Di tích lịch sử Trại giam Tù binh Cộng sản Việt Nam/Phú Quốc

Di tích lịch sử Trại giam Tù binh Cộng sản Việt Nam/Phú Quốc được xây dựng từ thời Pháp, thuộc xóm Cây Dừa trước đây nên mới có tên gọi như vậy. Khu di tích ngày này không rộng, nằm trên khu vực chính nhà lao cũ, có nhà trưng bày hiện vật xây hai tầng và khu trưng bày ngoài trời những hiện vật nguyên gốc và hầu như nguyên vị trí. Nhà lao Cây Dừa được công nhận là di tích lịch sử năm 1996 và bắt đầu mở cửa đón bạn đến tham quan. Nhà lao Cây Dừa đã đi vào văn học qua cuốn ký sự lịch sử của nhà văn Chu Lai…

Di tích lịch sử Trại giam Tù binh Cộng sản Việt Nam/Phú Quốc

Lịch sử và vị trí

Nhà lao cây dừa mà còn được gọi là ” nhà tù Phú Quốc ” nằm ở thị trấn An Thới, Phú Quốc. Cái tên ”cây dừa” có nguồn gốc từ cuộc chiến tranh Đông Dương , khi thuộc địa của Pháp đã được thống trị Việt Nam và kháng chiến chống Pháp trở nên rất mạnh mẽ. Tại thời điểm này, nhà tù có bốn khu vực có tên là ” A”, ” B” , “C” và “D”, mà được cho là giữ hơn 14.000 tù nhân. Tuy nhiên, khi cuộc chiến tranh Đông Dương kết thúc, hầu hết các tù nhân trở về gia đình của họ theo Hiệp định Genève .

Khi chiến tranh Việt Nam bắt đầu, quân đội Mỹ xây dựng lại nơi đây thành một nhà tù mới nhưng vẫn giữ cùng tên. Nhà tù mới có khu vực riêng biệt dành cho nam giới, phụ nữ và người cao tuổi. Thời gian trôi qua, đến năm 1966, một phần mới của nhà tù được xây dựng để bỏ tù quân nhân Việt Nam nhiều hơn nữa. Phần mới của nhà tù đã có 12 khu vực chính. Mỗi khu vực được chia thành bốn tiểu vùng khác nhau “A”, “B”, “C” và “D” . An ninh bảo vệ rất nghiêm ngặt với sự giám sát chặt chẽ.

Ngày nay, “nhà lao cây dừa” đã trở thành một nơi để du khách tham quan từ năm 1996. Trong cùng năm đó , nó đã được công nhận là một ” di sản lịch sử Quốc gia”.

Tầm quan trọng

Nhà lao Cây Dừa là bằng chứng sống cho các tội phạm chiến tranh. Có rất nhiều ảnh triển lãm được trình bày trong nhà tù dành cho du khách tìm hiểu thêm về chiến tranh. Vẫn còn một số công cụ tra tấn đã được sử dụng trong quá khứ trên người tù nhân. Ví dụ, bạn có thể chứng kiến “lồng cọp”, được sử dụng để chụp các tù nhân bên trong. Vì được đóng cửa kín cả ngày, lồng hoàn toàn tối và vô cùng nóng vào buổi sáng trong khi hoàn toàn lạnh vào ban đêm. Các tù nhân sau khi được nhốt và thả ra từ lồng cọp sẽ bị mù . Điều kiện sức khỏe thể chất và tinh thần của mình bị ảnh hưởng mạnh mẽ. Bên cạnh đó, có nhiều hoạt động tra tấn , phản ánh các hoạt động tàn nhẫn vô nhân đạo của kẻ thù trong quá khứ như đóng đinh, nấu người cho đến khi chết hoặc trực tiếp phá vỡ răng của một người với búa, bạn có thể đến đây và xem lại những cảnh được tái hiện​.

Thông tin du lịch

Hàng năm , nhà lao cây dừa thu hút khoảng 10.000 du khách . Nhiều người trong số họ là cựu tù nhân . Ngoài ra còn có rất nhiều những người trẻ tuổi và đặc biệt là người nước ngoài đến đây để biết thêm về chiến tranh phá hoại trong quá khứ và đánh giá cao cuộc sống yên bình tất cả chúng ta có bây giờ.
Bạn có thể đi tham quan một mình. Các dịch vụ hướng dẫn viên luôn luôn có sẵn nếu bạn yêu cầu.

Rate this post

Di tích lịch sử Trại giam Phú Quốc

Di tích lịch sử Trại giam Phú Quốc (còn có tên gọi khác: Địa điểm Nhà tù Phú Quốc, Trại giam tù binh Phú Quốc, Nhà tù Phú Quốc, Nhà lao Cây Dừa,…) nằm trên địa bàn thị trấn An Thới, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

Trại giam Phú Quốc được mệnh danh là “địa ngục trần gian” là bằng chứng về tội ác dã man, tàn bạo với hơn 45 kiểu tra tấn dã man của Mỹ – Ngụy. Trong thời gian tồn tại chưa đầy 6 năm (từ tháng 6/1967 đến tháng 3/1973), địch đã giam giữ 40.000 lượt tù binh, chủ yếu là cán bộ, chiến sĩ thuộc các lực lượng vũ trang, ngoài ra còn có cán bộ dân chính đảng và dân thường. Số lượng tù binh bị nhồi nhét trong các phòng giam lúc cao điểm từ 120 – 180 người; khoảng 4.000 tù binh bị giết hại, hàng chục nghìn người bị thương tật, tàn phế. Bộ máy điều hành, quản lý của địch ở Trại giam Phú Quốc có khoảng 2.000 nhân viên và sỹ quan, gồm cả hải quân, lục quân, không quân…

