trò lễ và 6 đào thài thực hiện những nghi thức truyền thống. Trước bàn thờ ngũ hành bốn phụ nữ quỳ chuẩn bị tế lễ: gồm 1 chánh tế, 1 bồi tế, hai bên là đông hiếu và tây hiếu. Tiếp theo là 4 người trang phục lính hầu, tay cầm mác. Chủ lễ cúng thần dâng một tuần hương, ba tuần rượu, một tuần trà. Người ta chuẩn bị một Bà cốt, chủ tế cúng nguyện và bà nhập vào bà cốt. Thông qua bà cốt, thần sẽ chuyển tải những điều cần mách bảo cho dân làng. Sau cùng chủ lễ hóa văn tế (gọi là sớ). Những người tham dự cúng lễ lần lượt lạy tạ Bà và bày tỏ những ước nguyện của mình và gia đình, cầu mong Bà độ trì và giúp đỡ.

Bên cạnh việc tổ chức nghi lễ, thường là hát bội: diễn các vở Phan Thế Ngọc đả lôi đài, Sở Văn cứu giá, mai trắng xe duyên, xử án phi giao, lễ tôn soái Dương Kim Huệ … Ngay trong buổi chiều của ngày cúng lễ đầu tiên, ban quý tế đã tổ chức lễ đại bội và đến khoảng 3 giờ chiều diễn sơ cổ kịch bản. Dân làng Thắng Tam thường gọi là lễ trình tuồng. Sau đó là bóng rỗi, múa mâm vàng, mâm bạc dâng Bà.

Di tích, lễ hội miếu Bà Ngũ Hành có chiều hướng thu hút đông đảo người tham dự, không chỉ cộng đồng dân cư thành phố Vũng Tàu mà còn nhiều cộng đồng dân cư khác trong Tỉnh và cả nhiều du khách thập phương trở thành phong tục tốt đẹp của địa phương, của lễ hội. Di tích có những đặc điểm riêng gắn liền với lịch sử, tín ngưỡng, phong tục tập quán của cư dân Vũng Tàu là điểm tựa tinh thần, nơi vui chơi giải trí, giao lưu cộng cảm và trao truyền đạo lý.

TTTTXTDL

5/5 - (2 bình chọn)

Quần đảo Nam Du

Quần đảo Nam Du bao gồm 21 hòn đảo lớn nhỏ, gồm hai dãy đảo song song theo hướng Bắc – Nam, trong đó có diện tích lớn nhất và dân cư sống tập trung ở hai hòn: Hòn Lớn (Củ Tron) và Nam Du (Hòn Ngang).

21 hòn đảo ở Quần đảo Nam Du gồm:

  • Xã An Sơn gồm 11 hòn: Đảo Nam Du (còn được gọi là Hòn Củ Tron hay Hòn Lớn), Hòn Tre (Nam Du), Hòn Nhàn, Hòn Mốc, Hòn Dâm, Hòn Hàng, Hòn Ông, Hòn Nồm Trong, Hòn Nồm Giữa, Hòn Nồm Ngoài, Hòn Khô.
  • Xã Nam Du gồm 10 hòn: Hòn Dầu (Hòn Trung), Hòn Đụng Nhỏ, Hòn Đụng Lớn, Hòn Bỏ Áo, Hòn Ngang, Hòn Bờ Đập, Hòn Đô Nai (Đuôi Nai),Hòn Mấu, Hòn Lò Lớn, Hòn Lò Nhỏ

Vị trí quần đảo Nam Du

Quần đảo Nam Du là một quần đảo nằm về phía đông nam đảo Phú Quốc trong vịnh Thái Lan, cách bờ biển Rạch Giá 65 hải lý. Quần đảo nằm dưới sự quản lý của xã An Sơn và xã Nam Du thuộc huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang. Nam Du là quần đảo xa nhất thuộc huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang, muốn đến Nam Du, bạn có thể khởi hành từ cảng Rạch Giá ra đến quần đảo Nam Du khoảng gần 2 tiếng là tới hòn Củ Tron, là hòn đảo lớn nhất và trù phú nhất, là trung tâm hành chính của xã đảo An Sơn.

Tất cả các hòn đều là các đảo cấu tạo từ đá macma xâm nhập, gồm 2 dãy song song theo hướng bắc nam, cách bờ biển An Biên (Kiên Giang) 54 km về phía tây. Có lạch sâu hơn 6 m, thuận lợi cho tàu và thuyền qua lại. Đảo Nam Du lớn nhất (khoảng 14 km2) và cao nhất (đỉnh 308 m).

