Bạch Dinh Vũng Tàu

Bạch Dinh được dùng làm nơi nghĩ dưỡng và hội họp cho toàn quyền Pháp ở Đông Dương và quan chức cấp cao của chính quyền Sài Gòn sau này. Đây cũng chính là nơi giam lỏng vua Thành Thái (từ 1909-1910), một vị vua có tư tưởng yêu nước, chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp.

Sơ lược về tòa Bạch Dinh Vũng Tàu

Được tọa lạc ở vị trí cao ráo cách mực nước biển gần 30m, từ tiền sảnh Bạch Dinh nhìn xuống, du khách sẽ có cảm giác như đang ở tầng lầu của một tòa cao ốc xây dựng trên mặt nước biển, có thể phóng tầm mắt bao quát cả trung tâm thành phố Vũng Tàu. Có hai lối lên Bạch Dinh: Một đường uốn quanh chạy dưới rừng cây giá tỵ dành cho xe hơi lên tới tiền sảnh. Một đường đi bộ qua 146 bậc tam cấp cổ xưa, kín đáo nằm giữa hai hàng sứ cao niên. Bạch Dinh với lối kiến trúc Châu Âu cuối thế kỷ 19, cao 19m, rộng 15 m, dài 28 m, gồm 3 tầng: Tầng hầm làm nơi nấu nướng; tầng trệt vừa làm nơi khánh tiết vừa dùng bày trí một số hiện vật cổ xưa như: Song bình bách điểu chầu phụng, bộ tràng kỷ hoàng gia có niên đại Khải Định (1921), cặp ngà voi châu phi dài 170cm… Tầng lầu thoáng hơn dành cho việc nghĩ dưỡng. Nhưng có lẽ ấn tượng hơn cả là 8 bức chân dung tạc các vị thần Hy Lạp thời cổ đại, từ gương mặt, mắt mũi đến sắc thái đều biểu hiện rõ ràng, sắc nét và tinh tế. Trải qua hơn thế kỷ, với bao biến đổi của thời gian, Bạch Dinh vẫn giữ nguyên tính sang trọng, hài hòa và uy nghiêm hiếm thấy.

Nội thất trưng bày bên trong Bạch Dinh Vũng Tàu

Từ năm 1991 đến nay một phần của Bạch Dinh được dùng làm bảo tàng, trưng bày 8.000 hiện vật độc bản nằm trong bộ sưu tập cổ vật gốm sứ có niên hiệu Khang Hy (TK 17) được trục vớt từ “kho báu Hòn Cau”. Các nhà khảo cổ cho biết số cổ vật này nằm dưới đáy biển gần 300 năm, tính đến thời điểm trục vớt nhưng vẫn giữ được màu men tuyệt đẹp. Nếu đem so với những bộ sưu tập khác được trục vớt trong vùng biển Cù Lao Chàm, Cà Mau, Bình Thuận… bộ sư tập cổ vật Hòn Cau vẫn luôn được đánh giá là bộ sưu tập đẹp nhất.

Bạch Dinh không chỉ làm mê mẫn toàn quyền Pháp ở Đông Dương Paul Doumer, các quan chức cấp cao của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ mà cho đến thời điểm hiện tại thì đây cũng là một trong số rất nhiều địa điểm tham quan của Vũng Tàu, thu hút được đông đảo khách du lịch đến tìm hiểu về lịch sử và tận hưởng vẻ đẹp của thiên nhiên.

Dinh thự trắng nguy nga của Toàn quyền Đông Dương

Bạch Dinh tọa lạc tại số 6, Trần Phú, phường 1, TP. Vũng Tàu. Tòa nhà còn có tên gọi khác là Dinh Ông Thượng, khi vào năm 1907, thực dân Pháp đã bí mật đưa gia đình cựu Hoàng đế Thành Thái (Nguyễn Phúc Bửu Lân) từ thành Phú Xuân (Huế) an trí tại đây, trước khi bị đày sang đảo Réunion (thuộc địa của Pháp ở châu Phi) năm 1919.