Diện tích Trại giam Phú Quốc lên đến 400 hecta, với gần 500 ngôi nhà, chia thành 12 khu, trong đó có 02 khu đôi (mỗi khu có 02 phân khu) và 10 khu (mỗi khu có 04 phân khu gọi là Khu A, B, C, D), mỗi phân khu cách nhau 100m. Phân khu có chiều dài 150m, rộng 50m, gồm 11 ngôi nhà trong đó có 09 phòng giam, kích thước mỗi phòng giam 20m x 5m. Mỗi phân khu đều có chuồng cọp, 04 phân khu có nhà biệt giam. Các nhà giam xây dựng với vách, mái, cửa đều bằng tôn thiếc, nền bằng đất tráng xi măng để tránh tù binh đào hầm vượt ngục. Xung quanh mỗi phân khu là 04 vọng gác canh giữ 24/24 giờ và 10 vọng gác lưu động, đèn chiếu sáng toàn khu trại. Toàn trại được bao bọc bởi dãy kẽm gai dày chằng chịt 7 đến 10 lớp; vùng bao quanh hoàn toàn trống trải tạo thành một vành đai trắng bao bọc, cách ly với bên ngoài. Tuy nhiên, với tinh thần dũng cảm, ý chí kiên cường, các tù binh tại Trại giam Phú Quốc đã tổ chức thành công 45 cuộc vượt ngục dưới nhiều hình thức: vượt rào, đánh lính áp giải khi ra ngoài làm việc khổ sai, đào hầm ngầm…

Hiện nay, di tích chỉ còn lại một số hạng mục sau:

– Cổng Tiểu đoàn 8 quân cảnh: được làm bằng lõi trụ sắt và gạch đặc, tạo thành 02 trụ vuông hai bên.

– Nghĩa địa tù binh: diện tích 20.427,8m2, nằm ở khu vực đồi 100, bốn mặt đều giáp với đất của Hải quân vùng 5, cách điểm Trại giam – phân khu B2 khoảng 1km. Sau năm 1975, toàn bộ công trình được xây bằng bê tông cốt thép, có hàng rào bao quanh. Khu trung tâm nghĩa địa được thiết kế hình tròn, chính giữa có một khối hình chữ nhật, bên trên là tượng đài hình nắm tay (nắm đấm) thể hiện lòng căm thù, tinh thần kiên cường, bất khuất, sẵn sàng hy sinh của các chiến sĩ… Ở các vách tường phía bên trong của hình chữ nhật, cách mặt đất khoảng 1m, được dùng làm bia ghi danh liệt sĩ.

– Nhà thờ Kiến Văn: có diện tích 4.837,6m2, hiện là phế tích, tại đây chỉ còn lại vài mảnh tường, cùng nền xi măng và các cột góc tường.

– Nhà trưng bày bổ sung di tích được xây dựng bằng bê tông cốt thép, chia thành 02 phòng với 43 hiện vật và hơn 100 hình ảnh tư liệu: phòng chiếu phim giới thiệu sơ lược về Phú Quốc và phòng giới thiệu về tổng thể trại giam với 03 phần: Phần I, sa bàn và toàn cảnh trại giam (quá trình hình thành và tồn tại), phần II, những hình thức tra của địch và phần III, những hình thức đấu tranh và các kỷ vật của tù binh.

– Phân khu B2: được phục dựng lại với diện tích 17.693 m2, gồm các hạng mục như sau:

+ Vọng gác (chòi canh): nằm ở bốn góc của phân khu giam B2, được làm bằng cột thép, cao khoảng 5m, rộng khoảng 1,5m, mái che bằng tôn.

+ Hàng rào: là hệ thống dây kẽm gai, sắc nhọn, bùng nhùng được quấn thành 8 đến 10 lớp, cách khoảng 2 – 3m dọc hàng rào có các cột sắt dùng để treo bóng đèn.

+ Cổng trại giam của phân khu B2: được quấn nhiều lớp rào kẽm gai để bao bọc, có quân cảnh bảo vệ.

+ Chuồng cọp kẽm gai: nằm bên phải cổng phân khu là các chuồng cọp nằm, chuồng cọp ngồi, chuồng cọp nửa thấp nửa cao. Chuồng cọp dài khoảng 2m, rộng khoảng 0,5m, cao khoảng 0,5m, được để ngoài trời, nằm ngay sát mặt đất, làm bằng kẽm gai, bên trong là các mô hình tù binh bị giam giữ.

+ Liền kề với các chuồng cọp kẽm gai là kiểu giam giữ tù binh bằng thùng cat xô, thực tế đây là một công ten nơ nhỏ. Trên đỉnh có đục một lỗ thông hơi, trên thành đục một cửa sổ nhỏ dùng để đưa cơm, nước vào cho người tù.

+ Dãy nhà bếp và nhà ăn: nằm bên phải của cổng vào, có 04 nhà (loại nhà tiền chế, sườn là khung thép lắp sẵn, vách, mái, cửa sổ đều bằng tôn thiếc), bên trong cũng có mô hình tù binh đang nấu ăn.

