Di tích lịch sử Trại giam Tù binh Cộng sản Việt Nam/Phú Quốc

Nha-lao-cay-Dua-Phu-Quoc

Di tích lịch sử Trại giam Tù binh Cộng sản Việt Nam/Phú Quốc được xây dựng từ thời Pháp, thuộc xóm Cây Dừa trước đây nên mới có tên gọi như vậy. Khu di tích ngày này không rộng, nằm trên khu vực chính nhà lao cũ, có nhà trưng bày hiện vật xây hai tầng và khu trưng bày ngoài trời những hiện vật nguyên gốc và hầu như nguyên vị trí. Nhà lao Cây Dừa được công nhận là di tích lịch sử năm 1996 và bắt đầu mở cửa đón bạn đến tham quan. Nhà lao Cây Dừa đã đi vào văn học qua cuốn ký sự lịch sử của nhà văn Chu Lai…

Di tích lịch sử Trại giam Tù binh Cộng sản Việt Nam/Phú Quốc

Lịch sử và vị trí

Nhà lao cây dừa mà còn được gọi là ” nhà tù Phú Quốc ” nằm ở thị trấn An Thới, Phú Quốc. Cái tên ”cây dừa” có nguồn gốc từ cuộc chiến tranh Đông Dương , khi thuộc địa của Pháp đã được thống trị Việt Nam và kháng chiến chống Pháp trở nên rất mạnh mẽ. Tại thời điểm này, nhà tù có bốn khu vực có tên là ” A”, ” B” , “C” và “D”, mà được cho là giữ hơn 14.000 tù nhân. Tuy nhiên, khi cuộc chiến tranh Đông Dương kết thúc, hầu hết các tù nhân trở về gia đình của họ theo Hiệp định Genève .

Khi chiến tranh Việt Nam bắt đầu, quân đội Mỹ xây dựng lại nơi đây thành một nhà tù mới nhưng vẫn giữ cùng tên. Nhà tù mới có khu vực riêng biệt dành cho nam giới, phụ nữ và người cao tuổi. Thời gian trôi qua, đến năm 1966, một phần mới của nhà tù được xây dựng để bỏ tù quân nhân Việt Nam nhiều hơn nữa. Phần mới của nhà tù đã có 12 khu vực chính. Mỗi khu vực được chia thành bốn tiểu vùng khác nhau “A”, “B”, “C” và “D” . An ninh bảo vệ rất nghiêm ngặt với sự giám sát chặt chẽ.

Ngày nay, “nhà lao cây dừa” đã trở thành một nơi để du khách tham quan từ năm 1996. Trong cùng năm đó , nó đã được công nhận là một ” di sản lịch sử Quốc gia”.

Tầm quan trọng

Nhà lao Cây Dừa là bằng chứng sống cho các tội phạm chiến tranh. Có rất nhiều ảnh triển lãm được trình bày trong nhà tù dành cho du khách tìm hiểu thêm về chiến tranh. Vẫn còn một số công cụ tra tấn đã được sử dụng trong quá khứ trên người tù nhân. Ví dụ, bạn có thể chứng kiến “lồng cọp”, được sử dụng để chụp các tù nhân bên trong. Vì được đóng cửa kín cả ngày, lồng hoàn toàn tối và vô cùng nóng vào buổi sáng trong khi hoàn toàn lạnh vào ban đêm. Các tù nhân sau khi được nhốt và thả ra từ lồng cọp sẽ bị mù . Điều kiện sức khỏe thể chất và tinh thần của mình bị ảnh hưởng mạnh mẽ. Bên cạnh đó, có nhiều hoạt động tra tấn , phản ánh các hoạt động tàn nhẫn vô nhân đạo của kẻ thù trong quá khứ như đóng đinh, nấu người cho đến khi chết hoặc trực tiếp phá vỡ răng của một người với búa, bạn có thể đến đây và xem lại những cảnh được tái hiện​.

Thông tin du lịch

Hàng năm , nhà lao cây dừa thu hút khoảng 10.000 du khách . Nhiều người trong số họ là cựu tù nhân . Ngoài ra còn có rất nhiều những người trẻ tuổi và đặc biệt là người nước ngoài đến đây để biết thêm về chiến tranh phá hoại trong quá khứ và đánh giá cao cuộc sống yên bình tất cả chúng ta có bây giờ.
Bạn có thể đi tham quan một mình. Các dịch vụ hướng dẫn viên luôn luôn có sẵn nếu bạn yêu cầu.

Đình thờ Nguyễn Trung Trực

Den-Tho-Nguyen-Trung-Truc

Đình thờ Nguyễn Trung Trực luôn là điểm dừng chân để du khách viếng thăm và chiêm bái người anh hùng dân tộc trong cuộc đấu tranh bảo vệ Tổ quốc.

Đây là ngôi đền lớn nhất trong số chín ngôi đền thờ Nguyễn Trung Trực trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Ngôi đền nằm đối diện dòng sông êm đềm, ngay sát cửa biển, rợp mát bóng cây bồ đề xanh tốt. Mặt đền quay ra cửa biển và cách biển khoảng 100 m nằm trên đường Nguyễn Công Trứ, phường Vĩnh Thanh, TP Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Bước qua cổng đền là bức tượng Nguyễn Trung Trực đúc bằng đồng trông oai nghiêm, sống động với khí thế trung nghĩa, bất khuất. Trong khuôn viên, ngoài bức tượng còn có ngôi mộ của ông được xây vào năm 1986.

Về mặt kiến trúc, đền Nguyễn Trung Trực được khởi dựng năm 1869 sau khi cụ mất, lúc đầu chỉ là ngôi nhà nhỏ bằng gỗ, mái lợp lá, do dân chài dựng lên để thờ Thần Nam Hải (Cá voi). Đền được xây dựng theo kiểu chữ Tam, gồm Chính điện, Đông lang và Tây lang. Cột kèo bằng bê tông, mái lợp ngói. Được xây dựng theo phong cách truyền thống, mái đình cong lợp ngói âm dương, trên nóc đắp hình lưỡng long tranh châu, sơn màu đỏ ngời lên vẻ tôn nghiêm. Điện thờ chính có những vật dụng thường thấy trong các ngôi đình Nam bộ. Những giá đặt binh khí ánh lên sắc đồng mạnh mẽ.