Sau khi chiếm được quyền cai trị Đông Dương, chính quyền thực dân Pháp đã cho xây dựng một dinh thự dùng làm nơi nghỉ mát cho các Toàn quyền Đông Dương tại Vũng Tàu. Đề án do viên Toàn quyền Paul Doumer phê chuẩn và là người đặt tên cho dinh thự này là Villa Blanche, theo tên của con gái ông là Blanche Richel Doumer. Công trình được khởi công vào năm 1898, đến năm 1902 thì hoàn thành. Do màu sơn bên ngoài cũng như tên gọi Villa Blanche nên người Việt quen gọi dinh thự này là Bạch Dinh. Tuy nhiên, viên Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer (1898-1902) sau khi dự lễ cắt băng khánh thành, phải trở về nước Pháp tranh cử Tổng thống.

Tòa nhà nằm ở độ cao 27 m (so với mặt nước biển), tường xây bằng gạch, sơn màu trắng, mái lợp ngói đỏ, gồm 5 gian… Từ bên ngoài nhìn vào tòa nhà trông rất thanh thoát, mềm mại với các ô cửa lớn, cửa sổ đều có vòm hình cánh cung. Xung quanh tầng lầu có một dải băng hoa văn trang trí hình phụ nữ châu Âu, chim công, hoa lá… được ghép mỹ thuật, sinh động bằng sứ men màu…giữa khoảng tường 3 mặt của tầng lầu được bài trí thêm 8 pho tượng bán thân mang phong cách cổ điển Hy-La…

Tòa dinh thự cao 19m gồm 3 tầng (hầm, trệt, lầu). Tầng hầm dùng để chứa rượu, nấu ăn, tầng trệt làm phòng tiếp khách, tầng lầu có 5 phòng ngủ, mỗi phòng đều có nhà vệ sinh, phòng tắm riêng biệt. Từ tầng trệt lên tầng lầu có 2 cầu thang bằng gỗ, một dành cho chủ nhà và khách, một dành cho người phục vụ. Hiện nay tầng trệt của tòa nhà đang sử dụng trưng bày: cặp ngà voi, bộ tượng tam đa (Phúc-Lộc-Thọ) bằng sứ men màu ngũ thái, cặp song bình Bách điểu được chế tác vào đời vua Càn Long, Nhà Thanh, Trung Hoa, thế kỷ XVIII và bộ bàn ghế chế tác vào năm 1921, cùng với bộ sưu tập cổ vật gốm sứ Hòn Cau với nhiều loại hình phong phú, được trục vớt từ vùng biển Hòn Cau, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, có niên đại vào cuối thế kỷ XVII, đời Khang Hy, nhà Thanh, Trung Hoa, cách đây hơn 300 năm… Tại tầng lầu du khách ghé tham quan một số phòng ngủ. Các phòng đều thiết kế rộng rãi, thoáng mát, có hành lang thông thoáng nên luôn tràn ngập gió và ánh sáng. Từ đây du khách có thể ngắm nhìn toàn bộ khu vực Bãi Trước, từ cửa sổ mặt tiền du khách có thể thấy toàn bộ khu vực vịnh Ghềnh Rái, nơi cửa ngõ nối liền cảng Vũng Tàu và sông Sài Gòn (thành phố Hồ Chí Minh). Ở cửa sổ phía sau du khách ngắm nhìn vườn hoa sứ ngũ sắc, xa xa là cánh rừng giá tỵ cổ thụ…đẹp nhất vào cuối mùa khô, cả cánh rừng rụng hết lá, thân cây đứng thẳng cao vút, ngả màu trắng bạc, du khách ngỡ ngàng như lạc đến miền xa thẳm cuối thu của xứ sở châu Âu, vùng biên giới Pháp, Ý – nơi chôn rau cắt rốn của Paul Doumer… Trong một số bài báo của người Pháp năm 1902 đã viết về Bạch Dinh như sau: “Ở chân ngọn núi phía bắc, biệt thự cùa toàn quyền Đông Dương được xây dựng trên độ cao hơn 20m mà xưa kia là một lực lượng An Nam bảo vệ, tọa lạc giữa ghềnh biển và nổi bật trắng toát lên nền tối sẫm của khu rừng. Trên sườn núi toàn là cây cối bao quanh, người ta chia cắt thành những lối đi từ khu vườn mà nhánh đường cuối cùng mất hút vào trong núi, trong khi mặt bằng ban đầu đã biến thành những thảm cỏ xanh. Một dãy cầu thang mỹ thuật, từ trên vườn vịn xuống nối liền dinh thự với ngôi nhà có dáng dấp nhí nhảnh là nơi đặt phòng làm việc của toàn quyền”.

