Sùng Hưng cổ tự – ngôi chùa lâu đời nhất tại Phú Quốc

Sùng Hưng Tự là một trong những ngôi chùa cổ nhất thuộc thị trấn Dương Đông, huyện đảo Phú Quốc. Ngôi chùa này tọa lạc trên một ngọn núi ngay trung tâm thị trấn, được xây dựng theo phong cách kiến trúc dân gian rất cổ xưa: miếu phía trước, chùa nằm phía sau.

Ý nghĩa tên gọi Sùng Hưng cổ tự

Theo ghi chép được ghi trong các tài liệu, ngôi chùa này được xây dựng vào những năm cuối thế kỷ XIX. Trước kia, khu đất này là một nghĩa địa vắng vẻ, người dân địa phương đã tiến hành xây dựng nên chùa Sùng Nghĩa và Hưng Nhân để thờ cúng và cầu siêu cho các linh hồn được chôn cất tại vùng này. Sau này hai ngôi chùa này hợp nhất và được gọi là Sùng Hưng Tự – tên được ghép từ tên của hai ngôi chùa Sùng Nghĩa và Hưng Nhân.

Lịch sử hình thành chùa Sùng Hưng

Theo tài liệu còn lưu lại, thì trước kia nơi đây là nghĩa địa hoang vắng, Thi sĩ Đông Hồ đã có đoạn miêu tả như sau:”Trước kia nơi đây là đất nghĩa địa, có Chùa thờ là Sùng Nghĩa Tự và một Chùa nữa là Hưng Nhân Tự. Sau đó sửa chung làm một và lấy hai chữ Sùng – Hưng làm hiệu Chùa”. Trong một quyển sách chuyên khảo về Phú Quốc bằng Pháp văn (năm 1906), ngôi Chùa Sùng Hưng đã được nhắc đến như sau: “Phú Quốc chỉ có một ngôi chùa ở Dương Đông, nơi đây người An Nam, người Tàu, người Minh Hương không phân biệt, đến cúi lạy và cầu nguyện”

Đến nay vẫn chưa biết được chính xác năm thành lập cũng như pháp danh, thế danh và hành trạng của những đời Trụ trì đầu tiên của Chùa Sùng Hưng mà chỉ tạm biết rằng Chùa được xây dựng hợp nhất vào cuối thế kỷ XIX, các đời Trụ trì thứ 5 và thứ 6 là Hòa thượng Thích Đạt Vĩnh và Hoà thượng Thích Minh Khiêm đều thuộc dòng thiền Lâm Tế đời thứ 38.

Đến khoảng đầu thập niên 20 của thế kỉ XX, Hòa thượng Tịnh Nghĩa được tông phong tại Tổ đình Quan Âm (Hồng Ngự) cử ra đảo giữ mối đạo Cổ Sơn Môn. Hoà thượng Tịnh Nghĩa cho trùng tu Chùa lần đầu vào năm 1924 và đảm nhiệm Trụ trì đời thứ 7 của Chùa. Sư viên tịch ngày Rằm tháng Hai năm 1946 Bính Tuất, thọ 61 tuổi. Đồ chúng lập Tháp thờ Sư trong khuôn viên Chùa. Kế vị trụ trì là Hòa thượng Thích Huệ Chánh (thế danh Đinh Văn Dần). Năm 1960, Sư cho đại trùng tu các công trình Phật sự trong chùa với mái lợp ngói âm dương và tường gạch giúp cho Chùa thêm vững chắc và trang nghiêm, đồng thời cũng nhằm góp thêm cho đồ chúng được có nơi tu tập. Do niên cao lạp trưởng nên Hòa thượng Huệ Chánh đã thâu thần thị tịch vào mồng 2 tháng Mười Một năm 2007. Kế vị Trụ trì đời thứ 9 của Chùa là Yết ma Huệ Thông (Sư đã quy tây ngày 12/03/Ất Mùi 2015). Hiện nay, Tỳ kheo Huệ Minh được tấn cử đảm nhiệm quản lý và trông coi Phật sự của Chùa.

Kiến trúc Sùng Hưng tự

Khuôn viên chùa khá rộng, gồm các công trình kiến trúc, nhà thờ tổ, tòa chính điện… Các công trình Phật sự trong chùa được làm với mái lợp ngói âm dương và tường gạch từ năm 1924. Sùng Hưng cổ tự được xây dựng theo phong cách dân gian “trước miếu, sau chùa”.