Đến đền thờ Nguyễn Trung Trực, cảm giác đầu tiên của du khách là không gian thanh tịnh, tạo cảm giác tôn nghiêm, thành kính. Bên cạnh đền thờ Nguyễn Trung Trực còn có phòng thuốc nam với các lương y giỏi bắt mạch, kê toa, châm cứu miễn phí. Hàng ngày đền nhộn nhịp người ra vào để chữa bệnh, bốc thuốc, làm công đức. Với những việc làm y đức chữa bệnh cứu người, phòng thuốc nam đã được nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương gửi thư khen ngợi.

Đền và mộ Nguyễn Trung Trực đã được công nhận là di tích Lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào năm 1989. Năm 2012, tỉnh Kiên Giang tiến hành tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử đền thờ Nguyễn Trung Trực để xứng tầm là điểm du lịch không thể thiếu khi đến Kiên Giang. Đây là nơi lưu giữ những chiến tích, kỷ vật, hiện vật về thân thế sự nghiệp, chiến công lừng lẫy của vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực, đồng thời cũng là điều kiện tốt trong việc giáo dục lịch sử lòng yêu nước cho thế hệ hôm nay và mai sau hiểu rõ hơn về vị Anh hùng yêu nước trong công cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm.

Hàng năm, vào ngày 27, 28, 29 tháng 8 âm lịch, Kiên Giang tổ chức Lễ hội AHDT Nguyễn Trung Trực thu hút đông nhân dân trong khu vực về dâng hương. Trong suốt 3 ngày diễn ra lễ hội có các hoạt động sân khấu hóa tái hiện sinh động những chiến công oanh liệt của dân tộc Việt Nam và Cụ Nguyễn Trung Trực, các trò chơi dân gian, các hoạt động thương mại, du lịch, văn hóa ẩm thực sông nước Nam bộ và nhiều hoạt động khác phục vụ nhân dân trẩy hội.

Nét độc đáo và riêng biệt của Lễ hội truyền thống Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực là những người đến đình cúng, viếng, chiêm bái không chỉ được ăn, uống, xem văn nghệ miễn phí, mà còn được ngủ nghỉ, khám bệnh bốc thuốc miễn phí.

Danh mục di tích đã xếp hạng của tỉnh Kiên Giang

Di tích lịch sử Nhà tù Hà Tiên

Danh mục di tích đã xếp hạng của tỉnh Kiên Giang bao gồm 57 di tích trong đó 24 di tích cấp quốc gia, 1 di tích cấp quốc gia đặc biệt và 32 di tích cấp tỉnh.

Thành phố Rạch Giá

STT Tên di tích
 (Tên đầy đủ theo xếp hạng)
Số Quyết định
(Ngày, tháng, năm)
Địa điểm Cấp xếp hạng
1 DTLS Đình Nguyễn Trung Trực 191-VH/QĐ, 22/3/1988 P.Vĩnh Thanh Quốc gia
2 DTLS chùa Sắc Tứ  Tam Bảo 191-VH/QĐ, 22/3/1988 P.Vĩnh Bảo Quốc gia
3 DTLS Đình Vĩnh Hòa 1570-VH/QĐ, 5/9/1989 P.Vĩnh Thanh Vân Quốc gia
4 DTKTNT chùa Quan Đế 1571-VH/QĐ, 5/9/1989 P.Vĩnh Thanh Vân Quốc gia
5 DTKTNT nhà số 21 đường Nguyễn Văn Trỗi (Nay là nhà Bảo tàng số 27, Nguyễn Văn Trỗi) 993-QĐ, 28/9/1990 P.Vĩnh Thanh Vân Quốc gia
6 DTKT-NT chùa Láng Cát (Ratanaransi) 921-QĐ/BT, 20/7/1994 P.Vĩnh Lạc Quốc gia
7 DTLS Mộ Huỳnh Mẫn Đạt 961-QĐ/BT, 20/7/1994 P.Vĩnh Lạc Quốc gia
8 DTLSNT chùa Phật Lớn 53/2001/QĐBVHTT, 28/12/2001 P.Vĩnh Quang Quốc gia
9 DTKTNT Mộ Hội Đồng Suông 642-QĐ/UB, 27/3/1998 P.An Hòa Tỉnh
10 DTLSCM Mộ Hầm bí mật 2670/QĐ-UBND, 8/11/2013 P. Vĩnh Hiệp Tỉnh

Huyện Hòn Đất

STT Tên di tích

 (Tên đầy đủ theo xếp hạng)

Số Quyết định

(Ngày, tháng, năm)

 

Địa điểm

Cấp xếp hạng
01 DTKTNT Khmer chùa Sóc Xoài 1570-VH/QĐ, 5/9/1989 Xã Sóc Sơn Quốc gia
02 DT lịch sử và thắng cảnh Ba Hòn (Hòn Me, Hòn Đất, Hòn Quéo) 1570-VH/QĐ, 5/9/1989 Xã Thổ Sơn Quốc gia
03 DT Khảo cổ Nền Chùa 103-QĐ/BVHTT, 1/12/2004 Xã Mỹ Lâm Quốc gia
04 DT khảo cổ học Giồng Xoài 2819/QĐ-UBND, 02/12/2008 Xã Mỹ Hiệp Sơn Tỉnh
05 DTLS chiến thắng Sóc Xoài 162/QĐ-UBND, 17/1/2011 Xã Mỹ Lâm Tỉnh
06 DTLSVH Đền thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo 1820/QĐ-UBND, 22/8/2014 Xã Sơn Kiên Tỉnh

Huyện Tân Hiệp

STT Tên di tích

 (Tên đầy đủ theo xếp hạng)

Số Quyết định

(Ngày, tháng, năm)

 

Địa điểm

Cấp xếp hạng
01 DTLSVH Đền thờ Quốc tổ Hùng Vương 59/2004-QĐ/UB, 3/9/2004 Xã Thạnh Đông B Tỉnh
02 DTLSVH Đình thần Phú Hội 2668/QĐ-UBND,8/11/2013 Xã Tân Hội Tỉnh