Sau khi tham quan dinh thự du khách thả bộ men theo con đường ven chân núi, dưới hàng sứ và tán rừng giá tỵ cổ thụ ngắm nhìn những bức tường dài hàng trăm mét, xếp bằng đá tảng do tù nhân (là những chiến sĩ yêu nước tham gia cuộc khởi nghĩa Trương Định) lao động khổ sai khai thác dưới sự cai quản hà khắc và tàn bạo của thực dân Pháp.

Trải qua hơn một thế kỷ Bạch Dinh vẫn hiện diện vẻ tráng lệ, mang kiểu dáng kiến trúc của châu Âu cuối thế kỷ XIX và hiện nay đang được bảo tồn, gìn giữ… trong hệ thống di sản văn hóa của tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu.

Nơi chôn giấu niềm riêng của cựu hoàng Thành Thái

Sau khi tham quan Bạch Dinh, du khách đi theo con đường sát chân Núi Lớn về phía Bắc là đến nhà bát giác nơi có tấm bia khắc bài thơ “Sầu tây bể Cấp” của cựu Hoàng Thượng Thành Thái viết vào năm 1907 khi bị thực dân Pháp an trí.

Thành Thái họ tên là Nguyễn Phúc Bửu Lân, húy là Phúc Chiêu, vị vua thứ 13 của triều Nguyễn, là con thứ 7 của vua Dục Đức, mẹ là Phan Thị Điểu (tức Từ Minh Huệ hoàng hậu), cháu ngoại Phụ chánh đại thần Phan Đình Bình. Vua Thành Thái sinh ngày 22/2 năm Kỷ Mão (14/3/1879), dưới triều Tự Đức thứ 32 (1879). Khi vua Dục Đức còn sống, ông theo cha ở tại Thái Y viện giảng đường Huế, đến lúc vua Dục Đức bị thảm sát trong tù, ông theo mẹ về sống ở quê ngoại (huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên).

Năm Mậu Tý (1888) tình hình xã hội ở Huế tạm lắng dịu, ông theo mẹ ra sống ở ngoại thành. Từ đây ông đã tiếp xúc với bà con lao động, chia sẻ gian khổ với những người nghèo trong cảnh nước mất, nhà tan vì thế khi làm vua, Thành Thái đã sớm ý thức về quốc sự. Năm vua Đồng Khánh qua đời, ông lên ngôi nhằm ngày mùng 2 tháng Giêng năm Kỷ sửu (1/2/1889) niên hiệu Thành Thái, lúc đó nhà vua mới được 10 tuổi, được các quan đại thần Lê Trinh, Đinh Nho Quan, Tạ Thúc Bình… thay nhau dạy dỗ.

