Đôi nét nội dung khối tài liệu về Côn Đảo thuộc phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ (1861-1945)

Khu-Binh-Xa-Nha-tu-Con-Dao

Côn Đảo là một nhà tù đầu tiên, qui mô lớn nhất và nổi tiếng tàn bạo như “một địa ngục trần gian” của chế độ thực dân ở Đông Dương. Lịch sử nhà tù Côn Đảo từ khi được thực dân Pháp thành lập cho đến ngày hoàn toàn giải phóng (1861-1945) gắn với những trang sử tranh đấu oai hùng của nhiều thế hệ người Việt Nam yêu nước đấu tranh vì độc lập tự do của dân tộc Việt Nam.

Gần 400 hồ sơ, tài liệu liên quan đến quá trình hình thành và hoạt động của nhà tù Côn Đảo (1861-1945) hiện đang được bảo quản tại Trung tâm LTQGII, bao gồm các hồ sơ về tổ chức hành chánh; các báo cáo hoạt động hàng tháng của nhà tù; các phong trào đấu tranh của tù nhân; danh sách tù nhân bị giam giữ, vượt ngục, chết tại Côn Đảo; hay các hồ sơ cá nhân của tù nhân như: bản án, giấy chứng tử,… Đây là khối tài liệu thuộc phông Thống đốc Nam kỳ, đang rất được nhiều nhà nghiên cứu cũng như gia đình dòng họ của cựu tù Côn Đảo khai thác nhằm phục vụ nhu cầu nghiên cứu và làm hồ sơ chính sách.

Toàn bộ khối tài liệu về Côn Đảo được viết bằng tiếng Pháp trên giấy Pelure, đặc biệt quý hiếm và quan trọng vì được hình thành cách nay hơn 100 năm, phản ảnh được toàn bộ thực trạng đời sống cũng như hoạt động đấu tranh, giam giữ của tù chính trị ở Côn Đảo trong những năm kháng chiến chống Pháp.Để hiểu rõ thêm về tổ chức và hoạt động của nhà tù Côn Đảo thời Pháp thuộc, nằm trong phông Thống đốc Nam kỳ, hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, chúng tôi xin giới thiệu vài nét về nội dung và thành phần tài liệu có liên quan.

Năm 1861, sau khi chiếm được thành Gia Định, lo sợ quần đảo án ngữ vùng biển Đông Nam Việt Nam bị các nước thực dân khác dòm ngó như các thế kỷ trước, Bonard – Thuỷ sư Đô đốc Pháp, hạ lệnh cho thông báo hạm Norzagaray chiếm đóng Côn Đảo. Ngày 28-11-1861, tại đảo, Lespès Sebastien Nicolas Joachim – trung uý hải quân Pháp đọc “Tuyên cáo xâm lược”, chính thức đặt ách cai trị thực dân đối với Côn Đảo. Bản tuyên cáo này được bảo quản trong hồ sơ số 3494.GD, phông Thống đốc Nam kỳ, nội dung như sau:

“Hôm nay, thứ 5 ngày 28/11/1861, vào lúc 10h sáng

Tôi tên là Lespès, Sébastien Nicolas  Joanchim, Đô đốc chỉ huy trưởng chiến hạm Morzagaray, theo lệnh của chính phủ Pháp, nhân danh Hoàng đế Napoléon III,  tiến hành đánh chiếm Côn Đảo…

Việc đánh chiếm này diễn ra trước sự chứng kiến của các sĩ quan tàu Morzagaray.

Biên bản được lập cùng ngày tại vùng Tây – Nam Côn Đảo.

Ký tên: J.Lespès”

Nhưng không tổ chức khai thác thuộc địa như các vùng đất khác, cho rằng, Côn Đảo là nơi đất đai cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt, dân thường khó có thể mưu sinh, thực dân Pháp đã chọn nơi đây cho mục đích duy nhất là làm nơi lưu đày tù nhân. Ngày 1-2-1862, Bonard – đại diện cho chính quyền thực dân Pháp ở Nam kỳ, ký quyết định thành lập nhà tù Côn Đảo – quyết định mở đầu của hơn một thế kỷ bi tráng trong lịch sử phát triển của đảo.

Về quản lý hành chính, trong hai thập niên đầu, thực dân Pháp giữ Côn Đảo trực thuộc sự quản hạt của tỉnh Vĩnh Long như dưới thời kỳ nhà Nguyễn. Đến ngày 16-5-1882, Tổng thống Pháp Jules Grévy ký sắc lệnh xác lập quần đảo Côn Lôn (Côn Đảo) là một quận của Nam kỳ. Mặc dù thiết lập Côn Đảo về mặt hành chính là một đơn vị cấp quận. Nhưng ngay từ ngày đầu xâm lược với mục đính duy nhất là duy trì nơi đây thành một nhà tù khổng lồ lưu đày những người Việt Nam yêu nước, chính quyền thực dân áp dụng chính sách ngăn cấm mọi hoạt động sinh sống của cư dân.

Chính sách này sau đó được chính quyền thực dân trắng trợn pháp lý hóa bằng một nghị định. Ngày 17-5-1916, Toàn quyền Đông Dương ban hành nghị định thiết lập nội quy của nhà tù Côn Đảo, trong đó quy định về việc nhà tù Côn Đảo có quyền quản lý và sử dụng mọi tài sản ở Côn Đảo. Đồng thời cấm tất cả người dân, kể cả người Âu đến sinh sống tại đây. Giám đốc nhà tù Côn Đảo có mọi quyền hành đối với đảo, vừa là người điều hành mọi hoạt động của nhà lao, quản lý về cả mặt hành chánh, cảnh sát (bao gồm cả hải cảnh) và tư pháp. Cùng với sự tàn bạo của chế độ tù đày, giám đốc nhà tù Côn Đảo còn được biết đến với danh xưng là “chúa đảo”.

Về lĩnh vực tổ chức điều hành: Nội dung tài liệu chủ yếu liên quan đến xây dựng, cải tổ, mở rộng các khu vực nhà lao, cụ thể như trong bản báo cáo về hoạt động của nhà tù Côn Đảo năm 1938 tại Hs số IIB53/192(3) phông Thống đốc Nam kỳ đã nêu:

“Nhà  lao Côn Đảo bao gồm các ngục I, II, III và một số đội lao động  bên ngoài như:

          Sở lưới, Sở chuồng bò, nhà máy điện, Sở lò gạch, Sở vườn tiêu, Sở củi, trại tù phát lưu và Sở muối, nông trại Cỏ Ống, vịnh Tây – Nam và các trạm gác, Sở ruộng, Sở An Hải, Ong Hội, đảo Hòn Cau, Sở làm đường, hòn đá trắng, đội tìm kiếm vượt ngục.

          Các đội lao động trong các trại và đội xây dựng ngủ trong ngục.

          Tù nhân được phân loại và phân chia thành từng đội để làm những công việc phù hợp và giúp phát triển nhà lao.

          NGỤC I: ngục I là ngục chính có kho chứa vũ khí, phòng Đội trưởng, kho lương thực. Tổng số tù nhân bị giam ở đây khoảng từ 600 đến 700 tên…, gồm 10 phòng giam không kể ở hầm xay lúa, hầm giam, nhà bếp.

Vào lúc điểm danh, tù nhân được sắp xếp theo từng loại và từng phòng giam để phân vào đội lao động.

          Tù giam ở ngục I gồm các loại: tù khổ sai có thời hạn và vĩnh viễn, tù cấm cố, tù phát lưu bị phạt nhốt giam, tù bị phạt nhốt hầm, tù nhốt hầm đặc biệt. Các đội lao động: các xưởng; các trại lao dịch; đội vệ sinh; các sở rẫy; lò vôi; nhà máy điện; hầm xay lúa; nhà bếp; phòng giam số 6 “tù bán chính trị”, tù nguy hiểm không được phép ra ngoài….

          NGỤC II: Tổng số tù nhân trong ngục này là 110 tên tù chính trị. Bọn chúng không bao giờ đi ra khỏi khoảng sân rộng trong đó. Chúng nuôi gia cầm, trồng rau để cải thiện bữa ăn hàng ngày.

          NGỤC III: Ngục này nằm hơi xa thị trấn, dùng để giam tù cấm cố. Tù nhốt hầm ở đây khoảng 90, hay 100 tên…. Đội thợ xây, các đội làm vườn, làm bếp, tù nhân bị bệnh, đang điều trị là 80 tên. Ngoài ra, còn có phòng an ninh, nơi giam các thành phần “kích động và nguy hiểm” cho việc giữ gìn trật tự và kỷ luật. Phòng giam này được thành lập vào tháng 6/1938.

          Các đội lao động bên ngoài được thành lập:

Sở lưới: bao gồm 50 người, có nhiệm vụ hàng ngày đi đánh cá. Chúng được trang bị thuyền, tàu và phải đảm bảo các hoạt động đánh bắt ở cửa biển, cũng như đời sống hàng ngày trong tù.