Sùng Hưng Tự

Cổng chính của Sùng Hưng Tự nằm ở hướng Bắc, chùa có khuôn viên khá rộng lớn với các công trình kiến trúc khác nhau: nhà thờ tổ, gian thờ chính điện,… Các điện thờ Phật được xây dựng bằng tường gạch và lợp mái bằng ngói âm dương. Khoảng sân rộng được thiết kế ở ngay chính diện chùa, vườn tỳ ni cũng được tô điểm bằng nhiều loại cây cảnh với những hình dáng độc đáo và những bức tượng được đắp nổi theo phong cách Phật giáo quen thuộc. Giữa sân chùa là một hồ nước, phía trên có tượng thờ Quan thế Âm Bồ Tát lộ thiên, ngay phía sau tượng thờ là một cột cờ. Ngoài ra, bên trái là miếu thờ bà Chúa xứ Nương Nương, và phía đối diện là tượng thờ Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực.

Khu chính điện được trang hoàng bằng những câu đối được sơn son thếp vàng, nhưng không mất đi sự tôn nghiêm bởi hệ thống hoành phi, cùng với nhiều bức tượng bằng gỗ, thạch cao hay tượng đúc đồng được điêu khắc rất tỉ mỉ và tinh xảo. Điện trung tâm được thiết kế thành ba tầng thờ Tam Thế Phật, trong đó: tầng trên cùng ở chính giữa là tượng Phật A Di Đà; phải trái lần lượt là tượng Đại Thế Chí và tượng Quan Thế Âm. Hai gian cạnh chính điện thờ Thập Điện Diêm Vương và Ngũ Điện Diêm Vương.

Khu Hậu tổ và Hậu Liêu nằm ở phía sau chính điện, khu vực này khá mát mẻ bởi tán lá sum suê của những cây cổ thụ. Với kiến trúc độc đáo và nằm gần những công trình: Dinh Cậu, Dinh bà Thủy Long Thánh Mẫu,… đã tạo nên một cụm văn hóa tâm linh nổi tiếng tại Phú Quốc.

5/5 - (1 bình chọn)

Làng chài Rạch Vẹm – một trong những làng chài cổ lâu đời tại Phú Quốc

Rạch Vẹm là làng chài ven biển lâu đời của Phú Quốc, bên cạnh làng chài cổ Hàm Ninh và một số làng chài khác. Trong những năm gần đây, làng chài này đã trở thành điểm đến lý tưởng của du khách trong và ngoài nước khi đặt chân đến đảo ngọc Phú Quốc.

Một góc làng chài Rạch Vẹm

Làng chài Rạch Vẹm không nhộn nhịp, rộng lớn, nổi tiếng như làng chài Hàm Ninh (ở phía đông) nhưng đến đây chúng ta sẽ có những giây phút bình yên, thư giãn. Làng chài Rạch Vẹm có gần 200 hộ dân sinh sống với những ngôi nhà sàn san sát và nối tiếp nhau ven biển. Nghề chính của người dân nơi đây là đánh bắt hải sản, nhưng khi hoạt động du lịch ở Phú Quốc phát triển thì họ xây dựng những nhà bè và kinh doanh du lịch kết hợp, theo hướng “tự cấp – tự túc”. Họ bán những hải sản tươi sống đánh bắt được để phục vụ trực tiếp khách du lịch. Mặc dù vậy, người dân nơi đây rất thật thà và cởi mở, cuộc sống của họ cũng rất giản dị.

Khi đến Rạch Vẹm bạn sẽ thấy có rất nhiều nhà bè với nhiều lựa. Tuy nhiên nhà bè xa nhất là nhà bè Tình Yêu, nghe tên gọi chắc bạn cũng đã tưởng tượng được viễn cảnh tươi đẹp cho một ngày du lịch của mình rồi nhỉ, đây là nhà bè xa nhất nên nước rất trong và sạch, bạn sẽ mất khoảng 5 phút để đi trên chiếc cầu ván bắc ra bè, tuy nhiên bạn phải đi tiếp 5 phút nữa trên chiếc thuyền con để đến được nhà bè vì khá xa bờ…