Khí hậu, thời tiết tại Nam Du

Một năm ở Nam Du có 2 mùa rõ rệt trong đó mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Tổng lượng mưa trung bình năm từ 1890 – 2800 mm, mưa nhiều nhất vào tháng 7, tháng 8 từ 378 tới 408mm. Mưa ít nhất vào tháng 1 từ 8 – 15mm

Hướng dẫn đi đến Nam Du

Nếu xuất phát từ thành phố Hồ Chí Minh, các bạn phải đón xe đi Rạch Giá của các hãng xe khách tại bến xe miền Tây đến Rạch Giá như: Phương Trang, Kumho Samco, Tuyết Hon, Diệu Giá… với giá dao động khoảng 150.000 đến 170.000 VNĐ/vé. Ngoài ra, các tỉnh thành khác cũng có thể có xe đến thẳng Rạch Giá mà không cần phải qua Hồ Chí Minh, các bạn có thể tìm hiểu tại địa phương.

Các bạn nên xuất phát từ lúc 23 giờ đêm từ bến xe miền Tây, chúng ta sẽ đến Rạch Giá vào khoảng 6 giờ sáng hôm sau, các tàu cao tốc tại Rạch Giá thường xuất bến từ 6:00 – 6:45 mỗi ngày. Sau khi đến Rạch Giá – Kiên Giang bạn có thể đi tàu cao tốc khoảng 2 giờ là ra đến đảo Nam Du.

Để tiết kiệm chi phí, du khách nên đi theo từng nhóm từ 8 đến 12 người. Tốt nhất là các bạn nên đặt trước vé để tránh trường hợp hết vé khi đến mua, làm gián đoạn cuộc hành trình. Có một số hãng tàu bạn có thể lựa chọn ra đảo Nam Du: Phú Quốc Express, tàu cao tốc Ngọc Thành, Superdong,… với giá vé khoảng 220.000 – 250.000 đồng/lượt đi, nếu biển động từ cấp 7-8 trở lên thì hầu hết các hãng tàu đều không hoạt động.

Để đặt vé tàu cao tốc Rạch Giá – Nam Du quý hành khách có thể liên hệ bằng cách inbox m.me/taucaotocvietnam hoặc email booking@taucaotoc.vn, điện thoại: 0889211234 – 0889271234 – 0889371234.

Bến tàu khách Rạch Giá – nơi khởi hành đi Nam Du

Để khám phá các hòn xung quanh Hòn Lớn – trung tâm của đảo Nam Du hành khách có thể thuê xe máy tại các khu nhà trọ với giá khoảng 120.000 đồng – 150.000 đồng/ngày để tha hồ khám phá những danh lam, thắng cảnh tại đây. Đặc biệt muốn đi ra các đảo nhỏ lân cận thì buộc phải thuê tàu, cano tại bến tàu khách Nam Du.

Hoạt động du lịch tại Nam Du

Tên Nam Du nghĩa là đi về phương Nam. Quần đảo hoang sơ này trong những năm gần đây được nhiều người biết đến. Mỗi hòn ở đây đều gắn với một truyền thuyết khá ly kỳ hấp dẫn, khiến bao du khách thêm tò mò muốn khám phá.

Quần đảo này có nhiều hòn đảo lớn nhỏ quây quần bên nhau tạo thành một vùng non nước hữu tình nên được mệnh danh là Hạ Long của phương Nam và còn được nhiều người biết đến với những tên gọi mỹ miều như “hoang đảo” ở phía trời Nam hay “nàng tiên cá” giữa biển khơi. Được đặt cho những cái tên quyến rũ, cho thấy Nam Du là quần đảo đẹp, có sức hấp dẫn riêng. Với nét thơ mộng trữ tình của non xanh nước biếc nơi đây, hứa hẹn sẽ là điểm đến lý tưởng cho nhiều du khách.

Đến Nam Du, du khách như được trút bỏ nhịp sống hối hả của nhịp sống thường ngày để tìm về không gian yên bình, vẻ đẹp thiên nhiên hoang sơ của biển trời mà chưa có sự khai phá nhiều bởi bàn tay con người. được du khách gần xa đặt cho cái tên than thuộc “Hạ Long Phương Nam”, tuy không đẹp lộng lẫy kiêu sa như Vịnh Hạ Long mà ngược lại Nam Du như ủy mị trầm mình dưới làn nước trong xanh giữa biển trời bao la mênh mông với các hòn đảo lớn nhỏ nhấp nhô nối tiếp nhau, tạo khung cảnh thơ mộng làm bước chân lữ khách nối tiếp nhau, tạo khung cảnh thơ mộng làm bước chân lữ khách như lạc vào chốn thiên đường nơi biển Tây Nam.

Một góc Nam Du

Các hoạt động du lịch diễn ra không sôi động như đảo Phú Quốc, nhưng du khách không khỏi ngỡ ngàng trước vẻ đẹp kiêu kỳ tại nơi đây. Du khách có thể thỏa thích tắm dưới làn nước biển trong xanh tại các bãi: Hòn Dầu, Cây Mến, bãi Ngự, hòn Mấu… thưởng thức hải sản tươi ngon nướng trên bếp lửa than mới cảm nhận hết sự thú vị của biển đảo nơi đây, du khách có thể dạo bước trên bãi cát trắng mịn dưới hang dừa rì rào tiếng song biển tại bãi Cây Mến, hoặc có thể ngồi thuyền khám phá hết các cảnh đẹp thơ mộng tại 21 hòn đảo của quần đảo này.