Huyện Gò Quao

STT Tên di tích

 (Tên đầy đủ theo xếp hạng)

Số Quyết định

(Ngày, tháng, năm)

 

Địa điểm

Cấp xếp hạng
01 DTKTNT chùa Khmer Tổng Quản 103-QĐ/BVHTT, 1/12/2004 Xã Thới Quản Quốc gia
02 DTLSVH đình thần Vĩnh Tuy 2996/QĐ-UBND,27/11/2009 Xã Vĩnh Tuy Tỉnh
03 DTLSVH chùa Cái Bần 2691/QĐ-UBND,8/12/2010 Xã Thủy Liễu Tỉnh
04 DTLSCM Căn cứ Tỉnh ủy Rạch Giá 1819/QĐ-UBND, 28/8/2014 Xã Vĩnh Hòa Hưng Bắc Tỉnh

Huyện Giồng Riềng

STT Tên di tích

 (Tên đầy đủ theo xếp hạng)

Số Quyết định

(Ngày, tháng, năm)

 

Địa điểm

Cấp xếp hạng
01 DTLS Nhà Bia tưởng niệm anh hùng

liệt sĩ Mai Thị Nương (Hồng Hạnh)

1864-QĐ/UB, 15/11/2006 TT Giồng Riềng Tỉnh
02 DTLSVH Đình Thạnh Hòa 1863-QĐ/UB, 15/11/2006 TT Giồng Riềng Tỉnh
03 DTLSCM Căn cứ Tỉnh Ủy Rạch Giá 2454/QĐ-UBND, 27/11/2012 Xã Thạnh Lộc Tỉnh
04 DTLSCM Chiến thắng Lộ Mới Ngọc Chúc 2669/QĐ-UBND,8/11/2013 Xã Ngọc Chúc Tỉnh

Huyện Kiên Lương

STT Tên di tích

 (Tên đầy đủ theo xếp hạng)

Số Quyết định

(Ngày, tháng, năm)

 

Địa điểm

Cấp xếp hạng
01 DT thắng cảnh Hòn Chông (Hòn

Phụ Tử, Chùa Hang, Bãi Dương)

100-VH/QĐ, 21/1/1989 Xã Bình An Quốc gia
02 DT lịch sử và thắng cảnh Núi Mo So 188-QĐ/BT, 13/2/1995 Xã Bình An Quốc gia
03 DTLSVH đình thần Hòn Chông 163/QĐ-UBND,17/1/2011 Xã Bình An Tỉnh

Huyện Châu Thành

STT Tên di tích

(Tên đầy đủ theo xếp hạng)

Số Quyết định

(Ngày, tháng, năm)

 Địa điểm Cấp xếp hạng
01 Địa Điểm lịch sử Tháp Cù Là –

nơi diễn ra cuộc biểu tình chống Mỹ Ngụy

ngày10/6/1974

993-QĐ/BVHTT,28/9/1990 TT.Minh Lương Quốc gia
02 DTLSVH Đình Vĩnh Hòa Hiệp 75/2003-QĐ/UB,11/8/2003 Xã Vĩnh Hòa Hiệp Tỉnh

Huyện Kiên Hải

STT Tên di tích

 (Tên đầy đủ theo xếp hạng)

Số Quyết định

(Ngày, tháng, năm)

Địa điểm Cấp xếp hạng
01 DTLSVH Đình thần Nam Hải Đại Tướng quân (Lăng ông Nam Hải) 1865-QĐ/UB, 15/11/2006 Xã Lại Sơn Tỉnh

Thành phố Hà Tiên

STT Tên di tích

 (Tên đầy đủ theo xếp hạng)

Số Quyết định

(Ngày, tháng, năm)

 Địa điểm Cấp xếp hạng
01 DT thắng cảnh Mũi Nai 100-VH/QĐ, 21/1/1989 P.Pháo Đài Quốc gia
02 DT thắng cảnh Thạch Động 100-VH/QĐ, 21/1/1989 Xã Mỹ Đức Quốc gia
03 DT thắng cảnh Núi Bình San 100-VH/QĐ, 21/1/1989 P.Bình San Quốc gia
04 DTLS Nhà tù Hà Tiên 1571-VH/QĐ, 5/9/1989 P.Đông Hồ Quốc gia
05 Chứng tích chiến tranh chùa Xà Xía 74/2003-QĐ/UB,11/8/2003 Xã Mỹ Đức Tỉnh
06 DTLSVH chùa Phù Dung 18/2004-QĐ/UB, 7/4/2004 P.Bình San Tỉnh
07 DTLSVH chùa Tam Bảo 57/2004-QĐ/UB, 3/9/2004 P.Bình San Tỉnh
08 Thắng cảnh Núi Đá Dựng 44/2007-QĐ/BVHTT, 3/8/2007 Xã Mỹ Đức Quốc gia
09 DTLSVH đình thần Thành Hoàng 2995/QĐ-UBND, 27/11/2009 P.Đông Hồ Tỉnh

Huyện Giang Thành

STT Tên di tích

 (Tên đầy đủ theo xếp hạng)

Số Quyết định

(Ngày, tháng, năm)

Địa điểm Cấp xếp hạng
01 DTLS Đồn Biên phòng Phú Mỹ 3487/1998-QĐ/UB, 28/10/1998 Xã Phú Mỹ Tỉnh
02 DTLSVH đình thần Nguyễn Hữu Cảnh 2097/QĐ-UB, 26/9/2011 Xã Vĩnh Điều Tỉnh

Phú Quốc

STT Tên di tích

 (Tên đầy đủ theo xếp hạng)

Số Quyết định

(Ngày, tháng, năm)

 

Địa điểm

Cấp

xếp hạng

01 a. DTLS địa điểm Nhà tù Phú Quốc

b. DTLS Trại giam Tù binh Cộng sản Việt Nam/Phú Quốc

 

c. DTLS Trại giam Phú Quốc

a.1430-QĐ/BT, 12/10/1993

b.Sửa đổi tên tại QĐ số 2163/QĐ-BVHTTDL, 8/6/2012

2408/QĐ-TTg,31/12/2014

TT An Thới Quốc gia

 

 