Vua Thành Thái rất thương dân, thường hay vi hành để được gần dân chúng, để hiểu được sự đau khổ của dân một nước nô lệ. Khâm sứ Pháp và quần thần Nam triều bù nhìn rất muốn truất ngôi của Thành Thái vì không chịu nghe theo mọi sắp đặt của chúng. Ngày 29/7/1907 Lê-véc-nơ đã thẳng thừng tuyên bố: “Nhà vua không thành thật cộng tác với chính quyền bảo hộ thì mọi việc đều do Hội đồng Thượng thư tự quyết đoán. Nhà vua sẽ hết quyền hành và không ra khỏi Đại Nội dành riêng cho nhà vua”. Ngày 3/9/1907 triều thần theo lệnh của Pháp vào điện Càn Thành dâng vua dự thảo chiếu thoái vị với lý do sức khoẻ không đảm bảo, xin tự nguyện thoái vị. Sau đó thực dân Pháp đem đi an trí ở Vũng Tàu rồi lưu đày sang đảo Rê-uy-ni-ông (Réunion, châu Phi thuộc địa Pháp). Cựu hoàng Thành Thái bị đưa vào Sài Gòn ngày 12/9/1907 nhưng mãi đến ngày 23/10/1907 mới xuống Cấp (Vũng Tàu). Cùng đi có 4 bà vợ và 10 người con nhưng chính quyền bảo hộ chỉ cấp cho gia đình cựu hoàng thượng một số tiền là 30.000 quan một năm. Ngày 3/11/1916 thực dân Pháp bí mật tổ chức một chuyến tàu thủy đưa cựu hoàng Thành Thái cùng con là Duy Tân và cả gia đình sang đày tại đảo Rê-uy- ni-ông.

Thời gian ở Bạch Dinh trước cảnh cá chậu chim lồng, núi non ngăn cách, biển cả gào thét quanh năm, cựu hoàng Thành Thái động lòng xúc cảm viết lên những dòng thơ đầy xúc cảm như sau:

“Sống thừa nào có biết hôm nay

Nhìn thấy non sông đất nước này

Sừng ngựa chưa quên câu chuyện cũ

Ruột tằm đòi đoạn mối sầu tây

Thành Xuân nghìn dặm mây mù mịt

Bể Cấp bốn bề sóng bổ vây

Tiếng súng ngày đêm như khúc nhạc

Dẫu cho sắt đá cũng chau mày!”

Bài thơ Đường luật câu 1, 2 giới thiệu về hoàn cảnh của tác giả trong tâm trạng đau đáu về nỗi đau bị thực dân Pháp đã xâm lược: “Sống thừa nào có biết hôm nay. Nhìn thấy non sông đất nước này”. Câu 3 và 4 nói về nỗi niềm đau xót về quê, đất nước: “Sừng ngựa chưa quên câu chuyện cũ”. Biết âm mưu của thực dân Pháp sẽ đem đi an trí ở châu Phi, trước mắt là Vũng Tàu, không biết ngày mai rồi sẽ ra sao? Từ trong sâu thẳm cựu hoàng thượng hy vọng rồi một ngày nào đó sẽ trở về với cố hương như câu chuyện có hậu về sừng ngựa của Thái tử Đan thuở nào. Câu 4: “Ruột tằm đòi đoạn mối sầu tây”, nói về tâm trạng yêu nước mà phải chịu cảnh lưu biệt, tác giả đã dùng chữ đồng âm “sầu tây” với hai nghĩa khác nhau: Sầu tây nỗi buồn riêng tư nhưng còn có nghĩa là nỗi đau buồn vì thực dân Pháp (ở trời Tây) cướp nước ta. Câu 5, 6: “Thành Xuân nghìn dặm mây mù mịt/Bể Cấp bốn bề sóng bổ vây”. Tỏ lòng thương nhớ trăn trở khôn nguôi về xứ Huế, một mình vò võ nơi chân trời, góc biển. “Tiếng súng ngày đêm như khúc nhạc”, so sánh ví von mang phong cách trào lộng, xen lẫn nỗi niềm xót xa, oán hận: “Dẫu cho sắt đá cũng chau mày!” bày tỏ nỗi niềm đau khổ vì sự uất hận của một cựu hoàng thượng có tinh thần yêu nước, thương dân, có óc canh tân… mà phải chịu sống trong cảnh lưu đày nhìn giang sơn chìm đắm trong nô lệ.