Bãi Nam là mặt tiền của đảo, nơi đây hầu như sóng yên, gió lặng quanh năm, cũng là nơi giao lưu thương mại, neo đậu tàu thuyền. Đến với bãi Chướng, xung quanh là hàng dừa xanh mát, bãi cát trải dài, nước có màu trong xanh biếc.

Du khách thích độ cao có thể đi xe máy chinh phục đỉnh hòn Lớn, tham qua ngọn Hải Đăng, ngắm nhìn vẻ đẹp toàn cảnh Nam Du, hay có thể cùng ngư dân lặn bắt nhum biển, món ăn dân dã bổ dưỡng nơi xứ đảo…Không những thế du khách còn có dịp viếng thăm các ngội miếu thờ Thánh Mẫu để hiểu them nét văn hóa tín ngưỡng dân gian của người dân nơi đây cùng với những truyền thuyết mang đầy tính nhân văn. Về ẩm thực thì chắc hẳn ngoài những món hải sản tươi ngon nơi đây, du khách không thể nào bỏ qua món bánh canh chả cá, được làm từ loại cá tươi ngon mới vừa đánh bắt cùng với bột bánh canh được làm thủ công truyền thống, cộng với sự mến khách của người dân, sẽ làm du khách không thể nào quên khi đặt chân đến nơi đây.

Một số hình ảnh tại Nam Du

5/5 - (1 bình chọn)

Suối Đá bàn Phú Quốc

Cái tên gọi “Suối Đá Bàn” đã làm cho những người đâu tiên nghe đến cảm thấy tò mò. Tại sao gọi là Suối Đá Bàn?

Cái tên này gọi là tại đây những tảng đá lớn và bằng phẳng tựa như mặt bàn do đó người dân tại đây gọi là Suối Đá Bàn. Tương truyền, những tảng đá này là nơi các tiên nữ thường ngồi tắm mát mỗi lần hạ giới. Đá tầng tầng lớp lớp đổ dài uốn quanh về phía thượng nguồn.

Phú Quốc nổi tiếng với 99 ngọn núi trãi dài từ Bắc tới Nam, trong đó dãy núi Hàm Ninh là dãy núi dài nhất và cao nhất. Suối Đá Bàn bắt nguồn từ đây. Đây là nguồn cung cấp nước chính cho Hồ Dương Đông với chu vi hơn 3,5km, độ sâu 20m, với trữ lượng nước khoảng 5,5 triệu m3. Hiện nay lượng nước này chỉ cung cấp nước sinh hoạt cho thị trấn Dương Đông. Còn thị trấn An Thới và các xã khác sử dụng nước chủ yếu là nước giếng khoan hoặc đào.

Xuất phát từ thị trấn Dương Đông, đi ngược lên hướng Bắc Đảo rồi đi theo con đường có bảng chỉ dẫn về suối Đá Bàn. Du khách phải dừng chân trước cổng khu du lịch đỗ xe tại đây và đi theo cầu dây văng hoặc theo cầu cây tại đây có 2 cây cầu vượt qua suối để vào rừng.

Đi bộ khoảng 15 phút là đến suối. Tại đây trước mắt bạn hiện ra là những tảng đá lớn to, bằng phẳng như mặt bằng, tiếng nước đổ xuống nghe ầm ầm thật hùng vĩ. Khung cảnh khác xa so với Suối Tranh hiền hòa dịu êm.

Đường đến Suối Đá Bàn xa hơn và khó đi so với Suối Tranh. Do đó du khách đến Suối Đá Bàn ít hơn, chủ yếu chỉ là do dân địa phương hoặc những người bạn quen biết dẫn đi chơi. Khách du lịch theo đoàn thì đến đây không nhiều bằng Suối Tranh.

Đến với Suối Đá Bàn với những tảng đá lớn bằng phẳng rất thích hợp do du khách đi cắm trại, bày thức ăn, nước uống. Bạn có thể tắm dưới làng nước mát trong xanh dưới thác nước đổ ầm ầm thật là thú vị. Thường du khách dừng chân ở những tảng đá bằng phẳng để vui chơi nên ít ai chịu khó lội lên xem thác nước cao nhất tại đây, có phần mạo hiểm. Đến với Suối Đá Bàn vào mua mưa bạn phải rất cẩn thận không khéo trượt chân té rất nguy hiểm vì nước ở đây rất sâu và cuốn rất mạnh.

Suối Đá Bàn Phú QUốc

Du khách đến với Phú Quốc mà chỉ nghe Suối Đá Bàn mà chưa đặt chân đến thì thật là tiếc. Bạn đã bỏ lỡ 1 cơ hội tận mắt chứng kiến cảnh hùng vĩ, trù phú của thiên nhiên ban tặng cho Phú Quốc.

Xem thêm: Suối Tranh Phú Quốc nơi hội tụ “Sơn thủy hữu tình”;

M.T (Nguồn)

5/5 - (1 bình chọn)