Giữa mênh mông sóng nước, du khách được chính chủ nhà bè đưa đi tham quan quanh làng. Nhà bè được xây dựng ngoài biển cách bờ khoảng 200-400m. Nhà bè ở đây được làm trên nhiều cọc cây cắm sâu vào cát để làm nền kiên cố và sàn nhà được lót ván, bên trên che bằng lá và tôn, xung quanh được rào bằng cây và ván. Diện tích mỗi bè khoảng 25-30m2 khá kiên cố, thoáng mát và lúc nào cũng lộng gió. Đứng trên nhà bè chúng ta được hòa mình vào thiên nhiên và tận hưởng khung cảnh tuyệt vời với những cơn gió biển, ngắm nhìn bầu trời, nước biển trong xanh cùng những đàn cá bơi lội dưới nước. Khách đến nhà bè còn có thể lặn ngắm san hô, tắm biển, đi câu mực… tạo cho mình một cảm giác thoải mái sau những ngày làm việc mệt mỏi.

Rạch Vẹm còn được khách du lịch mệnh danh là “vương quốc sao biển” vì ở đây có rất nhiều sao biển. Loài vật này dường như có mặt ở khắp nơi, khi ẩn mình trong làn nước trong xanh, có khi lại nằm im lìm dọc theo bờ cát trắng. Du khách có thể tìm ra chúng khá dễ dàng. Như một món quà mà tạo hóa ưu ái ban tặng cho Phú Quốc, cảnh sắc ở Rạch Vẹm đẹp tựa tranh vẽ. Màu xanh hiền hòa của biển, của trời giúp ngôi làng bé nhỏ này càng thêm đẹp huyền ảo, lung linh. Những chiếc cầu gỗ nhỏ, mái nhà lá và những chiếc tàu đánh cá ngày đêm tấp nập ra khơi. Tất cả hòa quyện với nhau giúp khung cảnh nơi đây trở nên sống động và rất hài hòa. Tuy cuộc sống của người dân làng chài Rạch Vẹm còn nhiều khó khăn và có phần tách biệt với bên ngoài, nhưng không vì điều đó mà họ mất đi sự lạc quan, vui vẻ và tin tưởng vào ngày mai.

Những món hải sản đặc biệt tại Làng chài Rạch Vẹm Phú Quốc

Rạch Vẹm là một vùng có tiềm năng về du lịch, vì vậy nếu biết cách phát triển và khai thác để phục vụ du khách thì kinh tế – xã hội nơi đây sẽ tiếp tục có nhiều sự khởi sắc. Khi đảo ngọc Phú Quốc trở thành thành phố Du lịch biển đảo đầu tiên của cả nước thì chắc chắn cuộc sống của bà con làng chài Rạch Vẹm sẽ được phát triển nhanh và bền vững hơn.

5/5 - (4 bình chọn)

Chùa Hộ Quốc (Thiền viện Trúc Lâm Hộ Quốc) tại Phú Quốc

Thiền Viện Trúc Lâm – Chùa Hộ Quốc tọa lạc tại ấp Suối Lớn, xã Dương Tơ, huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Ngôi chùa cách sân bay quốc tế Phú Quốc khoảng 10 km, cách thị trấn Dương Đông khoảng 20km rất thuận tiện cho du khách đến tham quan, chiêm bái kết hợp cùng với thăm quan các điểm du lịch nổi tiếng khác.

Ý nghĩa tên Chùa Hộ Quốc: Hộ Quốc nghĩa là trấn giữ bờ cõi, hỗ trợ đất nước về việc biên ải

Để đi đến chùa Hộ Quốc các bạn đi theo đường bãi Sao – bãi biển mệnh danh là bãi tắm đẹp nhất Phú Quốc với dải cát trắng tinh mịn, làn nước trong xanh như ngọc; sau đó các bạn phải vượt những đoạn đường đèo dốc đi qua một cây cầu lớn qua suối, đến khu đất rộng, nhìn bên trái là khu dân cư mới, bên phải là con đường rẽ vào chùa.

Lịch sử Chùa Hộ Quốc

Ngày 14 tháng 10 năm 2011, Chùa bắt đầu được xây dựng trong dự án khu du lịch tâm linh với tổng diện tích của dự án là 110ha, chúa chiếm diện tích 12% trong tổng 110ha, được coi là một ngôi chùa lớn nhất tại Phú Quốc và lớn nhất Đồng Bằng Sông Cửu Long.