Quốc gia đặc biệt

02 DTTC Khu bảo tồn biển Phú Quốc 3052/QĐ-UBND,4/12/2009 Xã Hòn Thơm,Bãi Thơm, Hàm Ninh Tỉnh
03 DTLSVH Đình Nguyễn Trung Trực  

1723/QĐ-UBND, 8/8/2011

 

Xã Gành Dầu

Tỉnh
04 DLTC Dinh Cậu 2455/QĐ-UBND, 27/11/2012 TT Dương Đông Tỉnh

Huyện An Biên

STT Tên di tích

(Tên đầy đủ theo xếp hạng)

Số Quyết định

(Ngày, tháng, năm)

 Địa điểm Cấp xếp hạng
01 DTLSVH Đình Nam Thái 3176QĐ/UB, 22/12/2004 Xã Nam Thái Tỉnh
02 DTLSVH Đình Lê Văn Duyệt 3089/QĐ-UBND,17/12/2015 Xã Tây Yên Tỉnh
03 DTLS Căn cứ U Minh Thượng gồm các điểm di tích: Bia chiến thắng Xẻo Rô, Bia chiến thắng Bàu Môn…. 1768-QĐ/VH, 28/6/1997 H.An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, U Minh Thượng Quốc gia

Huyện U Minh Thượng

STT Tên di tích

 (Tên đầy đủ theo xếp hạng)

Số Quyết định

(Ngày, tháng, năm)

 Địa điểm Cấp xếp hạng
01 DTLSVH chùa Khmer Xẻo Cạn  (Wát- Sđây -Woong- Sa) 58/2004-QĐ/UB, 3/9/2004 Xã Tây Yên Tỉnh
02 DTLSCM Căn cứ Ban An ninh Khu IX 685/QĐ-UBND, 7/4/2015 Xã An Minh Bắc Tỉnh
03 DTLSCM Căn cứ Tỉnh ủy Rạch Giá, giai đoạn 1972-1973 2997/QĐ-UBND, 29/12/2016 Xã Vĩnh Hòa Tỉnh
04 DTLS Căn cứ U Minh Thượng gồm các điểm di tích: Bia chiến thắng

Xẻo Rô, Bia chiến thắng Bàu Môn….

1768-QĐ/VH, 28/6/1997 H.An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, U Minh Thượng Quốc gia

Huyện An Minh

STT Tên di tích

 (Tên đầy đủ theo xếp hạng)

Số Quyết định

(Ngày, tháng, năm)

 Địa điểm Cấp

xếp hạng

01 DTLS Căn cứ U Minh Thượng gồm Các điểm di tích: Khu Trung tâm di tích, Khu chiến thắng Thứ Mười Một…. 1768-QĐ/VH, 28/6/1997 H.An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận, U Minh Thượng Quốc gia

Huyện Vĩnh Thuận

STT Tên di tích

 (Tên đầy đủ theo xếp hạng)

Số Quyết định

(Ngày, tháng, năm)

Địa điểm Cấp xếp hạng
01 DTLS Căn cứ U Minh Thượng gồm

Các điểm di tích: Bia chiến thắng Ngã Ba

Cây Bàng, Khu tập kết Vàm Chắc Băng,

Khu rừng tràm Ban Biện Phú….

1768-QĐ/VH, 28/6/1997 H.An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận U Minh Thượng Quốc gia
02 DTLSCM Căn cứ Tỉnh ủy Rạch Giá, giai đoạn 1966-1969 2998/QĐ-UBND, 29/12/2016 Xã Vĩnh Bình Bắc Tỉnh

Thăm chùa Tam Bảo Rạch Giá – nơi ra đời của tạp chí “tiến hóa”

Chua-Tam-Bao-Rach-Gia

Chùa Tam Bảo tọa lạc trên một khu đất rộng gần 4.000m² ở đường Sư Thiền Ân, TP.Rạch Giá (Kiên Giang). Chùa có lối kiến trúc tổng thể độc đáo, bố cục gọn gàng, kết hợp hài hòa các chất liệu gạch, gỗ, đá.

Đây là nơi được vua Gia Long ban sắc phong, cũng là nơi hoạt động của Đảng Cộng sản Đông Dương tỉnh Rạch Giá trước năm 1945. Nơi đây ra đời của “Tạp chí Tiến hoá” một trong những tờ báo tiên phong của phong trào cách mạng Việt Nam. Chùa còn là một trong những nơi sản xuất và cất dấu vũ khí cho cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ.

Trong quá trình hoạt động cách mạng tại đây đã ghi nhận những tấm gương khí tiết sáng ngời của những chiến sỹ cộng sản mặc áo cà sa, góp phần viết nên truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường của Đảng bộ và nhân dân Kiên Giang thời kỳ tiền khởi nghĩa. Chùa vẫn còn giữ được nét kiến trúc cổ và đã được Nhà nước công nhận di tích lịch sử văn hoá cấp Quốc gia năm 1998.

Chùa Tam Bảo Rạch Giá

Truyền thuyết chùa Tam Bảo

Tương truyền : Khi quân Tây Sơn đánh vào Gia Định , Nguyễn Anh sống sót dẫn một toán quân đi lánh nạn ở vùng biển Hòn Tre (huyện Kiên Hải). Trong lúc quân lính đói khát thì Bà Hoặng (tức Dương Thị Can) là người phụ nữ không có chồng con, nhưng là người giàu có ở trên đảo đã tiếp ứng cho chúa Nguyễn một ghe chở đầy gạo, muối và tơ tằm để quan quân họ Nguyễn qua cơn nguy khốn. Khi Nguyễn Anh lên ngôi Hoàng đế, đã cho người đi tìm Bà Hoặng ở Hòn Tre để báo ơn. Lúc này Bà đã vào đất liền, dựng một ngôi chùa nhỏ mái tranh vách đất vào năm 1802 ở Rạch Giá thờ đức Thích Ca Mâu Ni Phật. Quá trình tu, bà Hoặng luôn hướng về “tam bảo” mà theo bà đó là công đức quan trọng nhất của mọi nhà tu, cho nên bà đặt tên chùa là Tam Bảo. Tam Bảo chính là ba ngôi báu: Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo: Phật bảo là người giác ngộ không đam mê dục vọng thấp hèn, không tham lam trục lợi, không si mê mọi sự cám dỗ của vật chất, từ đó là có lòng vị tha, bao dung cao cả, mọi sự cám dỗ không làm lay chuyển được mình. Đó là đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Pháp Bảo là những lời dạy của đức Phật cho chư tăng được thể hiện ra trong kinh, luật và luận. Trong đó Phật đã tổng hợp mọi điều mà các tu sỹ phải làm theo. Tăng Bảo là một đoàn thể tăng già hoà hợp từ bốn vị trở lên, đi theo con đường chân lý của Phật, là những vị sư đứng giữa Phật và chúng sinh.