“Sầu tây bể Cấp” một bài thơ của cựu hoàng Thành Thái thể hiện tư tưởng tiến bộ, tinh thần yêu nước, bất hợp tác với thực dân Pháp như lời động viên nhân dân Việt Nam tiếp tục kề vai sát cánh đứng lên tham gia các phong trào đấu tranh có tư tưởng tiến bộ chống thực dân Pháp lúc bấy giờ: Duy Tân, chống sưu cao thuế nặng ở miền Trung…

5/5 - (2 bình chọn)

Ngọn Hải Đăng Vũng Tàu

Hải Đăng Vũng Tàu được xây dựng lần đầu tiên vào năm 1870, tức là tám năm sau khi miền Đông Nam Bộ trên danh nghĩa đã trở thành thuộc địa của Pháp. Lúc đầu quy mô xây cất đơn giản ít kiên cố, độ cao sáng kém và được xây mới từ vị trí cũ vào năm 1913.

Do được xây dựng khá sớm lại tồn tại lâu dài nên Hải Đăng vẫn giữ nguyên kiểu dáng, kỹ thuật cổ điển. Đó là một tháp tròn, sơn trắng, cao 18m (như vậy so với mực biển, ánh sáng Hải Đăng Vũng Tàu đạt độ cao 188m). Đèn ở đỉnh tháp chiếu xa 30 hải lý (tức gần 55km). Công suất của bóng đèn chỉ 500W, nhưng Hải Đăng chiếu xa nhờ cấu tạo của hệ thống lăng kính đồ sộ gồm những tấm kính ba cạnh (kiểu tam giác) bao quanh. Tán đèn có hai lỗ thủng lớn gần nhau. Hệ thống quay nhờ môtơ với tốc độ 5 vòng/phút. Do đó, đêm đêm chúng ta thấy hai luồng ánh sáng như hai đường thẳng quét tròn kế tiếp nhau trên nền trời tối sẩm.

Những người trông coi đèn biển Vũng Tàu cao niên cho biết, trước đây Hải Đăng Vũng Tàu quay nhờ hệ thống dây thiều, cứ ba giờ lên cót một lần.

Hải Đăng Vũng Tàu

Tháp Hải Đăng được nối liền với khu nhà ở của những người vận hành bằng một con đường hầm cong kiên cố nhưng thật đẹp. Khu nhà của những người vận hành là một kiến trúc kiểu Pháp, hai tầng, xây dựng cùng thời. Vì ở cao không đào giếng nước được, ngươi ta xây dựng hệ thống hệ thống bể chứa lớn trong mùa mưa, dự trữ đủ nước dùng trong cả năm.

Từ vị trí Hải Đăng chúng ta có thể dõi tầm mắt quan sát mọi nơi của thành phố Vũng Tàu: biển và bờ biển, trung tâm thành phố và miền duyên hải xa xa phía Kỳ Vân – Minh Đạm…

Vũng Tàu nhìn từ Ngọn Hải Đăng

Bao quanh khu nhà vận hành và đoạn cuối đường lên Hải Đăng là vườn sứ nhiều chục năm tuổi, mát rượi, thơm ngát. Vào dịp lễ hay chủ nhật đây là điểm vui chơi dã ngoại của nhiều người.

Hải Đăng Vũng Tàu là một công trình kiến trúc kiên cố nhưng không thô. Riêng giá trị lịch sử – văn hóa lâu đời, lại tọa lạc ở một vị trí có phong cảnh thiên nhiên hữu tình, đây là một trong những điểm tham quan kì thú trên Núi Nhỏ của thành phố du lịch Vũng Tàu. Hải Đăng là người bạn tin cậy và trung thành của những người đi biển, là biểu tượng của thành phố biển Vũng Tàu.

Xem thêm: Tượng Chúa dang tay Vũng Tàu

Hải Đăng Vũng Tàu
5/5 - (1 bình chọn)

Thích ca Phật Đài tại Vũng Tàu

Thích Ca Phật Đài nằm ở phía Bắc chân núi Lớn, TP. Vũng Tàu. Du khách đến Thích Ca Phật Đài theo đường Lê Lợi, rẽ về đường Trần Phú hoặc từ đường Trần Phú (Bãi Trước) theo đường ven biển đi qua Bãi Dâu, qua địa phận Bến Đá là gặp Thích Ca Phật Đài.