Chuồng bò: Đây là đội lao động bên ngoài hùng hậu nhất gồm: 230 đến 250 tù nhân. Lò gạch, Sở tiêu, khai thác gỗ trên rừng thường gắn chung với Chuồng bò. Khoảng 90 tên khai thác gỗ cung cấp toàn bộ củi dùng cho nhà lao, cho lò vôi, làm than củi, làm gạch. Một khu vườn rộng cung cấp rau xanh cho nhà lao. Ngoài ra còn có một chuồng mới được xây dựng có thể chứa được 36 con.

Các xưởng: gồm 150 lao động tù nhân, đủ mọi ngành nghề: thợ mộc, thợ cưa, đóng xe, thợ máy, thợ rèn, thợ khóa…, việc chế tạo và sửa chữa các loại vật dụng bằng gỗ và sắt được giao cho các xưởng này. Tàu, thuyền, bè ở Côn Đảo, và những vật liệu bánh lăn có đường kính 60cm, đều được sản xuất tại đây.

Nhà máy điện, nhà máy nước đá và phòng lạnh: có một đội ngũ nhân công tù nhân là 20 người.

Sở Xây dựng: Hơn 100 tù nhân tham gia vào đội xây dựng. Tất cả các công trình xây dựng mới, sửa chữa lều trại đều do nhân công tù nhân làm.

Sở gạch: Sở này cung cấp các loại gạch, ngói, gạch lát cho đội thợ xây (60.000 tấm), cho Sở vôi (40.000 tấm) dùng để nung. Mỗi năm Sở gạch sản xuất từ 3-400.000 tấm.

Sở tiêu và sở củi: gồm 90 nhân công: 60 làm công việc chặt củi; 30 làm công việc trồng tiêu.

Trại tù phát lưu và Sở muối: tất cả tù phát lưu tập trung ở trại này, Chúng làm việc trong các Sở rẫy, ruộng muối, hầm đá, và ở hòn đá trắng.

Trại Cỏ Ống: Có 80 tù nhân làm việc ở đây, họ chủ yếu trồng lúa và làm vườn.

Vịnh Tây Nam và đồn canh gác: Đội canh gác vịnh này được thành lập,  gồm 20 tù nhân cho Vịnh Tây Nam và 10 tù nhân làm việc ở đồn canh gác… Những tên này thỉnh thoảng đi làm vườn và đánh bắt rùa vào mùa mưa.

Sở ruộng: Đội nhân công tù nhân này có nhiệm vụ trồng lúa ở thị trấn.

Sở rẫy của tù nhân, Sở An Hải, Ông Hội: Các Sở này được trồng rau củ của Pháp, theo mùa. Đến mùa mưa, nhân công tù nhân ở đây sẽ trồng các giống rau củ của người Việt. Tù phát lưu làm việc ở Sở An Hải và Ông Hội. Sở rẫy của tù nhân là nơi làm việc của đội nhân công tù nhân ở ngục III.

Sở làm đường, đèo: 120 nhân công tù nhân người Cao Miên chịu trách nhiệm tuyến đường mòn này, nối trung tâm thị trấn đến vịnh Tây Nam, và nếu có thể , sẽ tiếp tục chạy dài đến trại Cỏ Ống. Tuyến đường giao thông này đã được thực hiện từ nhiều năm rồi. Nó giúp cho việc theo dõi một cách hiệu quả các vụ vượt ngục ở Côn Đảo.

Đồn điền Đá Trắng: Một đội 20 tù nhân được đưa đến đây đề trồng chuối.

Đảo Hòn Cau: 20 hoặc 25 tù sắp mãn hạn được đưa đến đảo này để làm vườn và đánh bắt rùa vào mùa mưa.

Sở tìm kiếm vượt ngục: giống như tên gọi của mình, đội này có nhiệm vụ truy lùng và bắt lại các tên vượt ngục. Đội này bao gồm từ 10-15 tên tù, có phẩm chất tốt và can đảm”.

Hoặc như trong báo cáo ngày 30/10/1942 tại hồ sơ số G8/94 phông Thống đốc Nam kỳ, Giám đốc Khám lớn Sài Gòn đã đưa ra một số ý kiến cải tổ nhà tù Côn Đảo để tránh vượt ngục

 “…Cũng như các nhà tù khác, tôi cũng nhận thấy kỷ luật nơi đây hơi lỏng lẻo, và nguyên nhân không phải hoàn toàn do không đủ nhân sự quản lý, mà sự yếu kém chung này xuất phát từ những nhân viên cai ngục đến từ Khám lớn Sài Gòn.

Trang phục của cai ngục người Pháp và cả người Đông Dương rất luộm thuộm. Cai ngục người Pháp không đội nón theo đúng quy định, viện cớ là trời nóng, không mang súng mẫu 92, kêu là quá nặng, và thay bằng súng lục nhỏ hơn, kích cỡ 6;35.

Ngoài ra, viện cớ là 3 tháng nay không có liên lạc với Nam kỳ, nên các cai ngục không đủ quần áo kaki để mặc, họ chỉ mặc trang phục bằng vải toan màu xanh trong lúc làm nhiệm vụ. Từ thái độ làm việc sai quy tắc này đã dẫn đến một kết quả công việc không tốt. Cuối cùng, là việc thiếu các huân chương, huy hiệu lấp lánh phải đeo theo đúng quy định: một cai ngục khai rằng, họ đã chờ đợi các huy hiệu này từ  Sài Gòn đã 7 tháng nay rồi.

Người Chỉ huy ở đây có quyền bắt buộc các cai ngục phải ăn mặc đúng quy định, bởi vì tất cả nhân viên người Pháp đều nhận được tiền trợ cấp trang phục.

Tôi nhận thấy rằng, Giám đốc nhà lao phải đưa ra mức kỷ luật và các huấn thị nghiêm khắc đối với vấn đề này.

Riêng về nhân viên Sở ngục người Đông Dương, họ còn bi thảm hơn: trang phục lôi thôi, xộc xệch, giày đi kêu lộp cộp, được trang bị súng nhưng phần lớn là không biết sử dụng.

Các cai ngục luôn luôn đứng riêng lẻ. Trong thời gian lục soát phạm nhân, các cai ngục thường không tập trung: Nếu để súng rơi xuống vai, thường là các phạm nhân sẽ là người dựng lên cho họ, với một thái độ vờ như kính trọng vị chỉ huy: thật là ngạc  nhiên khi đến giờ vẫn chưa thấy phạm nhân nào tước vũ khí và chiếm quân dụng của cai ngục, khi họ chỉ có 1 mình đứng trong đám đông toàn tù nhân.

Các phòng giam không được chắc chắc. Cần phải hủy bỏ:

  1. Tất cả các khung cửa sắt trong mỗi phòng giam, vì nó rất thuận tiện cho phạm nhân trèo lên mái nhà. Nên thay các khung cửa sắt này bằng cách khóa 2 lớp cửa phòng giam.
  2. Hố xí bằng kim loại, được quấn tròn bằng sợi dây sắt”: cần phải thay bằng gỗ, với các cột bằng mây.
  3. Các chìa khóa bình thường: cần phải thay bằng các khóa hiệu “Yale” và nhất là phải để chìa khóa bên ngoài phòng giam, ngoài tầm với của phạm nhân.
  4. Các phòng làm việc đối diện với cửa phòng giam, vì các phòng này có thể quan sát được qua lỗ cửa phòng giam. Cần phải thay đổi việc này vì sự cần thiết của công việc canh gác.
  5. Ở mỗi cửa phòng giam, đều có các lỗ cửa nhỏ. Các cai ngục và giám thị nếu đặt một mắt quan sát phạm nhân qua lỗ cửa nhỏ này, sẽ có nguy cơ bị phạm nhân làm cho bị thương, thậm chí có thể gây chột mắt với chỉ một cộng rơm cứng…”.

Cùng với tổ chức điều hành, chính quyền Pháp cũng ban hành nhiều văn bản hành chánh, đề ra các quy định cụ thể về chế độ giam giữ, phân loại tù nhân tại nhà tù Côn Đảo. Theo đó, nhà tù Côn Đảo không chỉ là nơi giam giữ tù nhân chịu án lâu năm, mà đôi  khi còn dành cho những tù nhân có mức án dưới 2 năm với mọi loại án.

Theo như trong báo cáo của Thanh tra Thuộc địa năm 1935-1936, hồ sơ số III6/N04(2), phông Thống đốc Nam kỳ, chính quyền Pháp đã ban hành một số văn bản quy định các loại án cho tù nhân tại nhà tù Côn Đảo như sau:

“Án lưu đày, được thực hiện theo nghị định ngày 11-01-1915. Những tù nhân án lưu đày chủ yếu bị giam tại ngục 1 và ngục 2 – nơi được xem là những ngục kiên cố nhất Côn Đảo.