+ Dãy nhà dùng làm nơi ở, giam giữ và tra tấn tù binh: được đánh số từ 1 đến 18 theo thứ tự từ phải sang trái, là loại nhà tiền chế giống nhà bếp, bên trong mỗi nhà có 02 dãy sàn lát ván gỗ làm chỗ nằm nghỉ cho tù binh. Sau khi phục dựng, bên trong có mô hình tù binh, tái hiện các nội dung: phòng 1, cuộc đấu tranh chống địch đàn áp tù binh vào ban đêm; phòng 2, cuộc sống và sinh hoạt của tù binh vào những lúc địch không tổ chức đàn áp, khủng bố; phòng 3, cuộc đấu tranh biểu tình của tù binh phản đối địch; phòng 4, cuộc đấu tranh tuyệt thực của tù binh; phòng 6, cuộc đấu tranh của tù binh và sự đàn áp đẫm máu của địch ở Phân khu B8; phòng 13, 15, 16, một số hình thức tra tấn tù binh điển hình của địch ở trại giam; các phòng 5, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 18, cảnh tù binh bị giam giữ; phòng 14, đường hầm của tù binh đào để vượt ngục (đoạn hầm dài khoảng 25m, đường kính khoảng 50 cm); phòng 17, cảnh tù binh đào hầm và vượt ngục.

+ Phòng biệt giam B2: diện tích 9 x 3m, vách được dựng bằng thép tấm, đục lỗ nhỏ, mái che bạt, dưới mái gần đỉnh đầu là lưới rào dây kẽm gai sắc nhọn, nền đất tráng xi măng. Phòng biệt giam tái hiện cảnh tượng địch tra tấn tù binh bằng chày vồ, bằng giày đinh, cho tù binh “đi tàu bay”, bị chôn sống…

+ Dãy nhà vệ sinh: nằm phía sau phòng giam 14 và 16, giáp với hàng rào phía sau khu trại giam. Ở các dãy nhà vệ sinh đều có mô hình mô phỏng cảnh địch bắt tù binh dọn dẹp, khiêng thùng phân đi đổ…

– Đài tưởng niệm liệt sĩ tại Đồi Sim: diện tích 12.420,5m2, giáp với đất của dân và tỉnh lộ 47, được xây bằng bê tông cốt thép. Đài tưởng niệm được thiết kế với hai bên là biểu tượng hình ngọn sóng được sơn màu xanh da trời, cao khoảng 5m và chính giữa là hình khối nhọn, được khoét rỗng khoảng 2m tạo biểu tượng hình người mang ý nghĩa “những con người ra đi từ nơi ấy”.

– Cổng Tiểu đoàn 7 quân cảnh: sau giải phóng năm 1975, cổng Tiểu đoàn 7 quân cảnh được di dời vào trong, cách địa điểm cũ 15m. Cổng được làm lại bằng lõi trụ sắt và gạch chỉ đặc, tạo thành 02 trụ vuông hai bên, cao 4,1m, rộng 0,85m. Khoảng cách giữa 02 trụ cổng là 5,9m. Bao quanh cổng là tường rào cao 0,8m. Sát với trụ cổng bên trái (hướng từ ngoài vào) là bảng trích giới thiệu sơ lược về Tiểu đoàn 7 quân cảnh.

– Cổng và nhà Ban Chỉ huy trại giam: hiện nay ở điểm này chỉ còn lại cổng và 04 nhà mới được phục dựng lại trên nền cũ, có diện tích 20m x 5,68m đều được phục dựng bằng bê tông cốt thép, tường gạch, nền tráng xi măng, mái lợp tôn, cửa ra vào và cửa sổ làm bằng gỗ. Cổng mới tôn tạo lại được di dời vào bên trong cách vị trí cũ 21,5m, được làm bằng trụ sắt và đổ bê tông. Cánh cửa cổng chính làm bằng các thanh sắt ấp chiến lược và dây kẽm gai. Bao quanh cổng và nhà Ban Chỉ huy trại giam là tường rào. Mặt tường rào phía trước – giáp tỉnh lộ 47, làm bằng dây kẽm gai, còn các mặt tường khác xây bằng bê tông.

Hiện nay, hang năm di tích Trại giam Phú Quốc đón hàng chục nghìn lượt khách tham quan trong và ngoài nước (trong đó có nhiều cựu tù binh là chứng nhân sống về lịch sử di tích), góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần đấu tranh cách mạng bất khuất cho các thế hệ.

Với giá trị đặc biệt tiêu biểu, di tích lịch sử Trại giam Phú Quốc (huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang) đã được xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt (theo Quyết định số 2408/QĐ-TTg ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ)./.

Khắc Đoài (Theo Hồ sơ tư liệu Cục Di sản văn hóa)

Rate this post

Di tích Sở Cò Côn Đảo

Di tích Sở Cò do thực dân Pháp xây dựng từ năm 1929, nhằm phục vụ cho bộ máy cai trị tù, Bước sang giai đọan đế quốc Mỹ, ngôi nhà này là trụ sở Quân cảnh. Đặc biệt, Sở Cò là nơi lưu lại những giờ phút cuối đời của nữ tù chính trị đầu tiên và duy nhất thời thực dân Pháp đó là Võ Thị Sáu. Khi đưa ra pháp trường tại Côn Đảo, đang cận kề với cái chết nhưng chị vẫn giữ vững khí phách của người Cộng sản, lạc quan tin tưởng vào sự thắng lợi của cách mạng. Gương kiên trung bất khuất của chị đã trở thành niềm tự hào của tuổi trẻ cả nước khi nhắc đến tên chị.

Di tích Sở Cò nằm trên đường Lê Duẩn, du khách có thể đi bằng ôtô hoặc xe máy, xe đạp hay đi bộ đều có thể đến điểm tham quan di tích này. Di tích Sở Cò đã được thủ tướng chính phủ ký quyết định số 548/QĐ-TTg công nhận là Di tích Quốc gia Đặc biệt ngày 10/5/2012.