Ngày 14 tháng 12 năm 2012, sau 14 tháng miệt mài thì công chùa chính thức khánh thành, đoán phật tử và du khách đến tham quan lễ Phật. Sau khi xây dựng xong tổng mức chi phí xây dựng chùa là 80 tỉ và đường giao thông đến chùa 20 tỉ.

Năm 2013 -2014, chùa đang được xây dựng các hạng mục phụ nhằm giúp phong cảnh chùa thêm mỹ quan thu hút nhiều du khách.

Kiến trúc chùa Hộ Quốc

Mặc dù cùng thuộc hệ thống Thiền Viện Trúc Lâm, tuy nhiên về kiến trúc thì Chùa Hộ Quốc mang những nét khác biệt so với Trúc Lâm Yên Tử và Trúc Lâm Đà Lạt.

Chùa có vị trí rất đặc biệt lưng tựa núi, mặt hướng biển, được xây dựng theo lối kiến trúc thời nhà Lý và nhà Trần, bao gồm các hạng mục: Đại hùng bảo điện, nhà Tổ, tháp chuông và tháp trống. Ngôi chùa được dựng từ gỗ lim và đá nguyên thủy được chạm khắc rất tinh tế tuy nhiên cũng có hạn chế về mặt chiều cao.

Để vào được chùa, trước tiên bạn phải bước qua cổng Tam quan bao gồm ba cửa: cửa Đại Giác, cửa Bắt Nhị – bên trái và cửa Giải Thoát- bên phải. Qua Tam quan các bạn sẽ dừng chân ở một khoảng sân lớn, tại đây bạn chắc chắn sẽ choáng ngợp bởi sự rộng rãi, hùng vĩ của chùa.

Ngay tại khoảng sân chùa có để một bức tượng Phật nguyên khối ngọc màu cẩm thạch được tạc hết sức sinh động, có hồn cũng là điểm nhấn của chùa. Để vào được Chính Điện bạn phải bước hết 70 bật thang, hai dãy cầu thang tạo thành một đôi rồng đá được chạm khắc rất sinh động, ở giữa là bức tranh rồng phượng vừa uy nghi vừa nghệ thuật. Nếu đã đến thăm Thiền Viện Trúc Lâm Đà Lạt các bạn sẽ thấy Chính Điện chùa Hộ Quốc nét kiến trúc khá giống với Trúc Lâm Đà Lạt bao gồm Đại Hùng Bảo Điện được bố trí ở giữa hai bên là Bát Nhã Thành Tri và Phổ Hiền Hạnh Nguyên. Sau Chính Điện sẽ là nhà Tổ. Thăm quan Chính Điện bạn còn có thể phóng tầm mắt nhìn ra xa sẽ ngắm nhìn toàn cảnh bao la của biển trời Phú Quốc.

Hướng dẫn đi đến Chùa Hộ Quốc – Phú Quốc

Từ thị trấn Dương Đông các bạn đi theo hướng về nhà tù Phú Quốc, cách đường rẽ vào Bãi Sao khoảng 1km phía bên tay trái có một lối rẽ nhỏ, đó chính là đường lên chùa Hộ Quốc ( Ở phía bên kia của đường rẽ lên chùa là Khu dân cư Suối Lớn). Trên đường có bảng chỉ dẫn vào theo con đường bê tông rộng hơn 6m.

Xe bon bon vượt qua dốc núi, đường hơi quanh cong, ít xe qua lại đi khoảng 4km là đến với Chùa Hộ Quốc – Phú Quốc. Có 2 đường lên chùa là đi thẳng và rẻ trái. Đường rẻ trái lên sau lưng chùa, đây là được nội bộ (bạn không nên đi theo con đường này.)

Từ ngoài cổng bước vào trong chùa nhìn 2 bên đường vào là 18 vị la hán được khắc bằng đá, mỗi bên với 9 vị la Hán trông rất trang nghiêm. Tiếp đó hiện ra trước mắt bạn là 2 lối lên bằng cầu thang. Ở phía giữa là thảm trỗ khắc với các họa tiết rồng, hoa sen.

Chùa Hộ Quốc là một trong những nơi linh thiêng nhất tại Phú Quốc, người dân nơi đây đến chùa lễ bái vào các dịp lễ tết, hay chỉ cần đến để tìm một nơi bình yên cho tinh thần được thư giãn, thanh thản.