Án câu lưu được xử theo điều 20 luật hình sự và được sửa đổi bởi Sắc lệnh ngày 31-12-1912 của chính quyền thực dân Pháp.

An cấm cố, theo nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 19-01-1893, tù cầm cố và tù câu lưu phải được giam riêng. Nhưng do chưa xây đủ nhà giam nên trong giai đoạn đầu 2 loại tù này bị giam chung với tù lưu đày. Sau này, giám đốc nhà tù Côn Đảo cho xây thêm ngục số 3 để giam giữ tù cầm cố.

Án khổ sai cùng chịu các chế độ tù đày như các tù nhân khác, nhưng được thành 3 loại với công việc và tiền công lao động khác nhau.

Án nhốt  hầm dành cho những tù nhân vi phạm kỷ luật trong thời gian thụ án.

Án phát lưu, đây là loại án nhẹ, tù nhân được nhốt ở 2 trại phía ngoài, nơi thích hợp cho công việc đồng áng. Số còn lại được sử dụng làm vườn, làm công việc vệ sinh hay làm việc trong các xưởng…”.

Ngoài ra, qua khối tài liệu về Côn Đảo này, người đọc có thể tìm hiểu được nội quy sinh hoạt của tù nhân, các quy định về khẩu phần ăn hàng ngày, số lượng tù nhân bị giam giữ tại đây… cũng như các phong trào đấu tranh của các tù nhân chính trị trong các hs số II 53/182(3) và G80/46, GIIA45/291(2) IIA45/223(4), IIA45/263(6), IIA45/304(3), 5048, 5046, 5081… phông Thống đốc Nam kỳ. Trong Công văn ngày 31/12/1941, hồ sơ số IIA45/223(4) phông Thống đốc Nam kỳ, Giám đốc nhà tù Côn Đảo đã báo cáo về hoạt động đấu tranh của tù chính trị:

“Chúng ta cũng biết rằng người Nhật đến Đông Dương đã gây nên sự náo động trong các ngục. Tù nhân vốn không được thông tin về diễn biến chính trị và tình hình thế giới, bị tước hầu như tất cả các thông tin dù là những thay đổi nhỏ nhất về cuộc sống trên đảo. Nhưng từ khi người Nhật đến, một số tên tù chính trị lợi dụng việc này để tuyên truyền trong nhà tù

Để sự việc không vượt quá giới hạn, tôi đã yêu cầu lính canh không để sự việc diễn ra nữa và báo lại cho tôi biết ngay để trừng trị nghiêm khắc, tôi xin được trình cho Ngài những sự việc sau đây:

1/ Từ lâu tôi đã biết rằng, các tù nhân bị kết án 5 năm vì can tội âm mưu lật đổ chính quyền, đã tổ chức một số phiên họp bí mật bên trong các phòng giam ở Banh số 3. Tôi đã yêu cầu lính canh đặc biệt giám sát họ. Và ngày 23 tháng 11, ông Bonifay, làm việc ở Banh số 3, đã biết được nội dung phiên họp mà tên tù trong phòng giam đó tổ chức, cuộc thảo luận rất sôi nổi, nội dung phiên họp đã được dịch lại nhờ người giám ngục số 38, như : lý do tham gia Đảng Cộng Sản, phản ứng của tù nhân chống lại cai ngục Pháp… Tên tù đã tổ chức phiên họp này chính là tên phản trắc Nguyen Van Khue, số tù 9693, bị Tòa án quân sự Sài gòn kết án tù chung thân khổ sai vì can tội phản quốc. Phòng giam của hắn ở cạnh những phòng giam giữ các tù nhân bị kết án âm mưu lật đổ chính quyền. Chính từ đó mà các phiên họp trong các phòng giam đã được lan rộng khắp ở Banh số 3. Ngay tức khắc, hắn đã bị nhốt vào xà lim trong 60 ngày và cả phòng đó bị nhận hình phạt đeo hòn sắt trong 10 ngày.

2/ Sau khi người Nhật đến Đông Dương, ngày 15 tháng 12, cai ngục Belcome làm việc ở Banh số 3, đã nghe được tên tù ở phòng giam số 4, đang nói chuyện với đồng bọn của hắn. Cai ngục này đã được người giám ngục số 63 dịch lại nội dung buổi thảo luận đó, liên quan đến mối quan hệ giữa hai nước Pháp – Nhật, rằng: theo thỏa thuận giữa hai nước trên thì chế độ lao ngục rất tàn nhẫn. Tên tù diễn thuyết đó đã bị các bạn tù của hắn tố giác, hắn là Huynh Van Tam số tù 210, bị kết án 5 năm tù vì tội âm mưu lật đổ. Ngay lập tức hắn bị giam 60 ngày trong xà lim cách ly

3/ Vào buổi tối ngày 16, cai ngục tình cờ nghe được âm mưu phá hoại của các tên tù tại các phòng giam số  6 và 7 ở Banh số 3. Cai ngục Mr Manfredi đã nhờ người giám ngục dịch lại nội dung phiên họp. Phiên họp rất sôi động. Những tên tù diễn thuyết này là tên Huynh Van Thuong, số tù 211, vốn được biết đến với tài ngâm thơ để mua vui cho đồng bọn và tên tù Huynh Văn Kien, số tù 1200, được biết đến với việc hát nhạc quốc tế. Các tên này bị kết án tù giam: Tên thứ nhất bị kêu án 5 năm, tên thứ 2 là 2 năm.

Mặt khác tôi xin báo rằng tên tù Nguyen Van Tao, số tù 9902, đang ở trạm quân y. Nhờ vào thông tin giữa các tên tù bị giam trong phòng giam và tên cầm đầu đang ở trạm quân y, tôi đã dám chắc rằng, tên cầm đầu này, bằng cách này cách kia, đã thành công trong việc báo tin cho các tên bạn tù của mình.

Tôi đã sớm cho 3 tên tù vào xà lim cách ly trong 60 ngày và đeo cùm sắt cho những tên tù khác ở các phòng giam này trong vòng 1 tháng.

Sáng ngày 18, tôi đã đến các phòng giam này để xử phạt chúng, nhằm cho chúng biết rằng, sẽ có những hình phạt thích đáng dành cho chúng nếu chúng lập lại các hành động như trên, và đồng thời giải thích cho chúng biết về sự hiện diện của người Nhật trên đảo.

Khi tôi vừa mới rời khỏi phòng giam, thì tên Phan Dinh Cac, số tù 1093, bị kết án 2 năm ở nhà tù, vì tội đe dọa an ninh Nhà nước, đã yêu cầu được nói chuyện với tôi. Cai ngục trưởng đã dẫn hắn vào phòng tôi và hắn đã khai với tôi ( lời khai đính kèm ) rằng, bọn tuyên truyền không chịu hối cải mà vẫn đang tiếp tục tuyên truyền trong nhà tù

Tôi đã đưa hắn vào giam ở một Banh khác , trong khi chờ đợi thời gian đưa hắn đến Hòn Cau.

Duong Bach Mai và Le Hong Phong ngay lập tức được đưa đến xà lim cách ly trong 60 ngày và các tên còn lại này ở tất cả các phòng giam sẽ chịu hình phạt đeo hòn sắt trong 10 ngày và bị xiềng xích cho đến khi có lệnh mới. Để an ninh hơn, tôi đã đưa chúng vào các phòng giam của Banh số 2, vì các phòng giam này cao hơn và an ninh hơn.

Tôi đến các phòng giam tiếp theo và đưa ra hình phạt, tôi đã hỏi liệu có tên tù nào khác có muốn khai gì với tôi không, nếu không muốn bị phạt. Nguyen An Ninh, số tù 9901 và Pham Van Kinh, số tù 960 đã đến trình diện. Lúc đầu thì bọn họ luôn luôn che giấu, rồi tỏ vẻ không biết gì đến cộng sản và khai với tôi là cũng không liên quan gì đến âm mưu của các phòng giam khác. Và cuối cùng, sau một lúc ngập ngừng, tên tù  960 đã khai nhận với tôi …”

Nhìn chung, đây là một khối tài liệu rất quan trọng, có giá trị về mặt lịch sử rất lớn. Nó phản ánh đầy đủ và chân thật chính sách cai trị, đàn áp người Việt của chính quyền thực dân, từ những ngày đầu xây dựng, thành lập nhà tù cho đến năm 1945. Vì vậy, từ một quần đảo kỳ vĩ, giàu tiềm năng, Côn Đảo chìm trong gần một thế kỷ của một “địa ngục trần gian”, trở thành chứng tích của những ngày tháng bị đọa đày trong lao ngục thực dân, đế quốc của biết bao thế hệ những người Việt Nam yêu nước.