5/5 - (3 bình chọn)

Thăm chùa Tam Bảo Rạch Giá – nơi ra đời của tạp chí “tiến hóa”

Chùa Tam Bảo tọa lạc trên một khu đất rộng gần 4.000m² ở đường Sư Thiền Ân, TP.Rạch Giá (Kiên Giang). Chùa có lối kiến trúc tổng thể độc đáo, bố cục gọn gàng, kết hợp hài hòa các chất liệu gạch, gỗ, đá.

Đây là nơi được vua Gia Long ban sắc phong, cũng là nơi hoạt động của Đảng Cộng sản Đông Dương tỉnh Rạch Giá trước năm 1945. Nơi đây ra đời của “Tạp chí Tiến hoá” một trong những tờ báo tiên phong của phong trào cách mạng Việt Nam. Chùa còn là một trong những nơi sản xuất và cất dấu vũ khí cho cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ.

Trong quá trình hoạt động cách mạng tại đây đã ghi nhận những tấm gương khí tiết sáng ngời của những chiến sỹ cộng sản mặc áo cà sa, góp phần viết nên truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường của Đảng bộ và nhân dân Kiên Giang thời kỳ tiền khởi nghĩa. Chùa vẫn còn giữ được nét kiến trúc cổ và đã được Nhà nước công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia năm 1998.

Chùa Tam Bảo Rạch Giá

Truyền thuyết chùa Tam Bảo

Tương truyền : Khi quân Tây Sơn đánh vào Gia Định , Nguyễn Anh sống sót dẫn một toán quân đi lánh nạn ở vùng biển Hòn Tre (huyện Kiên Hải). Trong lúc quân lính đói khát thì Bà Hoặng (tức Dương Thị Can) là người phụ nữ không có chồng con, nhưng là người giàu có ở trên đảo đã tiếp ứng cho chúa Nguyễn một ghe chở đầy gạo, muối và tơ tằm để quan quân họ Nguyễn qua cơn nguy khốn. Khi Nguyễn Anh lên ngôi Hoàng đế, đã cho người đi tìm Bà Hoặng ở Hòn Tre để báo ơn. Lúc này Bà đã vào đất liền, dựng một ngôi chùa nhỏ mái tranh vách đất vào năm 1802 ở Rạch Giá thờ đức Thích Ca Mâu Ni Phật. Quá trình tu, bà Hoặng luôn hướng về “tam bảo” mà theo bà đó là công đức quan trọng nhất của mọi nhà tu, cho nên bà đặt tên chùa là Tam Bảo. Tam Bảo chính là ba ngôi báu: Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo: Phật bảo là người giác ngộ không đam mê dục vọng thấp hèn, không tham lam trục lợi, không si mê mọi sự cám dỗ của vật chất, từ đó là có lòng vị tha, bao dung cao cả, mọi sự cám dỗ không làm lay chuyển được mình. Đó là đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Pháp Bảo là những lời dạy của đức Phật cho chư tăng được thể hiện ra trong kinh, luật và luận. Trong đó Phật đã tổng hợp mọi điều mà các tu sỹ phải làm theo. Tăng Bảo là một đoàn thể tăng già hoà hợp từ bốn vị trở lên, đi theo con đường chân lý của Phật, là những vị sư đứng giữa Phật và chúng sinh.

Sau khi bà Hoặng qua đời, Vua Gia Long (1802 – 1820) đã sắc phong cho ngôi chùa của bà là “Sắc Tứ Tam Bảo Tự”. Trong đó chữ “Sắc” : nghĩa là lệnh của Vua ban cho thần dân, đó là một loại giấy tờ cao nhất của triều đình do Vua ký và đóng dấu. Chữ “Tứ” : nghĩa là ban cho. Chữ “Tam Bảo” là ba ngôi báu: Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo. Chữ “Tự” có nghĩa là chùa. Rất tiếc là tấm sắc phong này đã bị mất trong thời kỳ bị giặc Pháp bố ráp những năm 30-40 của thế kỷ trước. Sắc phong của chùa trước đây là một loại văn bản bằng chữ nho có ấn tín của nhà vua viết trên nền giấy in nổi hoa văn rồng phượng màu vàng (kích thước khoảng 0,5 x1,2 m).

Nét đẹp không gian kiến trúc chùa Tam Bảo

Trải qua hàng trăm năm tồn tại, chùa Tam Bảo được trùng tu tôn tạo nhiều lần với nhiều thế hệ nhà sư trụ trì. Đây là ngôi chùa có nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc khá đẹp với một không gian yên tĩnh, trang nghiêm. Năm 1913 Hoà thượng Nguyễn Văn Đồng, Pháp danh Thích Trí Thiện hiệu Hồng Nguyện, đời thứ 39 dòng Lâm Tế về đây trụ trì cho xây dựng lại chùa, đến năm 1917 thì khánh thành. Gỗ xây chùa, gỗ tạc tượng đều được mua về từ Campuchia. Lần trùng tu gần đây nhất là năm 2000 chùa được xây dựng lại sạch đẹp, khang trang.