Thích Ca Phật Đài tọa lạc trên diện tích rộng khoảng 6ha, phía dưới là Thiền Lâm tự phía trên là Thích Ca Phật Đài. Toàn bộ khuôn viên Thích Ca Phật Đài như một vầng trăng khuyết chia thành ba cấp theo hình tháp, cao dần từ 3m đến 29m so với mực nước biển. Mặc dù khá cao, nhưng du khách không cảm thấy mệt nhọc vì đường bậc thang rất dễ đi, độ dốc thoai thoải.

Lối lên Chánh điện Thích Ca Phật Đài

Vào khoảng năm 1957, nơi đây còn hoang sơ với ngôi chùa Thiền Lâm khiêm tốn. Năm 1962, Thích Ca Phật Đài bắt đầu được xây dựng. Sau hơn một năm xây dựng, tháng 3-1963, Thích Ca Phật Đài được khánh thành. Không giống với những ngôi chùa Phật giáo khác, điểm đặc biệt trong kiến trúc của Thích Ca Phật Đài là một quần thể kiến trúc điêu khắc tạo dựng theo sự tích cuộc đời Đức Phật Thích Ca gắn liền hài hòa với cảnh quan núi Lớn. Cấp 1 là Tam quan và khu vườn hoa. Cấp 2 là khu nhà mát và nhà trưng bày truyền thống. Cấp 3 là Thiền Lâm tự và khu Phật tích, bao gồm các công trình kiến trúc-điêu khắc: Tượng hài nhi đứng trên bông sen, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất thể hiện Đức Phật đản sinh; các tượng Thái tử cắt tóc, người hầu Chana, Bạch Mã thể hiện cảnh Thái tử từ giã cuộc sống vương giả xuất gia. Tiếp theo là các tượng Thái tử tu luyện và đắc đạo – Kim Thân Phật Tổ cao 11,6 mét, bên trong có 16 viên ngọc xá lợi của Đức Phật. Nhà Bát giác có các tượng, tượng trưng Đức Phật truyền đạo: Phật Thích Ca ngồi trên toà sen, các đạo sĩ ngồi nghe thuyết pháp. Tiếp theo là quần thể tượng voi, khỉ dâng hoa quả cho Đức Phật. Bảo Tháp Thích Ca Mâu Ni cao 17m, trên có búp sen, bên trong đặt 13 viên xá lợi Đức Phật.

Tượng Phật nhập Niết bàn quay về hướng Tây, cao 2,4m, dài 12,2m, bên dưới 9 tỳ khưu đứng chắp tay. Trong khu Phật tích còn có cây bồ đề xanh tốt được chiết từ cây bồ đề trước đây Đức Phật ngồi thiền. Năm 1989, Thích Ca Phật Đài được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.

Trải qua nhiều lần trùng tu nhưng Thích Ca Phật Đài vẫn giữ nguyên nét kiến trúc ban đầu, khuôn viên rợp bóng cây xanh lại nằm ở độ cao khá lý tưởng nên được du khách chọn làm nơi nghỉ chân. Từ vị trí này, du khách có thể quan sát biển từ nhiều phía, với nhiều cảnh vật đẹp, càng làm cho du khách thích thú hơn, cảm thấy chuyến đi của mình thú vị, ý nghĩa.

5/5 - (1 bình chọn)

Bãi Vọng Nguyệt Vũng Tàu

Vọng Nguyệt có nghĩa là đón trăng. Những đêm vào mùa trăng mọc, hay lúc hoàng hôn, biển ở đây sáng rực như được dát một lớp bạc óng ánh. Bên tiếng sóng rì rào, trước mặt biển sáng bạc mênh mông, du khách sẽ có cảm giác cái mênh mông bao la của trời mây sóng nước, của vũ trụ vô cùng, vô tận, lâng lâng bay bổng trong tâm hồn.