Sau khi bà Hoặng qua đời, Vua Gia Long (1802 – 1820) đã sắc phong cho ngôi chùa của bà là “Sắc Tứ Tam Bảo Tự”. Trong đó chữ “Sắc” : nghĩa là lệnh của Vua ban cho thần dân, đó là một loại giấy tờ cao nhất của triều đình do Vua ký và đóng dấu. Chữ “Tứ” : nghĩa là ban cho. Chữ “Tam Bảo” là ba ngôi báu: Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo. Chữ “Tự” có nghĩa là chùa. Rất tiếc là tấm sắc phong này đã bị mất trong thời kỳ bị giặc Pháp bố ráp những năm 30-40 của thế kỷ trước. Sắc phong của chùa trước đây là một loại văn bản bằng chữ nho có ấn tín của nhà vua viết trên nền giấy in nổi hoa văn rồng phượng màu vàng (kích thước khoảng 0,5 x1,2 m).

Nét đẹp không gian kiến trúc chùa Tam Bảo

Trải qua hàng trăm năm tồn tại, chùa Tam Bảo được trùng tu tôn tạo nhiều lần với nhiều thế hệ nhà sư trụ trì. Đây là ngôi chùa có nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc khá đẹp với một không gian yên tĩnh, trang nghiêm. Năm 1913 Hoà thượng Nguyễn Văn Đồng, Pháp danh Thích Trí Thiện hiệu Hồng Nguyện, đời thứ 39 dòng Lâm Tế về đây trụ trì cho xây dựng lại chùa, đến năm 1917 thì khánh thành. Gỗ xây chùa, gỗ tạc tượng đều được mua về từ Campuchia. Lần trùng tu gần đây nhất là năm 2000 chùa được xây dựng lại sạch đẹp, khang trang.

Khuôn viên chùa Tam Bảo Rạch Giá

Từ ngoài lộ du khách bước vào cổng chùa được xây theo lối kiến trúc mái Tam Quan, lợp ngói ống, các họa tiết trang trí như chữ “Vạn”, bông sen tượng trưng cho Phật pháp được đắp bằng vữa. Trong sân có cây bồ đề cổ thụ bốn mùa xanh tươi. Phật thoại có ghi rằng : “Khi đức Phật Thích Ca thành đạo, ngài ngồi thiền dưới cội bồ đề”. Dưới cội bồ đề, người nghệ nhân đã khéo léo tạo tác bằng chất liệu xi măng hình tượng đức Phật A Di Đà đang ngồi thiền định, trên đầu là 7 con rồng che chở cho ngài. Hình tượng trên gắn liền với tích truyện của Phật giáo, đó là xa xưa khi đức Phật “nhập định” dưới Thủy Cung đã được Long Vương tình nguyện hóa thân thành 7 con rồng để làm ngai đỡ cho Phật ngồi. Trong sân chùa có ngọn Tam Bảo Tháp được xây ba tầng. Tầng trên cùng là để thờ Phật. Tầng giữa thờ kinh và tầng dưới thờ tro cốt của các Hoà thượng đã trụ trì chùa Tam Bảo như Hòa thượng Thích Trí Thiện, hòa thượng Thích Bảo Châu vv…

Từ sân chùa, du khách vào Tây Lang là dãy nhà phía trước, bên phải Chánh điện. Nhà Tây Lang gồm 3 gian, mái lợp ngói, nền lót gạch Tàu dùng để làm Phòng thuốc nam miễn phí gọi là “Tuệ Tĩnh Đường”.

Từ Tây Lang có cửa thông ra một hồ sen trồng toàn sen trắng. Hoa sen là hiện thân của sự thanh cao trong sáng, thường gắn với đạo Phật. Phật ngồi trên đài sen đã trở thành một hình ảnh quen thuộc, trong hoa sen đã có quả, tượng trưng cho ý nghĩa nhân –quả của Phật pháp. Một cây cầu nhỏ, cong cong được bắc ngang hồ sen tạo lối dẫn lên bậc tam cấp đặt bức tượng Quan Thế Nam Hải cao khoảng 2 mét, đang đứng trên một toà sen. Hai bên cầu trang trí hình bánh xe tròn tượng trưng cho vòng luân hồi của tạo hóa. Ý nghĩa của cây cầu tượng trưng cho điểm cao của sự giác ngộ, còn hồ sen là tượng trưng cho chiều sâu của sự giải thoát. Xung quanh hồ sen là đủ các loại cây kiểng, nào là Hải Đường, nào là Thược Dược, Thiết Mộc Lan …… Hương thơm từ hoa cỏ quyện lẫn trong mùi hương trầm ngan ngát khiến du khách cảm thấy sảng khoái, quên hết mọi ưu phiền. Nếu có thời gian du khách hãy nán lại bên những khóm hoa, bởi ở đó nhà chùa có treo những tấm bảng nhỏ xinh ghi lại cảm xúc của các vị hòa thượng cũng như du khách có thi hứng khi viếng cảnh chùa).