Khuôn viên chùa Tam Bảo Rạch Giá

Từ ngoài lộ du khách bước vào cổng chùa được xây theo lối kiến trúc mái Tam Quan, lợp ngói ống, các họa tiết trang trí như chữ “Vạn”, bông sen tượng trưng cho Phật pháp được đắp bằng vữa. Trong sân có cây bồ đề cổ thụ bốn mùa xanh tươi. Phật thoại có ghi rằng : “Khi đức Phật Thích Ca thành đạo, ngài ngồi thiền dưới cội bồ đề”. Dưới cội bồ đề, người nghệ nhân đã khéo léo tạo tác bằng chất liệu xi măng hình tượng đức Phật A Di Đà đang ngồi thiền định, trên đầu là 7 con rồng che chở cho ngài. Hình tượng trên gắn liền với tích truyện của Phật giáo, đó là xa xưa khi đức Phật “nhập định” dưới Thủy Cung đã được Long Vương tình nguyện hóa thân thành 7 con rồng để làm ngai đỡ cho Phật ngồi. Trong sân chùa có ngọn Tam Bảo Tháp được xây ba tầng. Tầng trên cùng là để thờ Phật. Tầng giữa thờ kinh và tầng dưới thờ tro cốt của các Hoà thượng đã trụ trì chùa Tam Bảo như Hòa thượng Thích Trí Thiện, hòa thượng Thích Bảo Châu vv…

Từ sân chùa, du khách vào Tây Lang là dãy nhà phía trước, bên phải Chánh điện. Nhà Tây Lang gồm 3 gian, mái lợp ngói, nền lót gạch Tàu dùng để làm Phòng thuốc nam miễn phí gọi là “Tuệ Tĩnh Đường”.

Từ Tây Lang có cửa thông ra một hồ sen trồng toàn sen trắng. Hoa sen là hiện thân của sự thanh cao trong sáng, thường gắn với đạo Phật. Phật ngồi trên đài sen đã trở thành một hình ảnh quen thuộc, trong hoa sen đã có quả, tượng trưng cho ý nghĩa nhân –quả của Phật pháp. Một cây cầu nhỏ, cong cong được bắc ngang hồ sen tạo lối dẫn lên bậc tam cấp đặt bức tượng Quan Thế Nam Hải cao khoảng 2 mét, đang đứng trên một toà sen. Hai bên cầu trang trí hình bánh xe tròn tượng trưng cho vòng luân hồi của tạo hóa. Ý nghĩa của cây cầu tượng trưng cho điểm cao của sự giác ngộ, còn hồ sen là tượng trưng cho chiều sâu của sự giải thoát. Xung quanh hồ sen là đủ các loại cây kiểng, nào là Hải Đường, nào là Thược Dược, Thiết Mộc Lan …… Hương thơm từ hoa cỏ quyện lẫn trong mùi hương trầm ngan ngát khiến du khách cảm thấy sảng khoái, quên hết mọi ưu phiền. Nếu có thời gian du khách hãy nán lại bên những khóm hoa, bởi ở đó nhà chùa có treo những tấm bảng nhỏ xinh ghi lại cảm xúc của các vị hòa thượng cũng như du khách có thi hứng khi viếng cảnh chùa).

Đối diện với Tây Lang là Đông Lang. Đây là dãy nhà được dùng làm Trụ sở Văn phòng thường trực của Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Kiên Giang. Trong dãy nhà Đông Lang còn dành ra một gian làm phòng truyền thống trưng bày nhiều hình ảnh truyền thống của Phật giáo Việt Nam. Trong đó có những hình ảnh nổi bật như các vị lãnh đạo Đảng, nhà nước về thăm chùa qua các thời kỳ. Anh chân dung các vị Hòa thượng gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng chùa Tam Bảo như các vị: Thích Trí Thiện, Thích Thiện An, Thích Thiện Chiếu, Pháp Linh…

Tòa Chánh Điện là dãy nhà tường xây, nền tôn cao 70 cm. Trên các vách tường, riềm cửa, người ta lắp vào đó những khuôn bông có hoa văn trổ thủng thay thế cho những cửa sổ. Chùa có ba tầng mái ngói, được lợp bằng ngói ống. Những hàng cột gỗ đen to, thân cột phình ra được đục đẽo thành hình bát giác trông có vẻ vững chắc hơn. Chánh điện được chia làm ba gian, mỗi gian đều có bàn thờ. Các bao lam bằng gỗ được chạm hình nổi, sơn son thếp vàng các hình rồng phượng, hoa lá, chim muông, đầy tính nghệ thuật tạo ấn tượng linh thiêng cho người xem. Trong đó hình tượng con rồng được sử dụng nhiều nhất. Xa xưa đã trở thành một biểu tượng nhất nguyên về vũ trụ, vừa ở dưới nước, vừa ở trên trời. Trong các thư tịch cổ và truyền thuyết dân gian, con rồng thường xuất hiện để nói lên vận mệnh của đế vương hoặc là hiện thân của thần nước.

Nhà Hậu Tổ là dãy nhà ba gian lợp ngói ống dùng làm nơi thờ vị tổ phái thiền dòng Lâm Tế và các vị Hòa thượng trụ trì chùa Tam Bảo qua các thời kỳ. Điểm độc đáo nhất của nhà Hậu Tổ là hai cánh cửa bằng gỗ lim dày khoảng 10 cm được biến thành một tác phẩm điêu khắc tinh xảo tuyệt đẹp với hình tượng thần Kim Cang gác cửa.

Hệ thống tượng phật và nét đẹp tín ngưỡng

Chùa Tam Bảo có nhiều pho tượng rất đẹp và thể hiện trình độ cao về kỹ thuật điêu khắc.