Nước biển ở đây rất trong và sạch. Bờ biển ít thoải, sâu hơn các bãi tắm khác ở Vũng Tàu, phù hợp với những người thích cảm giác mạnh từ những ngọn sóng dồn dập. Không ồn ào, náo nhiệt như ở bãi Trước. Không thoáng đãng, dữ dội như ở bãi Sau. Bãi Vọng Nguyệt không dài nhưng đủ để đi vào tiềm thức của người dân Vũng Tàu qua bao thế hệ bởi sự nên thơ, kỳ bí. Nhất là khi đứng từ tượng Chúa Kitô trên đỉnh núi Tao Phùng nhìn xuống, du khách sẽ có cảm giác biển ở đây xanh hơn những nơi khác, lộng gió và mát mẻ lạ thường.

5/5 - (1 bình chọn)

Bãi Trước Vũng Tàu (Bãi Tầm Dương)

Bãi Trước là một vịnh nhỏ lặng sóng nên nơi này trở thành bến đậu an toàn cho những đoàn thuyền trở về sau chuyến hải trình. Do là nơi neo đậu của tàu thuyền nên ít người tắm, nhưng bãi Trước là thắng cảnh được rất nhiều du khách yêu thích bởi nơi đây rợp mát những tán dừa cùng với màu xanh của những cây bàng, cây sứ.

Về đêm, bãi Trước trở thành trung tâm của các hoạt động vui chơi giải trí với quán ăn, nhà hàng, quán cà phê lấp lánh ánh đèn màu. Bãi Trước cũng là trung tâm thành phố Vũng Tàu, hầu hết các con đường chính của thành phố đều đổ về đây. Do đó, bãi Trước có nhiều tòa nhà cao tầng, khách sạn hiện đại… tô điểm thêm nên càng quyến rũ hơn.

Rate this post

Bãi Dứa Vũng Tàu

Người xưa kể lại rằng sở dĩ có tên bãi Dứa vì trước đây trên triền núi nhô ra biển có rất nhiều những cây dứa dại (một loại cây có hương thơm như gạo nếp hoặc nàng hương) tỏa hương thơm ngát một vùng.

Cũng có thể do mùi hương đó đã quyến rũ bước chân du khách và các lãng tử không thể rời xa nên bãi Dứa còn có tên gọi là bãi Lãng Du.

Bãi Dứa là một trong những bãi biển đẹp và thu hút nhiều du khách của Vũng Tàu. Cái đẹp ở đây không ồn ào tấp nập mà là một vẻ đẹp mộng mơ, thầm kín. Biển len lỏi trong các hõm núi, ghềnh đá, tạo nên các vũng biển nhỏ ôm ấp những mạch nước ngầm trong suốt, thoang thoảng mùi thơm đồng nội.

Khung cảnh này rất hợp với những đôi tình nhân hay tuần trăng mật của những lứa đôi còn đang nồng nàn hương hoa ngày cưới. Phía trên triền núi dọc theo đại lộ Hạ Long là các nhà nghỉ, khách sạn theo kiểu biệt thự đầy đủ tiện nghi. Xen kẽ những ngôi chùa miếu khá nổi tiếng ở Vũng Tàu như Niết Bàn Tịnh Xá, miếu Ông Nam Hải… là những nơi dành cho khách mộ điệu hành hương về dâng hoa cầu phước, cầu lộc…

Ai đó đã đến Vũng Tàu cách đây dăm bảy năm bây giờ mới có dịp trở lại Bãi Dứa sẽ không khỏi ngạc nhiên trước sự đổi thay kỳ diệu. Đó là thành quả lao động sáng tạo, hòa quyện cùng thiên nhiên để tạo ra những cảnh quan tuyệt vời của Bãi Dứa.

Phía trên triền núi bãi Dứa, dọc theo đại lộ Hạ Long là các nhà nghỉ, khách sạn theo kiểu biệt thự đầy đủ tiện nghi, những ngôi chùa, miếu với những khu cây cảnh đầy vẻ u tịch, thần bí. Nghỉ ngơi, du ngoạn nơi đây sẽ làm tâm hồn du khách nhẹ nhàng, thoải mái sau những ngày làm việc căng thẳng.

5/5 - (1 bình chọn)