Đối diện với Tây Lang là Đông Lang. Đây là dãy nhà được dùng làm Trụ sở Văn phòng thường trực của Ban trị sự Tỉnh hội Phật giáo Kiên Giang. Trong dãy nhà Đông Lang còn dành ra một gian làm phòng truyền thống trưng bày nhiều hình ảnh truyền thống của Phật giáo Việt Nam. Trong đó có những hình ảnh nổi bật như các vị lãnh đạo Đảng, nhà nước về thăm chùa qua các thời kỳ. Anh chân dung các vị Hòa thượng gắn liền với lịch sử đấu tranh cách mạng chùa Tam Bảo như các vị: Thích Trí Thiện, Thích Thiện An, Thích Thiện Chiếu, Pháp Linh…

Tòa Chánh Điện là dãy nhà tường xây, nền tôn cao 70 cm. Trên các vách tường, riềm cửa, người ta lắp vào đó những khuôn bông có hoa văn trổ thủng thay thế cho những cửa sổ. Chùa có ba tầng mái ngói, được lợp bằng ngói ống. Những hàng cột gỗ đen to, thân cột phình ra được đục đẽo thành hình bát giác trông có vẻ vững chắc hơn. Chánh điện được chia làm ba gian, mỗi gian đều có bàn thờ. Các bao lam bằng gỗ được chạm hình nổi, sơn son thếp vàng các hình rồng phượng, hoa lá, chim muông, đầy tính nghệ thuật tạo ấn tượng linh thiêng cho người xem. Trong đó hình tượng con rồng được sử dụng nhiều nhất. Xa xưa đã trở thành một biểu tượng nhất nguyên về vũ trụ, vừa ở dưới nước, vừa ở trên trời. Trong các thư tịch cổ và truyền thuyết dân gian, con rồng thường xuất hiện để nói lên vận mệnh của đế vương hoặc là hiện thân của thần nước.

Nhà Hậu Tổ là dãy nhà ba gian lợp ngói ống dùng làm nơi thờ vị tổ phái thiền dòng Lâm Tế và các vị Hòa thượng trụ trì chùa Tam Bảo qua các thời kỳ. Điểm độc đáo nhất của nhà Hậu Tổ là hai cánh cửa bằng gỗ lim dày khoảng 10 cm được biến thành một tác phẩm điêu khắc tinh xảo tuyệt đẹp với hình tượng thần Kim Cang gác cửa.

Hệ thống tượng phật và nét đẹp tín ngưỡng

Chùa Tam Bảo có nhiều pho tượng rất đẹp và thể hiện trình độ cao về kỹ thuật điêu khắc.

Tại Chánh điện, theo hướng từ ngoài cửa chính đi vào thì dãy Bàn thờ thứ nhất đặt tượng thờ Đức Phật Chuẩn Đề bằng gỗ 18 tay ngồi xếp bằng trên lưng con khổng tước cao 1.85 thước. Mặt tượng mang vẻ đẹp hiền từ. Những bàn tay có nét mềm mại uyển chuyển như đang múa. Đây chỉ là một loại hình của tượng Quan Âm (còn gọi là Quan Thế Âm – Avalokitecvara). Sự tích về Quan Âm có từ đời nhà Nguyên bên Trung Quốc được truyền vào Việt Nam từ thế kỷ XV rồi từ từ được “Việt hóa”. Tích truyện kể rằng : Công chúa Diệu Thiện là con thứ ba của vua Diệu Trang. Nàng đã từ bỏ cuộc sống vinh hoa phú quý chốn cung đình để tu hành. Quá trình tu hành khổ hạnh gặp phải biết bao ngăn trở, kể cả sự cấm đoán của vua cha. Khi vua cha bị loạn đảng đoạt ngôi, bị mắc chứng bệnh kỳ lạ, công chúa đã dâng hiến đôi tay đôi mắt của mình để chữa trị cho cha. Với tấm lòng bồ tát bao dung cao cả như vậy, cuối cùng công chúa cũng tu thành chính quả tại chùa Hương Tích và trở thành phật bà ngàn mắt ngàn tay. Con số “ngàn” ở đây không phải là một con số toán học mà chỉ là đại từ phiếm chỉ năng lực cứu độ vô biên của Phật Quan Âm.

Những mặt tường bên trong chánh điện có vẽ các bức tranh theo điển tích của đức Phật. Chẳng hạn như bức tranh thứ nhất Thái tử Tất Đạt Đa cùng với người hầu rời bỏ hoàng cung, cưỡi ngựa vượt sông Anôma vào rừng tìm lối tu hành. Bức tranh Thái tử Tất Đạt Đa tu luyện dưới gốc cây bồ đề trở thành Phậtvv

Ngay tại cửa chánh điện chùa Tam Bảo có bức tranh vẽ cảnh Thập Điện Diêm Vương. Nó giáo dục đạo lý “ở hiền gặp lành”, “ác giả ác báo”. Thập Điện Diêm Vương là mười vị vua cai quản các miền âm ty, mỗi vị đứng đầu một điện để xét công, luận tội những người mới chết, trên cơ sở ấy mà ban thưởn ay trừng phạt, sau đó cho đầu thai ở kiếp tương ứng. Những cảnh vẽ trong Thập Điện Diêm Vương thực chất là 10 bức tranh liên hoàn miêu tả những cảnh rùng rợn mà linh hồn những tội nhân khi chết đi bị đày xuống 10 cửa điện ở âm ty để chịu các hình phạt khác nhau.

Chùa Tam Bảo hàng năm tổ chức những ngày đại lễ như : Lễ Cầu An được tổ chức từ ngày mùng 8 đến rằm tháng Giêng âm lịch. Lễ Phật Đản được tổ chức long trọng vào ngày rằm tháng Tư âm lịch, kỷ niệm ngày đức Phật ra đời. Lễ Vu Lan (rằm tháng Bảy vào rằm tháng Bảy âm lịch).

Chùa Tam Bảo – những dấu ấn lịch sử

Thời kỳ tiền khởi nghĩa ở Rạch Giá.

Thời kỳ 1936 -1939 ở nước Pháp lực lượng dân chủ và tiến bộ dành được thắng lợi trong cuộc bầu cử. Chính phủ Pháp có nhiều cải cách đối với các nước thuộc địa. Đảng ta có chủ trương chuyển hướng hoạt động công khai. Tại chùa Tam Bảo, ta tranh thủ những người có cảm tình với cách mạng đứng ra thành lập hội Phật học kiêm tế Rạch Giá. Ban đầu chỉ có 3 vị sư là Hoà thượng Thích Trí Thiện, Thích Thiện Chiếu và nhà sư Pháp Linh chủ động làm nòng cốt thành lập Hội để biến chùa Tam Bảo trở thành một căn cứ kháng chiến bí mật. Danh từ “Hội Phật Học Kiêm tế” nghĩa là hội không chỉ nghiên cứu Phật học mà còn để thực hành “kinh bang tế thế”, dùng tôn giáo để hoạt động chính trị, lãnh đạo phong trào yêu nước tại địa phương.