Tại Chánh điện, theo hướng từ ngoài cửa chính đi vào thì dãy Bàn thờ thứ nhất đặt tượng thờ Đức Phật Chuẩn Đề bằng gỗ 18 tay ngồi xếp bằng trên lưng con khổng tước cao 1.85 thước. Mặt tượng mang vẻ đẹp hiền từ. Những bàn tay có nét mềm mại uyển chuyển như đang múa. Đây chỉ là một loại hình của tượng Quan Âm (còn gọi là Quan Thế Âm – Avalokitecvara). Sự tích về Quan Âm có từ đời nhà Nguyên bên Trung Quốc được truyền vào Việt Nam từ thế kỷ XV rồi từ từ được “Việt hóa”. Tích truyện kể rằng : Công chúa Diệu Thiện là con thứ ba của vua Diệu Trang. Nàng đã từ bỏ cuộc sống vinh hoa phú quý chốn cung đình để tu hành. Quá trình tu hành khổ hạnh gặp phải biết bao ngăn trở, kể cả sự cấm đoán của vua cha. Khi vua cha bị loạn đảng đoạt ngôi, bị mắc chứng bệnh kỳ lạ, công chúa đã dâng hiến đôi tay đôi mắt của mình để chữa trị cho cha. Với tấm lòng bồ tát bao dung cao cả như vậy, cuối cùng công chúa cũng tu thành chính quả tại chùa Hương Tích và trở thành phật bà ngàn mắt ngàn tay. Con số “ngàn” ở đây không phải là một con số toán học mà chỉ là đại từ phiếm chỉ năng lực cứu độ vô biên của Phật Quan Âm.

Những mặt tường bên trong chánh điện có vẽ các bức tranh theo điển tích của đức Phật. Chẳng hạn như bức tranh thứ nhất Thái tử Tất Đạt Đa cùng với người hầu rời bỏ hoàng cung, cưỡi ngựa vượt sông Anôma vào rừng tìm lối tu hành. Bức tranh Thái tử Tất Đạt Đa tu luyện dưới gốc cây bồ đề trở thành Phậtvv

Ngay tại cửa chánh điện chùa Tam Bảo có bức tranh vẽ cảnh Thập Điện Diêm Vương. Nó giáo dục đạo lý “ở hiền gặp lành”, “ác giả ác báo”. Thập Điện Diêm Vương là mười vị vua cai quản các miền âm ty, mỗi vị đứng đầu một điện để xét công, luận tội những người mới chết, trên cơ sở ấy mà ban thưởn ay trừng phạt, sau đó cho đầu thai ở kiếp tương ứng. Những cảnh vẽ trong Thập Điện Diêm Vương thực chất là 10 bức tranh liên hoàn miêu tả những cảnh rùng rợn mà linh hồn những tội nhân khi chết đi bị đày xuống 10 cửa điện ở âm ty để chịu các hình phạt khác nhau.

Chùa Tam Bảo hàng năm tổ chức những ngày đại lễ như : Lễ Cầu An được tổ chức từ ngày mùng 8 đến rằm tháng Giêng âm lịch. Lễ Phật Đản được tổ chức long trọng vào ngày rằm tháng Tư âm lịch, kỷ niệm ngày đức Phật ra đời. Lễ Vu Lan (rằm tháng Bảy vào rằm tháng Bảy âm lịch).

Chùa Tam Bảo – những dấu ấn lịch sử

Thời kỳ tiền khởi nghĩa ở Rạch Giá.

Thời kỳ 1936 -1939 ở nước Pháp lực lượng dân chủ và tiến bộ dành được thắng lợi trong cuộc bầu cử. Chính phủ Pháp có nhiều cải cách đối với các nước thuộc địa. Đảng ta có chủ trương chuyển hướng hoạt động công khai. Tại chùa Tam Bảo, ta tranh thủ những người có cảm tình với cách mạng đứng ra thành lập hội Phật học kiêm tế Rạch Giá. Ban đầu chỉ có 3 vị sư là Hoà thượng Thích Trí Thiện, Thích Thiện Chiếu và nhà sư Pháp Linh chủ động làm nòng cốt thành lập Hội để biến chùa Tam Bảo trở thành một căn cứ kháng chiến bí mật. Danh từ “Hội Phật Học Kiêm tế” nghĩa là hội không chỉ nghiên cứu Phật học mà còn để thực hành “kinh bang tế thế”, dùng tôn giáo để hoạt động chính trị, lãnh đạo phong trào yêu nước tại địa phương.

Tháng 1 năm 1938 Hội ra tạp chí Tiến Hoá làm cơ quan ngôn luận. Thông qua tạp chí Tiến Hoá quần chúng nhân dân sẽ được giác ngộ cách mạng, từ đó mạnh dạn đứng lên đoàn kết thành một lực lượng cách mạng hùng hậu đấu tranh chống Thực dân Pháp xâm lược. Ngày 1/1/1938 Tạp chí Tiến Hoá đã ra mắt số đầu tiên. Nội dung Tạp chí gồm các phần như: thông luận, diễn đàn, phê bình nghiên cứu, bách khoa thưởng thức, thời cuộc. Đây là tờ tạp chí có nội dung phong phú lành mạnh nhất so với các báo chí Phật giáo lúc bấy giờ. Mục triết học thường thức bàn về duy tâm luận và duy vật luận để quần chúng biết thế nào là duy vật biện chứng. Mục bách khoa thường thức để truyền bá khoa học. Mục y học hướng dẫn trị các chứng bệnh thông thường. Mục tin tức thường đưa tin về nước Pháp để quần chúng hiểu được nước Pháp không phải là cường quốc, nước Pháp không có gì đáng sợ.

Tạp chí Tiến Hóa nghiên cứu về Phật giáo nhưng có tư tưởng rất tiến bộ. Tư tưởng đó thể hiện như : Chống lại chính sách ngu dân, mị dân của thực dân Pháp, chống lại chính sách ru ngủ quần chúng bằng kinh sách, bằng mê tín dị đoan, Tạp chí tiến hóa còn đề cập đến vấn đề xã hội như mở trường học, lập cô nhi viện, lập phòng khám bệnh và phát thuốc, vận động tập thể dục vv….