Trần Thị Thùy Linh

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Procès verbal de prise de possession de l’archipel de Poulo Condore. 1861. Hs số G.Divers. 3494 phông Thống Đốc Nam kỳ, Trung tâm Lưu trữ quốc gia II
  2. Rapport de l’ Insptecteur de 2e classe des Colonies en 1935-1936. HS số III60/N04(2) phông Thống đốc Nam kỳ, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
  3. Rapport en 1938. HS số IIB53/192(3) phông Thống đốc Nam kỳ, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
  4. Rapport sur la reconstruction de Poulo Condore en 1942. HS số G8/94 phông Thống đốc Nam kỳ, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.
  5. Note du 31/12/1941 du Directeur du pénitencier de Poulo Condore au Gouverneur de la Cochinchine. HS số IIA45/223(4) phông Thống đốc Nam kỳ, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.

Trại Phú Hải, nơi trui rèn ý chí Cách mạng

Di tích Trại Phú Hải

Trại Phú Hải là một trong những nhà tù thuộc hệ thống biệt giam do Pháp lập nên. Từ thời Pháp đến Mỹ – Ngụy, nơi đây từng giam cầm nhiều cán bộ lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Do vậy, trại Phú Hải được xem là cái nôi trui rèn, trưởng thành về lí luận chính trị, văn hóa cho nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta.

TRẠI TÙ CỔ NHẤT

Trại Phú Hải nằm ở trung tâm thị trấn Côn Đảo, trên đường Lê Văn Việt, cách bờ biển 50m. Đây là trại giam cổ nhất, được Pháp lập từ năm 1862 và xây dựng kiên cố từ năm 1889 đến năm 1896 thì hoàn chỉnh. Thời Pháp trại có tên là Bange 1. Sau đó được đổi thành Lao 2, trại 2 và trại Phú Hải sau Hiệp định Paris năm 1973. Trại rộng hơn 12.000m² với 10 phòng giam tập thể, trong đó có 1 phòng tử hình, 20 hầm đá biệt giam, 2 hầm xay lúa đồng thời là phòng trừng giới và 1 khu đập đá. Trong khuôn viên trại có đầy đủ các công trình phục vụ đời sống tinh thần cho tù nhân như: câu lạc bộ, nhà bếp, nhà ăn, nhà hớt tóc, giếng nước, nhà kho, văn phòng, giảng đường, bệnh xá, nhà thờ. Tuy nhiên, tất cả đều được dựng lên để đối phó với các đoàn giám sát về nhân quyền của quốc tế và đánh lừa dư luận.

Trại Phú Hải, nơi trui rèn ý chí Cách mạng

Trại Phú Hải giam giữ chủ yếu tù chính trị. Thời kháng chiến chống Pháp, dãy khám bên trái (6 – 7 – 8 – 9 – 10) được sử dụng làm khu biệt lập từ tháng 3/1951 để giam giữ các “phần tử nguy hiểm”. Khu vực này trở thành cơ quan lãnh đạo của liên đoàn tù nhân và đảo ủy từ năm 1951 đến năm 1952. Theo quy chế, tù chính trị không phải lao động khổ sai. Bên cạnh đó, với ưu thế nằm kề trại Phú Thọ, cũng là nơi giam giữ tù chính trị, các chiến sĩ cộng sản đã liên hệ và phối hợp mật thiết trong sinh hoạt và đấu tranh. Nhờ đó, những người cộng sản đã sớm tổ chức việc học tập lý luận và văn hóa một cách bài bản, cho các đối tượng có trình độ khác nhau, từ “Cộng Sản sơ giản” đến sơ cấp, trung cấp và cao cấp về lý luận Mác – Lênin. Nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta đã trưởng thành về lý luận tại các lớp học ở đây. Tù chính trị bị giam cầm tại đây đã tổ chức nhiều cuộc đấu tranh từ thấp đến cao, từ chống ký kiến nghị phản động, đến chống chào cờ và chống toàn bộ nội quy nhà tù.

DẤU ẤN NHỮNG NGƯỜI TÙ LỮNG LẪY

Qua các giai đoạn, nhiều sĩ phu yêu nước như: Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh… cho đến những nhà cách mạng nổi tiếng như: Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Tổng Bí thư Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Nguyễn An Ninh… từng bị giam giữ nơi đây. Đến thăm Trại Phú Hải hôm nay, khí phách quật cường của các chí sĩ yêu nước cách mạng vẫn còn mãi vang vọng.

Khu đập đá khổ sai, nơi chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh cảm tác nên bài “Đập đá Côn Lôn”: Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn/Lừng lẫy làm cho lở núi non…/Những kẻ vá trời khi lỡ bước/Gian nan chi kể sự con con.

Nếu khu đập đá khổ sai in khí phách hiên ngang giữa gông cùm lao tù thì hầm xay lúa rạng danh tên tuổi người chiến sĩ cách mạng kiên trung – Tôn Đức Thắng. Để đày đọa người tù, thực dân Pháp bắt lao động khổ sai trong hầm xay lúa nhưng hầm được xây kín. Đa phần tù nhân lao động trong hầm đều chết vì các bệnh liên quan đến đường hô hấp hoặc bị đánh đập do không hoàn thành phần việc. Biết đồng chí Tôn Đức Thắng là một thợ sửa máy lành nghề, chúng đưa đến làm việc tại Sở Lưới chuyên sửa canô. Năm 1945, chiếc canô do bác Tôn sửa mang tên Giải Phóng được chính Bác cầm lái đưa một số đồng chí trong Ban lãnh đạo cách mạng trở về đất liền.

Bài Đập đá Côn Lôn tại Nhà tù Phú Hải

Hay câu chuyện vượt ngục ngay tại phòng giam số 3 cũng để lại tiếng vang lớn, đánh dấu cuộc vượt ngục đầu tiên trong lịch sử nhà tù Côn Đảo. Phòng giam số 3 là phòng giam tù tử hình được canh gác nghiêm ngặt. Để thực hiện vượt ngục, đồng chí Lê Văn Việt, Trung đội trưởng 5F100 biệt động Sài Gòn – Gia Định cùng 2 bạn tử tù là đồng chí Lê Hồng Tư và Phạm Văn Dẫu gồng gánh nhau lên trổ mái nhà, quan sát hành động của cai ngục. Biết mỗi ngày có từ 5 đến 10 phút không có người canh gác do cai ngục đổi ca, các đồng chí đã tranh thủ chớp lấy thời cơ này để vượt ngục vào đêm 12/10/1966. Vượt ngục thành công, các đồng chí tìm nơi ẩn náu chờ lúc thuận tiện để về đất liền tiếp tục hoạt động cách mạng. Tuy nhiên, trong quá trình ẩn nấp, 3 đồng chí lần lượt bị địch phát hiện bắt lại đánh đập, tra tấn dã man rồi hi sinh. Sau cuộc vượt ngục này, bọn cai tù phải cho giăng dây thép gai tất cả phòng giam tại Trại Phú Hải.

Bài, ảnh: ĐAN CHÂU
Báo Bà Rịa – Vũng Tàu

Di tích trại Phú Sơn – Banh II

Trại Phú Sơn

Di tích trại Phú Sơn còn được biết đến qua các tên gọi khác, như Banh 2, Lao 2, Trại Nhân Vị, Trại 3. Banh II, do thực dân Pháp xây dựng năm 1908 hoàn thành năm 1916. Sang thời Mỹ ngụy đổi tên là lao 2, trại Nhân Vị, Sau đó gọi là trại 3.

Sau hiệp định Paris năm 1973 gọi là trại Phú Sơn. Diện tích 13.228m2 gồm 13 phòng giam lớn và 14 xà lim. Ngòai ra còn có các công trình phụ như: Phòng y tế, nhà ăn, nhà bếp, câu lạc bộ, phòng hớt tóc, văn phòng giám thị và sân vườn…

Một bốt gác cạnh trại Phú Sơn

Banh II xây dựng đồ sộ và kiên cố hơn, có lối đi bên trên để trật tự cai ngục đi kiểm tra người tù. Một lần vào đêm khuya tù nhân đã tìm cách vật tên cai ngục xuống chết tại chỗ, từ đó địch khiếp sợ không sử dụng lối đi này nữa.