Vì nằm trên núi nên không khí tại chùa rất mát mẻ, trong lành cảnh vật vẫn còn giữ được nét hoang sơ hùng vĩ. Khung cảnh còn thêm phần nên thơ khi trước mặt chùa hướng ra biển Phú Quốc mênh mông. Đứng tại một góc nào nơi đây bạn đều có thể cảm nhận được tiếng sóng biển rì rào, gió thổi từ biển cả, từ những hàng cây xanh thẳm khiến tinh thần nhẹ nhàng, những muộn phiền sẽ theo gió mà bay đi hết. Vì vậy nên chùa Hộ Quốc mấy năm gần đây thu hút được rất nhiều du khách đến thăm bái và vãn cảnh, đặc biệt là vào dịp lễ Tết, các tăng ni, phật tử, du khách đến tham quan ngôi chùa này rất nhiều.

 

5/5 - (1 bình chọn)

Đến thăm Làng chài cổ Hàm Ninh Phú Quốc

Làng chài cổ Hàm Ninh được biết đến với làng chài mang chút hoang sơ nổi tiếng, cảng Bãi Vòng và bãi biển tuyệt đẹp nhưng lại rất yên bình. Làng chài Hàm Ninh nằm cách 20km so với thị trấn Dương Đông về phía Đông Bắc.

Đến với làng chài cổ Hàm Ninh (Phú Quốc, Kiên Giang), du khách sẽ được khám phá vẻ đẹp của ngôi làng chài cổ đã tồn tại hàng trăm năm, hòa mình với cuộc sống của những ngư dân chất phác và thưởng thức rất nhiều hải sản tươi ngon.

Làng chài Hàm Ninh Phú Quốc

Nằm trên bờ biển phía Đông “đảo ngọc” Phú Quốc, làng chài Hàm Ninh nép mình dưới chân núi Hàm Ninh và hướng mặt ra biển rộng bao la. Không ai biết ngôi làng này có tự bao giờ, chỉ biết rằng, khi đảo Phú Quốc còn hoang vắng, một số cư dân từ xa đến đây khai thác hải sản, rồi lập làng sinh sống. Khi cửa biển Dương Đông vang tiếng sóng thì Hàm Ninh là bến đậu ghe yên tĩnh và an toàn. Các ghe buồm, ghe bầu từ đất liền đến cập bến ở đây để lên hàng hoá rồi chở hải sản đi. Có lẽ, đó là bởi bờ biển đặc biệt quanh làng chài cổ, dù ra xa vài trăm thước nước vẫn rất nông. Khi nước ròng, bãi cát mênh mông chạy tít ra xa, lúc nước lên, tràn ngập bãi, vào tận mé rừng.

Ấn tượng đầu tiên khi mỗi du khách đến đây là được chiêm ngưỡng ngọn núi Hàm Ninh 300m cao ngất ngưởng với những lớp đá chồng đá, dựng đứng rêu phong tạo nên một vùng mây khói hòa giữa màu xanh của núi rừng và biển trời mênh mông Phú Quốc. Đứng trên bãi Hàm Ninh, trông ra có thể thấy rõ quần đảo Hải Tặc, chệch về Đông Nam, hòn Nghệ mờ mờ trên làn nước biển xanh biếc, phía Nam là mũi Ông Đội – mũi đất cuối cùng của đảo. Cuộc sống nơi đây gần như vẫn còn giữ được nguyên nét hoang sơ với nhà tranh vách tre tạm bợ. Trước đây, ngư dân nơi đây sống chủ yếu bằng nghề lặn tìm ngọc trai, bắt hải sâm và giăng lưới ghẹ, nay họ đã có thêm nguồn thu nhập từ việc buôn bán thực phẩm, đồ lưu niệm cho khách du lịch. Trải qua hàng trăm năm, những ngư dân hiền lành, chất phác nơi đây vẫn can trường bám biển. Cuộc sống dẫu còn lắm nỗi nhọc nhằn nhưng họ vẫn yêu thương và gắn bó với nơi này.