Tháng 1 năm 1938 Hội ra tạp chí Tiến Hoá làm cơ quan ngôn luận. Thông qua tạp chí Tiến Hoá quần chúng nhân dân sẽ được giác ngộ cách mạng, từ đó mạnh dạn đứng lên đoàn kết thành một lực lượng cách mạng hùng hậu đấu tranh chống Thực dân Pháp xâm lược. Ngày 1/1/1938 Tạp chí Tiến Hoá đã ra mắt số đầu tiên. Nội dung Tạp chí gồm các phần như: thông luận, diễn đàn, phê bình nghiên cứu, bách khoa thưởng thức, thời cuộc. Đây là tờ tạp chí có nội dung phong phú lành mạnh nhất so với các báo chí Phật giáo lúc bấy giờ. Mục triết học thường thức bàn về duy tâm luận và duy vật luận để quần chúng biết thế nào là duy vật biện chứng. Mục bách khoa thường thức để truyền bá khoa học. Mục y học hướng dẫn trị các chứng bệnh thông thường. Mục tin tức thường đưa tin về nước Pháp để quần chúng hiểu được nước Pháp không phải là cường quốc, nước Pháp không có gì đáng sợ.

Tạp chí Tiến Hóa nghiên cứu về Phật giáo nhưng có tư tưởng rất tiến bộ. Tư tưởng đó thể hiện như : Chống lại chính sách ngu dân, mị dân của thực dân Pháp, chống lại chính sách ru ngủ quần chúng bằng kinh sách, bằng mê tín dị đoan, Tạp chí tiến hóa còn đề cập đến vấn đề xã hội như mở trường học, lập cô nhi viện, lập phòng khám bệnh và phát thuốc, vận động tập thể dục vv….

Tạp chí Tiến Hóa là tạp chí cách mạng, tuyên truyền tinh thần yêu nước chống Thực dân Pháp và truyền bá chủ nghĩa Mác Lên nin. Báo ra được 15 số (1938-1939) thì phải đóng cửa trước sự bố ráp của kẻ thù.

Trạm giao liên của Tỉnh uỷ Rạch Giá

Trong thời kỳ Đảng còn hoạt động bí mật, nhiều cuộc họp bí mật của Đảng diễn ra tại chùa. Sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ bị thất bại, Tỉnh uỷ lâm thời Rạch Giá chọn chùa Tam Bảo làm đầu mối giao thông liên lạc, đồng thời làm nơi cất dấu vũ khí từ rừng U Minh Thượng đưa về. Công việc đang tiến hành trôi chảy thì đầu tháng 6 năm 1941, cơ sở bị lộ.

Đêm 14/6/1941 lính mật thám Sa Đéc cùng Sở mật thám Rạch Giá bao vây chùa Tam Bảo, rồi một toán ập vào chùa lục soát, bắt người. Đồng chí Trương Minh Cụ có mặt trong chùa nhưng tẩu thoát. Đồng chí Cụ gặp đồng chí Lâm Xuyến là thợ điện ở nhà máy đèn Rạch Giá, hai người đi báo cho đồng chí Trần Văn Thâu chuyển số lựu đạn ra khỏi chùa Tam Bảo nhưng không kịp. Nhiều người đã chạy thoát. Trong chùa đêm đó chỉ còn Hòa thượng Thích Trí Thiện (tức Nguyễn Văn Đồng), Hoà thượng Thích Thiện Ân ( tức Trần Văn Thâu) thầy giáo Tất và một vài cô vãi.

Bọn lính lục soát từ Chánh điện, đến nhà Hậu tổ và các Liêu. Khi xét trong nơi ở của hoà thượng Thích Thiện Ân bắt gặp nhiều lon sữa bò, chão bể, cọ sơn, dầu hắc, những ống tre đựng tài liệu mật, những truyền đơn …. Vì không khai, hoà thượng bị giặc đánh đập tra tấn rất tàn nhẫn. Khi chúng đào từ vườn chùa phát hiện được một cái khạp trong đó đựng 61 quả lựu đạn. Địch tiếp tục tra tấn, trói Hoà thượng treo lên nóc chùa. Một lúc sau Hoà thượng dụ địch rằng, vẫn còn một vài chỗ cất dấu vũ khí. Chúng bèn hạ Hoà thượng xuống và cởi trói để người chỉ nơi còn vũ khí. Khi đi ngang qua chiếc bàn chứa đầy lựu đạn, Hoà thượng nói: “Đồ này không xài bây giờ thì còn xài lúc nào nữa”. Nói đoạn, Hoà thượng liền xô mạnh chiếc bàn, một tên mật thám đỡ bàn lại, chỉ có một quả lựu đạn rơi xuống gạch nổ tung, làm cho vài tên mật thám bị thương. Chúng lại tiếp tục treo thầy Thiện An lên cao, đánh đập tra khảo.

Cuối cùng bọn lính mật thám rút ra khỏi chùa, chúng bắt hết người, vơ vét tài sản. Những người bị bắt, chúng giải đi Sa Đéc (Đồng Tháp) rồi đi tòa đại hình ở Sài Gòn. Chúng tuyên án tám Đảng viên bị kết án tử hình là : Trần Văn Thâu, Tám Lọ, Ninh thợ bạc, Râu lớn, Râu nhỏ, Phan Văn Bảy …. Chị Hồng, chị Bé, chị Bưởi án chung thân khổ sai, Bảy Đà 15 năm tù ở. Hòa thượng Thích Trí Thiện (Nguyễn Văn Đồng) 5 năm tù biệt xứ, thầy giáo Tất được tha bổng.

Tiếng bom nổ tại chùa Tam Bảo chứng minh ngọn lửa cách mạng của nhân dân Kiên Giang vẫn rực cháy và sắp bùng lên đốt sạch quân xâm lược. Đó là bước chuẩn bị tất yếu góp phần vào thắng lợi lịch sử của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên mới cho cả dân tộc ta.