Trái với yêu cầu cấp bách của Banh I là phải đấu tranh chống chế độ khổ sai giết tù thì yêu cầu cấp bách của Banh II là đòan kết các xu hướng chính trị, đấu tranh đòi cải thiện đời sống, thực hiện chế độ tù chính trị, bảo vệ sinh mạng cán bộ. Nơi đây, các đồng chí đã tổ chức học tập văn hóa, lý luận, đào tạo và rèn luyện cán bộ, nhiều đồng chí cán bộ cốt cán của Đảng và Nhà nước ta đã trưởng thành như: đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Hòang Quốc Việt, Lê Thanh Nghị, Hà Huy Giáp…

Khu xà lim cũng được bố trí tinh vi hơn, nằm khuất sau bức tường dày, nếu không quan sát kỹ thì khó phát hiện được. Tù nhân bị cấm cố ở đây bị ghẻ lở đầy người, mỏi mòn đi vì thiếu ánh sáng, khí trời và dinh dưỡng. Thêm vào đó là chế độ ăn uống tồi tệ, nhiều người bị kiết lỵ nặng rồi chết. Khu xà lim mà Thực dân Pháp còn gọi là “Vườn ươm cây cộng sản”, vì nhiều đảng phái khác đã bị đưa ra và giam chung với tù chính trị để gây mâu thuẫn, nhưng với tài cảm hóa của Đảng cộng sản Việt Nam, cuối cùng họ đã trở thành cộng sản. Nơi đây đã từng giam giữ, cấm cố đồng chí Lê Hồng Phong, Nhà yêu nước Nguyễn An Ninh… Dưới chế độ khắc nghiệt của nhà tù, ngày 06/9/1942, căn bệnh kiết lỵ và những trận tra tấn của địch, đồng chí Lê Hồng Phong đã trút hơi thở cuối cùng tại Xà lim số 05.

Giai đọan 1951-1953, Banh II là nơi giam giữ các đòan tù binh từ miền Bắc và miền Trung đưa ra. Phương án võ trang giải thóat tù nhân đã hình thành từ đây, đẫn đến cuộc võ trang vượt Đảo tại Bến Đầm ngày 12/12/1952 của 198 tù binh.

Năm 1964, nơi lực lượng xung kích mở đầu cuộc đấu tranh mang tên “Mùa thu đồng khởi” (tháng 7/1970). Đây là cuộc đồng khởi chống khổ sai và chống chào cờ của hơn 4000 tù chính trị trên tòan đảo.

Mùa xuân năm 1935, tại sân Banh II, đồng chí Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Kim Cương cùng một số đồng chí khác đã tổ chức diễn thành công vở kịch Napoleon. Gác ngục Pháp vào xem rất đông, Các vở kịch không chỉ thành công trong lĩnh vực nghệ thuật mà còn thắng lợi về mặt ngọai giao. Nhiều gác ngục Pháp tỏ thái độ kính nể những người tù cộng sản có văn hóa, có nhân cách và hiểu biết sâu rộng. Từ đó họ ít đánh tù và xưng hô bớt thô tục hơn.

Banh II được xem như một bề dày lịch sử sau Banh I, là nơi ghi dấu ấn của bao thế hệ tù chính trị.

Di tích trại Phú Sơn đã được, Bộ Văn Hóa – Thông Tin đã ra quyết định số 54-VHQĐ Đặc cách công nhận Khu di tích đặc biệt quan trọng của Quốc gia ngày 29/4/1979. Ngày 10/5/2012 Thủ Tướng chính phủ ra quyết định 548/ QĐTTg công nhận là Di tích Đặc biệt Quốc gia.

Trại Phú Sơn ngay bên sau lưng khách sạn Sài Gòn Côn Đảo ngày nay

Hầm xay lúa Côn Đảo – “Nhà tù trong nhà tù, địa ngục trong địa ngục”

Hầm xay lúa nằm bên trong trại Phú Hải

Hầm xay lúa nằm bên trong Trại Phú Hải – là trại giam cổ nhất, được Pháp lập từ năm 1862 và xây dựng kiên cố từ năm 1889 đến năm 1896 thì hoàn chỉnh. Trại rộng hơn 12.000m² với 10 phòng giam tập thể, trong đó có 1 phòng tử hình, 20 hầm đá biệt giam, 2 hầm xay lúa đồng thời là phòng trừng giới và 1 khu đập đá.

Hầm xay lúa Côn Đảo

Bọn Chúa ngục Côn Đảo gọi Hầm xay lúa là khu “Trừng giới”, bởi vì trong Hầm xay lúa, ngoài việc bị bắt lao động khổ sai, phải xay lúa bằng chiếc cối xay to được làm bằng chiếc thùng tô-nô đựng rượu vang, người tù còn phải chịu nhiều cực hình thân xác, những tù nhân nào bị đưa vào đây thì chỉ đôi ba tháng là kiệt sức, toét mắt và mang bệnh lao phổi. Bởi vậy, Hầm xay lúa còn được mệnh danh là “nhà tù trong nhà tù, địa ngục trong địa ngục”. Ngoài ra, trong Hầm xay lúa còn có nạn áp bức của “cặp rằng”. Đó là những tay dao búa, lưu manh được cai ngục giao cho điều hành công việc trong tù, nhưng chủ yếu là hành hạ tù nhân “dùng tù trị tù”.

Cưỡng bức khổ sai ở hầm xay lúa là hình thức cuối cùng trong danh mục các biện pháp trấn áp ghi trong quy chế nhà tù Côn Đảo. Hầm tối om với 5 cối xay làm bằng vỏ thùng tôn cũ, trong nện đất sét. Phải 6 người tù mới quay nổi cái cối và dưới chân còn mang một quả tạ. Cứ hai người xiềng làm một, tù nhân phải làm quần quật từ 6h sáng đến 5h chiều dưới đòn roi liên tục của các cặp rằng quất vào lưng trần mỗi khi chậm trễ.

Hâm xay lúa – Nơi lao dịch của các chiến sĩ tù cộng sản

Khu đập đá khổ sai, nơi chí sĩ yêu nước Phan Chu Trinh cảm tác nên bài “Đập đá Côn Lôn”: Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn/Lừng lẫy làm cho lở núi non…/Những kẻ vá trời khi lỡ bước/Gian nan chi kể sự con con.

Nếu khu đập đá khổ sai in khí phách hiên ngang giữa gông cùm lao tù thì hầm xay lúa rạng danh tên tuổi người chiến sĩ cách mạng kiên trung – Tôn Đức Thắng. Để đày đọa người tù, thực dân Pháp bắt lao động khổ sai trong hầm xay lúa nhưng hầm được xây kín. Đa phần tù nhân lao động trong hầm đều chết vì các bệnh liên quan đến đường hô hấp hoặc bị đánh đập do không hoàn thành phần việc. Biết đồng chí Tôn Đức Thắng là một thợ sửa máy lành nghề, chúng đưa đến làm việc tại Sở Lưới chuyên sửa canô. Năm 1945, chiếc canô do bác Tôn sửa mang tên Giải Phóng được chính Bác cầm lái đưa một số đồng chí trong Ban lãnh đạo cách mạng trở về đất liền.

Bác Tôn – Người tù hầm xay lúa

Đầu năm 1932, Chi bộ Đảng Cộng sản Banh I đã được thành lập ở Khám Chỉ Tồn. Đồng chí Nguyễn Hới (nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương lâm thời, Bí thư Tỉnh ủy Nam Định) được cử làm Bí thư Chi bộ; đồng chí Tôn Đức Thắng tham gia Chi ủy và được phân công phụ trách Hội những người tù đỏ, đồng thời có nhiệm vụ thiết lập đường dây liên lạc với Chi bộ Banh II (tù chính trị) và liên lạc với cả đất liền. Mọi vấn đề đang được vận hành trơn tru, các mối liên lạc đã được thiết lập và hoạt động đều đặn, thì đến cuối tháng 12-1932, một mối liên lạc trong tù do đồng chí Tôn Đức Thắng phụ trách bị địch phát hiện. Ngay lập tức, tên chúa ngụ Bu-vi-e “Mặt lợn” ra lệnh phạt giam đồng chí Tôn Đức Thắng vào Hầm xay lúa – nơi hành hạ dã man đối với các tù nhân.

Chuyện rất bình thường – Nhưng hào quang chói sáng – Lòng cao thượng – đức độ con người – Anh hai Thắng – cảm hóa hồi sinh – Những người tù hung bạo trong hầm xay lúa – Không có tấm lòng yêu quê hương đất nước – Sẽ không có tấm lòng chung thuỷ sáng trong – Trời biển Côn Lôn mênh mông – Giam cầm chí lớn trên đảo nhỏ – Thời gian nung cháy quả tim đỏ – Một sáng mùa thu Hồng – Hoan hô Cách mạng thành công – (Chiếc hôn vĩnh cữu – Hoài Tâm)

Câu chuyện về người tù ở Hầm xay lúa nơi Côn Đảo là một câu chuyện ly kỳ của cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Tôn. Nhà thơ Tố Hữu khi đi làm cách mạng, ông đã nhận ra rằng:

Đời cách mạng từ khi tôi đã hiểu

Dấn thân vô là phải chịu tù đày

Là gươm kề tận cổ súng kề tai

Là thân sống chỉ coi còn một nửa

Thời đất nước ta còn trong gông cùm nô lệ, nhân dân ta còn rên xiết dưới gót giày đô hộ, chấp nhận dấn thân vào con đường cách mạng là chấp nhận tù đày. Bác Hồ bị tù từ mùa thu năm 42 đến mùa thu năm 43 tại Quảng Tây (Trung Quốc), Tố Hữu 19 tuổi đã bị bắt. Trong nhà giam thực dân đầy ắp những vần thơ viết bằng máu.