Ghẹ Hàm Ninh

Món được du khách yêu thích nhất là những con ghẹ vừa bắt lên đem luộc, màu đỏ tươi, thịt chắc nịt, chấm muối tiêu chanh. Nhiều người còn bảo, đến Hàm Ninh mà chưa thưởng thức ghẹ hấp thì chuyến đi coi như chưa trọn vẹn. Khi về, du khách có thể lựa mua những đặc sản của làng chài như hải mã sống ngâm rượu, hải mã chiên giòn, nấm tràm – loại nấm đặc sản chỉ có ở huyện đảo, quả dứa biển và trái mỏ quạ để ngâm rượu thuốc… làm quà cho gia đình, bạn bè.

Xem thêm: Đến Phú Quốc đừng quên ăn thử món ghẹ Hàm Ninh

5/5 - (1 bình chọn)

Chùa Sư Muôn – Hùng Long Tự điểm đến không thể bỏ qua tại Phú Quốc

Hùng Long Tự hay còn gọi là Chùa Sư Muôn tọa lạc tại tại thị trấn Dương Đông là một trong những điểm du lịch nhất định không thể bỏ qua khi đến du lịch Phú Quốc. Chùa có tên chữ Hán là Hùng Long Tự.

Chùa Sư Muôn được xây dựng năm 1932 bởi nhà sư Nguyễn Kim Muôn (1892-1946), hiệu là Giai Minh. Sư Muôn xuất thân là một nhân viên kế toán của ngân hàng Đông Dương, sau thời gian ngộ đạo đã đi tu và truyền đạo ở các nơi như đảo Thổ Chu, đảo Hòn Thơm, cuối cùng dừng chân ở Phú Quốc và chọn đỉnh núi Điện Tiên xây chùa Hùng Long. Tại Phú Quốc, ông được cư dân tín nhiệm và theo học rất đông. Trong thời gian chiến tranh, chùa bị bom đạn tàn phá.

Sư là người yêu nước nên có tham gia phong trào cách mạng và từng tổ chức nuôi chứa người yêu nước trong khu vực chùa. Và cũng chính vì thế mà năm 1946 khi Pháp đổ bộ lên Phú Quốc đã đốt rụi ngôi chùa, sư bị giam cầm… Năm 1946 trong lần về thăm chùa, sư Muôn có di ngôn: “Sau này ta chết, không có đám ma cũng không có mồ mả. Nếu đệ tử có nhớ, lấy ngày mồng 8 tháng 10 làm kỷ niệm”. Từ đó sư Muôn đi biệt tích… Về sau, một đệ tử của ông là sư Minh Út đã cho tu sửa lại chùa.

Từ cổng tam quan nằm ven con đường 2 làn xe Dương Đông – Hàm Minh, đi ngược lên triền núi với nhiều cây xanh nằm ven con đường uốn lượn khoảng 1km là đến chùa. Nhưng để lên đến ngôi chánh điện, du khách phải leo 60 bậc đá, số bậc vừa đủ để bước thoải mái, vừa ẩn chứa ý nghĩa thâm sâu của vòng quay đời người (lục thập hoa giáp).

Bên trong cũng bày trí hết sức đơn sơ nhưng không kém phần trang nghiêm

Chùa nằm trên triền núi, xung quanh cây cối xanh tốt, tạo cho du khách cảm giác thư thái. Trước chùa có tượng Quan Âm tọa trên tòa sen, hai bên là hai khối đá tự nhiên mang hình dáng “rồng chầu, hổ phục”. Từ đây nhìn xuôi triền núi theo hướng Tây Bắc là thảm cỏ tranh xanh mướt, những vườn tiêu thắng tắp vuông vức nổi lên giữa nền xanh đậm của vườn cổ thụ, những mái nhà ẩn hiện dưới bóng khói, bóng mây.

Sau chùa là núi có nhiều cây to cao vút. Nước từ khe cao chảy xuống chân chùa, chia làm nhiều ngách bao bọc quanh thềm, chảy vào sân sau; ngách khác len lỏi dưới rặng tre để xuống triền sim. Đến đây, du khách sẽ cảm nhận được sự bình lặng, tôn nghiêm nơi cửa Phật.

Chánh điện được xây dựng theo lối kiến trúc dân gian truyền thống. Chánh điện dựng trên nền đá cao 3m, bên trong bày trí đơn giản với tượng Phật tổ và các vị Bồ tát. Phía trước “Đại hùng bảo điện” là đôi rồng (long) ôm cột theo thế dũng mãnh, tượng trưng cho tên “chính quy” của ngôi chùa: “Hùng Long” (tiếng Hán là Hùng Long tự).