Tạp chí Tiến Hóa là tạp chí cách mạng, tuyên truyền tinh thần yêu nước chống Thực dân Pháp và truyền bá chủ nghĩa Mác Lên nin. Báo ra được 15 số (1938-1939) thì phải đóng cửa trước sự bố ráp của kẻ thù.

Trạm giao liên của Tỉnh uỷ Rạch Giá

Trong thời kỳ Đảng còn hoạt động bí mật, nhiều cuộc họp bí mật của Đảng diễn ra tại chùa. Sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ bị thất bại, Tỉnh uỷ lâm thời Rạch Giá chọn chùa Tam Bảo làm đầu mối giao thông liên lạc, đồng thời làm nơi cất dấu vũ khí từ rừng U Minh Thượng đưa về. Công việc đang tiến hành trôi chảy thì đầu tháng 6 năm 1941, cơ sở bị lộ.

Đêm 14/6/1941 lính mật thám Sa Đéc cùng Sở mật thám Rạch Giá bao vây chùa Tam Bảo, rồi một toán ập vào chùa lục soát, bắt người. Đồng chí Trương Minh Cụ có mặt trong chùa nhưng tẩu thoát. Đồng chí Cụ gặp đồng chí Lâm Xuyến là thợ điện ở nhà máy đèn Rạch Giá, hai người đi báo cho đồng chí Trần Văn Thâu chuyển số lựu đạn ra khỏi chùa Tam Bảo nhưng không kịp. Nhiều người đã chạy thoát. Trong chùa đêm đó chỉ còn Hòa thượng Thích Trí Thiện (tức Nguyễn Văn Đồng), Hoà thượng Thích Thiện Ân ( tức Trần Văn Thâu) thầy giáo Tất và một vài cô vãi.

Bọn lính lục soát từ Chánh điện, đến nhà Hậu tổ và các Liêu. Khi xét trong nơi ở của hoà thượng Thích Thiện Ân bắt gặp nhiều lon sữa bò, chão bể, cọ sơn, dầu hắc, những ống tre đựng tài liệu mật, những truyền đơn …. Vì không khai, hoà thượng bị giặc đánh đập tra tấn rất tàn nhẫn. Khi chúng đào từ vườn chùa phát hiện được một cái khạp trong đó đựng 61 quả lựu đạn. Địch tiếp tục tra tấn, trói Hoà thượng treo lên nóc chùa. Một lúc sau Hoà thượng dụ địch rằng, vẫn còn một vài chỗ cất dấu vũ khí. Chúng bèn hạ Hoà thượng xuống và cởi trói để người chỉ nơi còn vũ khí. Khi đi ngang qua chiếc bàn chứa đầy lựu đạn, Hoà thượng nói: “Đồ này không xài bây giờ thì còn xài lúc nào nữa”. Nói đoạn, Hoà thượng liền xô mạnh chiếc bàn, một tên mật thám đỡ bàn lại, chỉ có một quả lựu đạn rơi xuống gạch nổ tung, làm cho vài tên mật thám bị thương. Chúng lại tiếp tục treo thầy Thiện An lên cao, đánh đập tra khảo.

Cuối cùng bọn lính mật thám rút ra khỏi chùa, chúng bắt hết người, vơ vét tài sản. Những người bị bắt, chúng giải đi Sa Đéc (Đồng Tháp) rồi đi tòa đại hình ở Sài Gòn. Chúng tuyên án tám Đảng viên bị kết án tử hình là : Trần Văn Thâu, Tám Lọ, Ninh thợ bạc, Râu lớn, Râu nhỏ, Phan Văn Bảy …. Chị Hồng, chị Bé, chị Bưởi án chung thân khổ sai, Bảy Đà 15 năm tù ở. Hòa thượng Thích Trí Thiện (Nguyễn Văn Đồng) 5 năm tù biệt xứ, thầy giáo Tất được tha bổng.

Tiếng bom nổ tại chùa Tam Bảo chứng minh ngọn lửa cách mạng của nhân dân Kiên Giang vẫn rực cháy và sắp bùng lên đốt sạch quân xâm lược. Đó là bước chuẩn bị tất yếu góp phần vào thắng lợi lịch sử của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên mới cho cả dân tộc ta.

Đấu tranh chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm

Sau sự kiện đêm 14/6/1941, chùa Tam Bảo bị chính quyền thực dân đóng cửa. Chùa trở nên hoang vắng đìu hiu. Trong chùa chỉ còn lại một vài bà vãi già chăm lo việc nhang khói. Phật tử cũng không dám bước chân đến chùa vì hàng ngày chùa luôn bị bọn mật thám canh gác. Cho đến khi Cách mạng tháng Tám thành công thì bọn thực dân mới run sợ, chúng cho mở cửa chùa để làm dịu bớt tình hình. Nhân đó tăng ni Phật tử mở một Đại trai đàn cầu siêu cho Hoà thượng Thích Trí Thiện, Thiền sư Thích Thiện Ân cùng các đồng chí đã hy sinh. Năm 1951 Hội Phật Học Nam Việt tỉnh Kiên Giang tiếp quản chùa và đặt trụ sở tại đây. Chùa dần trở lại sinh hoạt tín ngưỡng thu hút Phật tử trong tỉnh đến chiêm bái ngày càng đông. Hội hoạt động mạnh từ năm 1955 -1968 tham gia vào cuộc đấu tranh của Phật Giáo chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm. Mặc dù chùa luôn đặt dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của mật vụ, nhưng lực lượng đấu tranh vẫn thành công trong việc rải truyền đơn và phát tờ tin kêu gọi nhân dân vùng lên chống ách kìm kẹp của chế độ độc tài Ngô Đình Diệm.