Người tù cộng sản Hoàng Văn Thụ khi rơi vào cảnh lao tù đã viết những lời thơ khẳng khái:

Thân dẫu lao tù lâm cảnh hiểm

Chí còn theo dõi buổi tung hoành

Phục thù chí lớn không hề nản

Ngọc nát còn hơn giữ ngói lành

Khi bước trên con đường cách mạng, với những nỗ lực hoạt động không mệt mỏi để đấu tranh cho độc lập tự do của dân tộc, người cộng sản Tôn Đức Thắng biết trước thế nào cũng có ngày mình rơi vào cảnh “bốn tường vôi khắc khổ, đây sàn lim manh ván ghép sầm u”. Và ngày 3-7-1930 đã mở ra một chặng đường gian lao gập ghềnh khúc khuỷu nhất trên con đường cách mạng của Bác.

Cái thời hạn 20 năm tù khổ sai quả là thật chẳng dễ dàng gì khi nghe tòa tuyên án. Và lại bị đày ra Côn Đảo – nơi nổi tiếng là chốn địa ngục tại trần gian – thì quả là điều khủng khiếp. Đó là một trường học Cách mạng lớn thực sự cho người chiến sĩ trải nghiệm bao phong ba bão táp. Đó là nơi trui rèn trong lửa đỏ, lửa thử vàng, gian nan thử sức. Nhưng với một số người, đó cũng là nơi để họ sống những tháng ngày tuyệt vọng nhất, bi quan nhất, thậm chí vội vã rời khỏi ngọn cờ tranh đấu, tham sinh uý tử mà yếu hèn chọn lựa lối sống quỳ, đánh mất chí khí của người cộng sản.

Côn Đảo thuộc quần đảo Côn Lôn, ở phía đông nam Nam bộ nước ta, cách đất liền khoảng 83 km. Nguyễn Ánh khi nhờ thế lực Pháp chống Tây Sơn đã lấy Côn Lôn làm món quà dâng cho Pháp. Mấy chục năm sau, khi đã xâm chiếm toàn nước ta, bọn Pháp đã tìm một nơi hẻo lánh, xa cách đất liền làm nơi giam giữ những người Việt Nam yêu nước, chống lại chúng. Và chúng đã chọn Côn Đảo.

Ở đây, chúng xây ba khu vực lớn (gọi là Banh 1, Banh 2 và Banh 3). Banh 1 giam tù thường, Banh 2 giam tù chính trị. Tù đông, chúng xây thêm Banh 3. Ngoài ra, chúng cũng dùng những nơi khác để giam – thực ra là để hành hạ trừng phạt tù nhân như sở tải (làm vệ sinh), sở lưới (lấy hải sản), sở chuồng bò (lấy củi). Tù thường phạm là những giang hồ tứ chiếng, đầu trộm đuôi cướp, đầu bò đầu bướu… mang án cướp của giết người ngang ngạnh bất trị. Vào đây chúng đấu đá nhau để tranh chức anh chị (giống như kiểu “đại bàng”), ức hiếp tù nhân khác và trở thành một thế lực đen bên cạnh bọn cai ngục mất hết tính người. Bác Tôn khi bị đày ra Côn Đảo đã bị làm lệch án để giam giữ Bác chung với tù thường phạm. Một mặt để cách ly Bác với các đồng chí tù chính trị; mặt khác thâm độc hơn, bọn thực dân muốn mượn tay những người tên tù hung hãn, chuyên đâm thuê chém mướn để trừng trị Bác.

Dưới thời tên chúa ngục khát máu Buvie (Bouvier 1927-1934), nhà ngục Côn Đảo như một lò sát sinh lớn. Thật đáng sợ cho một nơi giam giữ con người mà như cầm tù những con vật, những đòn roi tan da nát thịt, những cực hình dã man tàn bạo còn nặng nề hơn thời Trung cổ… đều được điểm danh và xuất hiện thường xuyên phổ biến nơi nhà tù khổ sai đẫm máu ấy. Tháng 11 năm 1930, một trận bão lớn ập đến làm sập trại giam Sở Lưới làm 75 người tù thiệt mạng; rồi sau đó hàng mấy tháng trời, tù nhân sống cảnh “màn trời chiếu đất”, ngày phơi nắng, đêm phơi sương cùng những trận mưa bất thường ập đến, tù nhân suy kiệt rồi qua đời. Chỉ trong năm đó, nhà tù Côn Đảo thành nhà mồ cho 311 người, tỷ lệ chết là 15,6 % – cao nhất trong các nhà tù ở Đông Dương.

Cảnh ốm đau thật khốn cùng vì vẫn phải đi làm khổ sai. Báo bệnh thì bị phán là giả đò thế là thêm nhừ đòn. Tù nhân ở sở chuồng bò phải đi vào rừng leo dốc, mỗi người mỗi ngày một thước khối củi; hoặc ở sở lưới, họ phải ngâm mình suốt đêm dưới biển để mò san hô, bắt đồi mồi, bắt vích (giống rùa biển). Tù nhân vừa chết bệnh, vừa tự tử hoặc bị ức chế trở nên điên loạn; có khi giết chóc lẫn nhau. Đối với tù thường phạm, nếu “có công” giết được tù chính trị, chúng còn chóng được tha.

Và khủng khiếp và tàn khốc nhất là tù nhân – thường vào hạng “bất trị” – được đưa xuống hầm xay lúa. Hầm dài và rộng khoảng 150m2, tường đá dày xây kín ba mặt, có 5,6 cối xay lúa nặng làm bằng thùng tônô đựng rượu vang, loại 150 lít cưa ra – khoảng 5, 6 người kéo mới quay nổi một cối. Từ 5 giờ sáng đến 17 giờ chiều tù nhân phải lao động khổ sai trong một căn hầm chật chội, ầm ĩ, oi bức, ngột ngạt và đầy bụi bẩn. Cả ngày ở đây, đứng cách nhau 1 mét không nhìn rõ mặt vì bụi cám, trấu, hơi người hừng hực nóng. Quạt gió thổi ù ù, cối xay quay ầm ầm, tiếng xích sắt loảng xoảng lê dưới chân tù, tiếng thớt cối nặng nhọc nghiến vào nhau chen lẫn tiếng roi quật đen đét lên những tấm lưng trần cùng những tiếng rít chửi độc địa của bọn “cặp rằng” lưu manh làm nên một thứ tạp âm rùng rợn. Chỉ cần 15 phút đủ để ra ngoài khạc đầy đờm đen. Còn ở lâu cỡ năm, bảy bữa là đau mắt, đau tim, đau gan, ho lao, kiết lỵ… Làm nặng, ăn khổ, ốm không thuốc men, rồi đâm chém nhau thế là cầm chắc cái chết thê thảm. Tù nhân ở hầm xay lúa dao động từ 5, 6 chục đến hơn 100 người, mỗi ngày họ phải xay khoảng 35 bao mỗi bao tám, chín chục kí lô.

Bọn thực dân áp dụng chiêu thức dùng tù trị tù, nên tù nhân trực tiếp điều hành ở đây được gọi là Cặp rằng: Trong hầm có một cặp rằng chính và bốn cặp rằng phụ. Bọn này tập hợp hàng chục tên lưu manh đàn em để phục dịch cho chúng. Chúng ỷ thế lập ra vai vế, ban bệ ức hiếp tù nhân khác để ăn trên ngồi trốc, đè đầu cỡi cổ bạn tù. Chúng dùng tiền đút lót để được làm cặp rằng hòng lánh nặng tìm nhẹ. Nhưng chẳng bao lâu, có khi là một tháng, nhiều hơn cũng chỉ là sáu tháng, chúng bị tù nhân nổi loạn làm liều giết đi. Có khi bằng dùi đục sửa cối, có khi bằng kim khâu bao gạo, có khi dao búa mang lén vào hầm…

Bác Tôn của chúng ta đã có mặt ở đó. Trong hầm xay lúa tàn khốc đó, làm ngay cái “chức” cặp rằng đáng sợ đó (ngay khi cặp rằng Bảy Tốt vừa bị hai tên đàn em đập bể đầu) để làm mồi nhử cho bọn tù hung hãn liều mạng. Và điều kỳ diệu đã xảy ra. Cái âm mưu đẩy Bác Tôn vào chỗ chết của bọn cai ngục nói riêng và bọn thực dân Pháp nói chung đã bị phá sản. Bằng sự chân tình, thân ái, sự cởi mở hòa đồng, sự khoan dung độ lượng cùng cái chất hào sảng rất Nam bộ; đặc biệt là cái ý thức giác ngộ quần chúng bằng chính tư tưởng chính trị của mình, người cặp rằng hầm xay lúa Tôn Đức Thắng đã cảm hóa sâu sắc, đã hoàn toàn thuyết phục tù nhân. Người cặp rằng đó rất hiền hòa, sẵn sàng xốc vai vào làm với tất cả mọi người, phân công lao động hợp lý cho tù nhân đỡ đần nhau, người mạnh chăm sóc kẻ ốm đau, bệnh tật. Họ tích lũy lương thực, học chữ để viết thư thăm nhà…Và học bài học cuộc sống ngay trong cái chết.