Tuy nhiên, phía sau chánh điện mới thực sự là thế giới để du khách khám phá. Nếu đi theo hướng bên trái, đầu tiên là giếng nước mang bên trong nhiều câu chuyện mang tính huyền thoại. Tuy chỉ sâu khoảng 2m và tọa lạc trên triền núi, nhưng quanh năm giếng luôn đầy nước xanh trong, không chỉ đáp ứng sinh hoạt trong chùa mà còn cung cấp cho xóm dân cư dưới chân núi.

Từ đây leo thêm 50m là đến cây kơ-nia khoảng 200 tuổi, dưới gốc to hơn vòng tay người lớn là tượng Phật Thích Ca ngồi tĩnh tâm với nụ cười hoan hỷ. Cách đó không xa về hướng Tây là bảo tháp của các vị tiền bối (ni) nằm giữa bạt ngàn sim xanh mướt.

Nếu theo hướng bên trái chánh điện, leo bậc đá khoảng 200m là ngôi chùa tổ do tổ khai sơn Thiền sư Giai Minh, tên thật là Nguyễn Kim Môn (1892 – 1946), được người đời gọi là sư Muôn, xây dựng vào năm 1930.

Do nhiều thăng trầm lịch sử, có lúc ngôi chùa bị đổi thành am. Mãi đến đời trụ trì thứ 4 Minh Úc, chùa mới được xây dựng lại và chính thức lấy lại tên Hùng Long. Nhưng đến đời trụ trì thứ 5, Hùng Long tự mới được đầu tư xây dựng khang trang như ngày nay. Tuy vậy, người dân địa phương vẫn quen gọi đây là chùa Sư Muôn, để tưởng nhớ đến vị sư khai sáng có lòng yêu nước nồng nàn…

Cao cao phía trái ngôi chánh điện là di tích chùa tổ. Do bom đạn chiến tranh, chùa tổ đã không còn. Giờ đây, ngay trên nền chùa cũ đã được xây dựng lại kiến trúc mới, nhưng du khách vẫn có thể dễ dàng cảm nhận được chuyện xưa. Bởi không xa đó là ngôi nhà tưởng niệm với bia đá ghi lại câu chuyện về vị tổ khai sơn: Thiền sư Gia Minh, cùng những bài kệ đầy tính thâm sâu của triết lý nhà Phật…

Xem thêm: Lễ hội Dinh Cậu Phú Quốc

5/5 - (2 bình chọn)

Hạ thủy 02 tàu cao tốc Phú Quốc Express 27 và 18

Trong 02 ngày 14 và 16/1/2021, Phú Quốc Express đã tổ chức Lễ hạ thủy 02 tàu khách cao tốc hai thân vỏ hợp kim nhôm mang tên PHÚ QUỐC EXPRESS 27 và PHÚ QUỐC EXPRESS 18.

Tàu có ký hiệu thiết kế 189-2975.K68; chiều dài 30.14m, chiều rộng 7.5m, tốc độ 30 hải lý/h, sức chở 230 người; được thiết kế đồng bộ, trang bị hiện đại, tiêu chuẩn đẳng cấp 5 sao, đáp ứng nhu cầu đưa đón khách trên các tuyến du lịch biển đảo Việt Nam (tương đương cấp hạn chế 2).

Hạ thủy 02 tàu cao tốc Phú Quốc Express 27 và Phú Quốc Express 18

Sau khi hạ thủy tàu tiếp tục được thi công hoàn thiện, thử nghiệm các tính năng và dự kiến sẽ đưa vào khai thác phục vụ hành khách trên tuyến biển đảo Phú Quốc trong tháng 2/2021.

Như vậy, trong năm 2021, hãng tàu cao tốc Phú Quốc Express sẽ bổ sung 03 con tàu cao tốc Phú Quốc Express 27, Phú Quốc Express 18, Thăng Long nâng đội tàu cao tốc hiện nay từ 8 tàu lên 11 con tàu, cụ thể: Phú Quốc Express 5, 6,7,8,9, Côn Đảo Express 36, Trưng Trắc, Trưng Nhị vươn mình trở thành hãng tàu cao tốc lớn nhất Việt Nam trong năm nay.

Xem thêm: Lễ đặt ky Tàu khách cao tốc Thăng Long 1017 khách

5/5 - (3 bình chọn)