“Sắc Tứ Tam Bảo Tự”là ngôi chùa cổ kính có niên đại từ thế kỷ 18, trải qua những bước thăng trầm lịch sử, chùa đã có đóng góp nhất định vào phong trào giải phóng dân tộc. Chùa là một cơ sở bí mật để vận động phong trào yêu nước trong giới tôn giáo giai đoạn 1930 -1945 và đấu tranh chống lại chế độ độc tài Ngô Đình Diệm nhưng năm 50 -60 của thế kỷ trước. Đây là trụ sở của Hội Phật Học Kiêm Tế, xuất bản tạp chí Tiến Hoá, phát triển các hoạt động từ thiện xã hội như: mở phòng thuốc miễn phí, mở lớp học bình dân, cô nhi viện vv…Đó chính là “Đoá hoa sen đỏ rực” ánh hào quang bác ái của đức Phật tỏa hương giữa đời thường. Chùa Tam Bảo còn là nơi ghi dấu chiến tích anh hùng thời kỳ chống Thực dân Pháp xâm lược, đây là nơi chế tạo và tàng trữ vũ khí, nơi in truyền đơn, là đầu mối giao liên giữa Xứ uỷ Nam kỳ và Tỉnh uỷ Rạch Giá. Sự hy sinh cao đẹp của Thiền sư Thích Thiện Ân và các nhà sư yêu nước của chùa Tam Bảo đã góp phần viết nên trang sử anh hùng của Đảng bộ và nhân dân Kiên Giang. Năm tháng đi qua nhưng hình ảnh của các nhà sư yêu nước sống mãi trong tâm hồn các Phật tử và nhân dân Kiên Giang.

https://dulich.petrotimes.vn/

Bùi Công Ba

Rate this post

Lịch chạy tàu cao tốc Cà Mau – Nam Du – Phú Quốc tháng 12/2020

Cuối năm 2020, Phú Quốc Express đã hoạt động lại tuyến tàu cao tốc Cà Mau đi Nam Du và Phú Quốc, tháng 12/2020 lịch tàu vẫn được duy trì định kỳ vào Thứ Bảy và Chủ Nhật hằng tuần cụ thể như sau:

Lịch chạy tàu cao tốc Phú Quốc – Nam Du – Cà Mau tháng 12/2020

Chuyến
Giờ khởi hành
Ghi chú
Cà Mau – Nam Du – Phú Quốc​
08:00​
Chạy vào Thứ 7 hàng tuần, từ 21/11/2020​
Phú Quốc – Nam Du – Cà Mau​
13:30​
Chạy vào Chủ Nhật hàng tuần, từ 22/11/2020​
Nam Du – Phú Quốc​
10:20​
Chạy vào Thứ 7 hàng tuần, từ 21/11/2020​
Nam Du – Cà Mau​
15:00​
Chạy vào Chủ Nhật hàng tuần, từ 22/11/2020​

Bảng giá vé

Do chỉ chạy vào dịp cuối tuần, nên giá vé tàu cao tốc Cà Mau – Nam Du – Phú Quốc sẽ được áp dụng cụ thể như sau:

Giá vé tàu cao tốc Nam Du – Cà Mau

  • Giá vé VIP: 488,000 đồng/lượt
  • Giá vé ECO: 328,000 đồng/lượt
  • Giá vé Người cao tuổi/Trẻ em: 264,000 đồng/lượt

Giá vé tàu cao tốc Phú Quốc – Cà Mau

  • Giá vé VIP: 784,000 đồng/lượt
  • Giá vé ECO: 544,000 đồng/lượt
  • Giá vé Người cao tuổi/Trẻ em: 432,000 đồng/lượt

Giá vé tàu cao tốc Phú Quốc – Nam Du

  • Giá vé VIP: 312,000 đồng/lượt
  • Giá vé ECO: 232,000 đồng/lượt
  • Giá vé Người cao tuổi/Trẻ em: 184,000 đồng/lượt
5/5 - (2 bình chọn)

Lịch chạy tàu cao tốc Vũng Tàu – Côn Đảo tháng 12/2020

Lễ giỗ lần thứ 235 Bà Thứ phi Hoàng Phi Yến từ ngày 01 – 02/12/2020 là một trong những sự kiện lớn tại Côn Đảo nhưng do một số lý do nên Côn Đảo Express tạm ngưng chạy tàu. Sau đó, lịch tàu tháng 12/2020 vẫn duy trì 02 chuyến khứ hồi mỗi tuần cụ thể như sau:

  • Vũng Tàu đi Côn Đảo: Thứ 3, Thứ Bảy vào 8:00 sáng
  • Côn Đảo về Vũng Tàu: Thứ 4, Chủ Nhật vào 13:30 chiều.

Lưu ý: Thông báo Tạm ngưng tuyến tàu cao tốc Vũng Tàu- Côn Đảo ngày 1-2/12/2020

Giá vé tàu cao tốc Côn Đảo vẫn được duy trì và áp dụng cụ thể như sau:

Giá vé từ thứ 2 đến thứ 5

  • VIP: 1,200,000 VND/lượt
  • ECO: 660,000 VND/lượt
  • NCT/Trẻ em: 550,000 VND/lượt

Giá vé từ thứ 6 đến Chủ Nhật, Lễ, Tết

  • VIP: 1,200,000 VND/lượt
  • ECO: 880,000 VND/lượt
  • NCT/Trẻ em: 700,000 VND/lượt
Lịch chạy tàu cao tốc Côn Đảo tháng 12/2020
5/5 - (3 bình chọn)