Nhóm tù chính trị cộng sản trở thành hạt nhân đoàn kết toàn thể tù nhân, không phân biệt tù chính trị hay thường phạm. Họ tích cực giáo dục cảm hóa tù thường. Hội cứu tế tù nhân được tổ chức ngay trong hầm xay lúa. Những người ốm đau được săn sóc chu đáo. Buổi trưa khi bọn gác ngục đã về hết, hội tù tổ chức xúc gạo nấu ăn thêm để bảo đảm sức khỏe. Buổi tối tổ chức học văn hóa, nói chuyện truyền thống, giáo dục lòng yêu nước. Không khí đoàn kết học tập và giúp đỡ lẫn nhau dần thay thế cho thù hằn chia rẽ. Hầm xay lúa không còn là nỗi kinh hoàng mà “nơi hầm tối là nơi sáng nhất, nơi … nhìn ra sức mạnh Việt Nam” (Dương Hương Ly).

Như vậy trên 15 năm giam giữ Bác, kẻ thù ắt hẳn đang đắc ý chờ đợi nhà tù thực dân sẽ chứng minh đó là nơi bóp nghẹt sự sống, thủ tiêu ý chí, bào mòn nhân cách và sức chịu đựng của con người, không cho họ cái quyền được làm một con người bình thường. 15 năm có thể không phải là thời gian dài trong đời người nhưng với cuộc sống tù đày mà Nhất nhật tại tù thiên thu tại ngoại thì chắc chắn đó không phải là một thời gian ngắn. 15 năm đủ để một người cha ra tù ngỡ ngàng nhận ra những đứa trẻ đã trở thành người trưởng thành; đủ để cho bố mẹ của mình đã về với ông bà tổ tiên mà mồ đã xanh cỏ. Nhưng với Bác Tôn, 15 năm ngục tù đen tối đã làm bật sáng lên một nhân cách lớn, một con người đại nhân đại dũng.

Cải tạo chế độ Hầm xay lúa

Khoảng năm 1933, bọn gác dang phát hiện được đồng chí Tôn Đức Thắng liên hệ với tù chính trị Banh II và phạt giam đồng chí vào Hầm xay lúa. Hầm xay lúa vừa là một hình thức khổ sai để tận dụng lao động của tù nhân, vừa được cấu tạo một cách đặc biệt để đày đọa người tù và trớ thành một hình phạt khủng khiếp, địch gọi là “khu trừng giới” (quatier diciplinaire).

Trực tiếp điều hành trong Hầm xay lúa là một cặp rằng1 chính và 4 cặp rằng phụ do xếp banh chỉ định trong số tù lưu manh loại “anh chị”. Bọn này tập hợp hàng chục tên lưu manh đàn em để phục dịch cơm nước và đấm bóp cho chúng. Cả bọn cấu kết với nhau trút tất cả những công việc khổ sai nặng nhọc lên đầu những người tù khác.

Từ 5 giờ sáng tới 17 giờ chiều, Hầm xay lúa chật chội, ầm ĩ, bụi bặm, oi bức và ngột ngạt. Hơn 100 người tù bị xiềng xích, 200 bao thóc chất đống, 5 cối xay và 2 quạt gió đồ sộ chen chúc nhau trong một căn hầm rộng chừng 150 mét vuông. Quạt gió thổi ù ù, cối xay quay ầm ầm; tiếng xích sắt loảng xoảng lê dưới chân người tù, tiếng thớt cối nặng nhọc nghiến vào nhau chen lẫn tiếng roi quật đen đét lên những tấm lưng trần và những tiếng rít chửi độc địa của bầy cặp rằng lưu manh hòa thành một thứ âm thanh rùng rợn của Hầm xay lúa.

Khác với các sở tù khổ sai, bọn lưu manh trong Hầm xay lúa được toàn quyền hành hạ người tù, chúng hung dữ như một bày quỷ sứ. Bọn gác ngục chỉ đứng ngoài song sắt để chứng kiến lòng trung thành của đám tù tay sai đã được chúng kích động bản tính lưu manh. Bị áp bức đến cùng cực, tù nhân Hầm xay lúa trở nên hung bạo, thỉnh thoảng họ lại đập chết những tên cặp rằng hung ác.

Đồng chí Tôn Đức Thắng vào Hầm xay lúa được ít hôm thì cặp rằng Bảy Tốt bị hai người tù thường phạm đập vỡ sọ bằng một khúc gỗ lim, âm mưu dùng tay bọn tù lưu manh để sát hại đồng chí, xếp banh chỉ định ngay Tôn Đức Thắng làm cặp rằng chính. Hiểu được ý đồ thâm độc này, một số đồng chí cộng sản cùng bị đày ở Hầm xay lúa lúc ấy bàn với Tôn Đức Thắng nên nhân dịp này nắm quyền lực để cải tạo chế độ Hầm xay lúa.

Lần đầu tiên những công việc ở Hầm xay lúa được tổ chức lại. Tất cả mọi người đều làm việc. Những người yếu được bố trí vào kíp sàng gạo và đóng bao, người khỏe thì xay và khuân vác thóc. Kíp đứng cối nặng nhọc nhất được bố trí thêm người, thay nhau người làm người nghỉ. Thấy có một số tù nhân ngồi nghỉ, tên gác dang coi Hầm xay lúa chực xông vào đánh thì Tôn Đức Thắng ôn tồn bảo hắn: “Đủ gạo thì thôi, đánh đập có ích gì “Nói vậy nhưng chẳng bao giờ đủ gạo. Cặp rằng Tôn Đức Thắng không bắt tù xay nhiều thóc. Có lần tên xếp banh đích thân đến quở trách, đồng chí Tôn Đức Thắng đã trả lời hắn: “Tôi có thể chỉ huy cả một đội quân Lê dương2 nhưng tôi không thể điều khiển tù nhân xay lúa theo ý các ông được”.

Đồng chí Tôn Đức Thắng khi trước làm thợ máy trong Hải quân Pháp, năm 1919 đã từng kéo lá cờ cách mạng trên biển Hắc Hải bảo vệ nước Nga Xô Viết, bọn gác ngục Pháp đều biết tiếng, ngay cả đám tù lưu manh cũng phải kiêng nể. Những người tù thường phạm đã nhiều lần bị phạt Hầm xay lúa thì hết sức ngạc nhiên. Lần đầu tiên họ thấy một ông cặp rằng không hề đánh tù mà ôn tồn chỉ bảo cho từng người cách làm việc, cách cư xử với nhau. Bọn gác ngục Pháp thì rất hậm hực vì công việc đã không chạy mà tù nhân lại đoàn kết với nhau.

Nhóm cộng sản trong Hầm xay lúa tích cực giáo dục, cảm hóa tù thường. Hội cứu tế tù nhân được tổ chức trong Hầm xay lúa. Những người ốm đau được chăm sóc chu đáo. Hội tù tổ chức cạo gió xoa bóp cho nhau, san sẻ nỗi mệt nhọc trong ngày. Buổi trưa, khi bọn gác ngục về hết, Hội tù xúc gạo nấu cơm ăn thêm để bảo đảm sức khỏe. Buổi tối, Hội tù tổ chức học văn hóa, nói chuyện truyền thống, giáo dục lòng yêu nước cho tù thường. Không khí đoàn kết, học tập và giúp đỡ lẫn nhau dần dần thay thế cho sự thù hằn, chia rẽ. Nhiều người tù thường phạm rất ham học văn hóa. Anh Dừ, tù án lưu (relégué) chưa biết chữ nào, nhờ học mấy tháng ở Hầm xay lúa mà viết được thư về cho vợ làm cả nhà hết sức ngạc nhiên. Đến khi nhận được thư vợ gửi ra, anh cảm động đến phát khóc.

Nhiều người tù lưu manh cảm phục những người cộng sản mà bớt hung hãn hơn. Có người giác ngộ, sau về tham gia kháng chiến. Tình hình được cải thiện trong Hầm xay lúa làm bọn gác dang không vừa lòng. Tên xếp banh quyết định thay cặp rằng chính nhưng vẫn chỉ định Tôn Đức Thắng và Tô Hiệu làm cặp rằng phụ. Hết hạn phạt, Tôn Đức Thắng trở về Sở tẩy- Có tên gác dang ngạc nhiên hỏi: “Mêcanixiêng3 còn sống đấy hả? Tưởng chết rồi chứ?”

Nhiều cặp rằng Hầm xay lúa đã bị tù nhân đập chết trước khi mãn hạn phạt, nhưng bọn thực dân không thể hiểu được rằng những người cộng sản đang từng bước cải tạo “địa ngục trần gian” này.

Sưu Tầm

Di tích Trại Phú Hải – Banh 1

Di tích Trại Phú Hải

Banh I còn có các tên: Lao I, trại Cộng Hòa, trại 2, tên cuối cùng (tháng 11/1974) được gọi là trại Phú Hải, do Thực dân Pháp xây dựng từ những năm cuối thế kỷ 19.

Trại Phú Hải có diện tích: 12.015m2. Gồm 10 phòng giam tập thể; 1 phòng giam tù đặc biệt; 20 xà lim (hầm đá), Khu lao động khổ sai đập đá, Hầm xay lúa, vừa là nơi làm khổ sai (xay lúa) vừa là nơi đày ải nghiệt ngã đối với tù nhân, thời Mỹ -ngụy chuyển thành (bệnh xá). Ngòai ra còn có các công trình phụ như: Câu lạc bộ; phòng hớt tóc; nhà bếp; nhà ăn; giảng đường, nhà nguyện, phòng trật tự; nhà kho; văn phòng giám thị và sân vườn.

Giảng đường tại Khu nhà tù Phú Hải

Có thể nói, các lớp tù nhân từ thuở Cần Vương, Văn Thân chống Pháp như: chí sỹ Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn, Lã Xuân Oai, Phan Chu Trinh,… đến nhiều chiến sỹ cách mạng Việt Nam như: đồng chí Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng, Phạm Văn Đồng,…đến thế hệ sinh viên học sinh xuống đường chống Mỹ – Thiệu bị bắt đều trải qua những năm tháng lao. Đây là nơi Chi bộ cộng sản đầu tiên trong nhà tù Côn Đảo được ra đời cuối năm 1932, sau phát triển thành Đảo ủy Côn Đảo. Banh I cũng là nơi những người cộng sản mở các học văn hóa, lý luận, chính trị. Đặc biệt là khóa học Chủ nghĩa Mác- LêNin theo chương trình huấn luyện của Đại học Phương Đông do giáo sư Trần Văn Giàu phụ trách. Tại đây, một số tờ báo “Tiến lên”, “Ý kiến chung” được chuyển từ Banh II về năm 1935.

Khu đập đá: Chí sỹ yêu nước Phan Chu Trinh đã từng khổ sai ở đây và đã sáng tác bài thơ “Đập đá Côn Lôn” (được đưa vào văn học Việt Nam).

Bài Đập đá Côn Lôn tại Nhà tù Phú Hải

Năm 1957, Mỹ ngụy đã đưa 41 phụ nữ chống ly khai, tố cộng từ các nhà lao ở đất liền ra Côn Đảo. Đây là lớp nữ tù chính trị đầu tiên thời chống Mỹ ra nhà tù Côn Đảo.

Banh I là điển hình của chế độ khổ sai. Hầu như mỗi mảnh đất Côn Đảo đều khắc sâu nỗi cực nhọc và thấm máu của người tù. Trong sự đày đọa khốn cùng, những người cộng sản, những người yêu nước phải quyết định vận mệnh, chịu chết mỏi mòn hoặc là đấu tranh để sống trở về tiếp tục họat động cách mạng. Người tù phải chống lại cả một bộ máy từ chúa đảo đến nhiều gác ngục và tay sai…Điều đó, đòi hỏi người tù cộng sản phải được tổ chức thành đội ngũ chặt chẽ, hình thức đấu tranh thích hợp. Nơi đây còn là hiện thân của: “địa ngục trần gian” Côn Đảo.

Thời Mỹ – Ngụy, địch dùng mọi biện pháp từ dụ dỗ, đối xử tử tế đến những thủ đoạn để ép buộc tù chính trị ly khai Đảng Cộng sản…Năm 1957, đây là nơi khởi đầu cuộc đấu tranh chống ly khai Đảng cộng sản của tù chính trị câu lưu, ngọn cờ đầu của phong trào đấu tranh bảo vệ khí tiết của tù chính trị Côn Đảo.

Tái hiện cảnh lao động khổ sai tại Trại Phú Hải

Banh I đã trải qua 113 năm với bề dày lịch sử ngang tuổi nhà tù còn lưu lại nhiều dấu ấn anh hùng trong cuộc đấu tranh lâu dài và bất khuất của những người yêu nước cách mạng Việt Nam tại ngục tù Côn Đảo.

Di tích trại Phú Hải đã được, Bộ Văn Hóa – Thông Tin đã ra quyết định số 54-VHQĐ Đặc cách công nhận Khu di tích đặc biệt quan trọng của Quốc gia ngày 29/4/1979. Ngày 10/5/2012 Thủ Tướng chính phủ ra quyết định 548/ QĐTTg công nhận là Di tích Đặc biệt Quốc gia.

Di tích trại Phú Thọ – Banh 3

Trai-Phu-Tho-Con-Dao

Năm 1928, Thực dân Pháp tiếp tục xây dựng Banh 3 với tổng diện tích: 12.7002, lần lượt gọi các tên: Banh III. Lao 3, Trại Bác Ái, Trại 1, Trại Phú Thọ.

Thời thực dân Pháp gồm 3 dãy trại giam, trong đó có 2 dãy phòng giam tập thể và 1 dãy biệt lập, 1 khu nhà bếp và 1 khu bệnh xá. Sau Cách mạng tháng 8/1945 trại giam này được chỉnh trang lại còn 2 dãy (mỗi dãy có 4 phòng).

Thời Mỹ ngụy xây thêm 2 phòng 9 và phòng 10 phía sau Bệnh xá. Đặc biệt, phòng 10, Mỹ – ngụy dùng làm khu biệt lập để bổ sung cho khu Chuồng Cọp, nên được ngăn ra 15 phòng biệt giam nhỏ, trên trần không có song sắt như Chuồng Cọp, chỉ đan bằng kẽm gai chằng chịt. Người tù bị giam vào đây đã đặt cho nó cái tên rất dí dỏm: “Biệt lập Chuồng Gà”. Ngòai ra còn có các công trình phụ: Nhà ăn, nhà kho, nhà bếp, văn phòng giám thị và sân vườn…

Thực dân Pháp sử dụng Banh III để giam giữ, cách ly những tù nhân mới bị đưa ra Đảo trước khi chuyển qua các Banh khác, nhằm để ngăn chặn tin tức từ đất liền đưa ra, sợ ảnh hưởng đến tù nhân cũ. Sau đó, Bagne III trở thành nơi giam giữ tù chính trị mà địch liệt vào hạng “Thành phần nguy hiểm “, “Bất trị” bị kết án về tội phá hoại và âm mưu phá rối trị an, tù vượt ngục nhiều lần…cũng bị đưa ra đây.

Giai đoạn năm 1939 – 1945 là nơi dùng để giam giữ những người bị bắt trước và sau Cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (1940), trong đó có các đồng chí: Lê Duẩn, Lê Hồng Phong, Dương Bạch Mai…Các chuyến chuyển tù nhân từ Sơn La – Hỏa Lò bị đày ra đảo mùa hè 1944 cũng bị cấm cố ở đây, có nhiều đồng chí là lãnh đạo cấp ủy và xứ ủy Bắc Kỳ. Banh III là một trong những trại đày ải cầm cố khắc nghiệt, hàng ngàn tù chính trị bị đánh đập, đày ải đến chết trong thời kỳ thực dân Pháp khủng bố trắng sau khởi nghĩa Nam Kỳ.

Đồng chí Vũ Văn Hiếu người Bí thư đầu tiên Đặc khu mỏ Hòn Gai đã trút hơi thở cuối cùng trong phòng cấm cố. Phút lâm chung đồng chí đã trao tấm áo trên người mình khoác cho người bạn tù – đồng chí Lê Duẩn với lời trăn trối: “Ráng sống mà phục vụ cho cách mạng”. Liệt sỹ Vũ Văn Hiếu đã trở thành biểu tượng của người cộng sản: “Sống vì đảng – chết cũng không rời Đảng”, là nguồn cảm hứng cho nhà văn, nhà điêu khắc sáng tạo tượng đài trao áo qua tứ thơ: “Chết còn cởi áo cho nhau”.

Di tích trại Phú Thọ đã được, Bộ Văn Hóa – Thông Tin đã ra quyết định số 54-VHQĐ Đặc cách công nhận Khu di tích đặc biệt quan trọng của Quốc gia ngày 29/4/1979. Ngày 10/5/2012 Thủ Tướng chính phủ ra quyết định 548/ QĐTTg công nhận là Di tích Đặc biệt Quốc gia.