Đấu tranh chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm

Sau sự kiện đêm 14/6/1941, chùa Tam Bảo bị chính quyền thực dân đóng cửa. Chùa trở nên hoang vắng đìu hiu. Trong chùa chỉ còn lại một vài bà vãi già chăm lo việc nhang khói. Phật tử cũng không dám bước chân đến chùa vì hàng ngày chùa luôn bị bọn mật thám canh gác. Cho đến khi Cách mạng tháng Tám thành công thì bọn thực dân mới run sợ, chúng cho mở cửa chùa để làm dịu bớt tình hình. Nhân đó tăng ni Phật tử mở một Đại trai đàn cầu siêu cho Hoà thượng Thích Trí Thiện, Thiền sư Thích Thiện Ân cùng các đồng chí đã hy sinh. Năm 1951 Hội Phật Học Nam Việt tỉnh Kiên Giang tiếp quản chùa và đặt trụ sở tại đây. Chùa dần trở lại sinh hoạt tín ngưỡng thu hút Phật tử trong tỉnh đến chiêm bái ngày càng đông. Hội hoạt động mạnh từ năm 1955 -1968 tham gia vào cuộc đấu tranh của Phật Giáo chống chế độ độc tài Ngô Đình Diệm. Mặc dù chùa luôn đặt dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của mật vụ, nhưng lực lượng đấu tranh vẫn thành công trong việc rải truyền đơn và phát tờ tin kêu gọi nhân dân vùng lên chống ách kìm kẹp của chế độ độc tài Ngô Đình Diệm.

“Sắc Tứ Tam Bảo Tự”là ngôi chùa cổ kính có niên đại từ thế kỷ 18, trải qua những bước thăng trầm lịch sử, chùa đã có đóng góp nhất định vào phong trào giải phóng dân tộc. Chùa là một cơ sở bí mật để vận động phong trào yêu nước trong giới tôn giáo giai đoạn 1930 -1945 và đấu tranh chống lại chế độ độc tài Ngô Đình Diệm nhưng năm 50 -60 của thế kỷ trước. Đây là trụ sở của Hội Phật Học Kiêm Tế, xuất bản tạp chí Tiến Hoá, phát triển các hoạt động từ thiện xã hội như: mở phòng thuốc miễn phí, mở lớp học bình dân, cô nhi viện vv…Đó chính là “Đoá hoa sen đỏ rực” ánh hào quang bác ái của đức Phật tỏa hương giữa đời thường. Chùa Tam Bảo còn là nơi ghi dấu chiến tích anh hùng thời kỳ chống Thực dân Pháp xâm lược, đây là nơi chế tạo và tàng trữ vũ khí, nơi in truyền đơn, là đầu mối giao liên giữa Xứ uỷ Nam kỳ và Tỉnh uỷ Rạch Giá. Sự hy sinh cao đẹp của Thiền sư Thích Thiện Ân và các nhà sư yêu nước của chùa Tam Bảo đã góp phần viết nên trang sử anh hùng của Đảng bộ và nhân dân Kiên Giang. Năm tháng đi qua nhưng hình ảnh của các nhà sư yêu nước sống mãi trong tâm hồn các Phật tử và nhân dân Kiên Giang.

https://dulich.petrotimes.vn/

Bùi Công Ba

Món ngon không thể bỏ qua khi đến Phú Quốc

Hải sản Phú Quốc

Đảo ngọc Phú Quốc giữ riêng cho mình những đặc sản hiếm chẳng nơi đâu có được. Vì thế, có dịp thăm thú nơi đây, nhớ tìm và thưởng thức những món ngon kẻo tiếc mãi một chuyến đi…

Phú Quốc – hòn đảo lớn nhất Việt Nam, là có thể thưởng thức mặt trời lặn trên đại dương, rất đáng đến một lần trong đời. Không chỉ có biển mênh mông, tươi mát; hòn đảo ngọc này còn có núi đồi và rừng nguyên sinh xanh mướt bao phủ, với nhiều thác, suối chảy ngoạn mục. Nó cũng giữ riêng cho mình những đặc sản hiếm nơi đâu có được.

Gỏi cá trích

Cá trích có rất nhiều và quanh năm ở vùng biển Phú Quốc vì thế, gỏi ở đây lúc nào cũng tươi mới và hấp dẫn.

Cá vừa từ biển được làm sạch, thái mỏng ngon mắt lắm, miếng nào miếng ấy mướt mát. Nước cốt chanh, ớt, hành tây thái thật mỏng và nhỏ được trộn đều với cá vừa sơ chế. Đi kèm món này không thể thiếu rau sống lấy từ rừng trên đảo, dừa khô nạo, bánh tráng dẻo, dai cùng nước chấm làm từ từ ớt, tỏi và đậu phộng rang pha với mắm ngon chính hiệu Phú Quốc.

Thưởng thức món gỏi cá trích tại Phú Quốc

Nguyên đĩa cá sống có thể khiến nhiều người e ngại nhưng cứ mạnh dạn thử cuốn bánh tráng với rau, dừa nạo, cá trích, chấm mắm đặc biệt sẽ thay đổi ngay suy nghĩ.

Miệng ngập tràn các vị ngòn ngọt, giòn giòn của cá, thơm thơm, beo béo của dừa, cay nồng và đậm đà, bùi ngon của nước mắm, mà tuyệt không có mùi tanh. Chẳng thế mà người dân còn có câu: “Nước mắm ngon đem dầm con cá trích – Anh có vợ rồi đứng xích cho xa”.

Dễ dàng tìm được món gỏi dân dã ở đường 30 tháng 4, Trần Hưng Đạo… trên đảo.

Rượu sim Phú Quốc

Ăn cá trích thì phải uống rượu sim, có thế món ăn mới tăng thêm hương vị đậm đà. Rượu sim vừa có tác dụng giúp ăn ngon hơn. Sim được xem như là một vị thuốc có nhiều tác dụng tốt. Đặc biệt trái sim có thể trị bệnh nhức mỏi hiệu quả.

Thường thức rượu sim Phú Quốc

Rượu vang sim Phú Quốc được coi là một dược tửu được chế biến từ trái sim màu tím theo phương thức cổ truyền có tác dụng dễ tiêu hóa và tăng cường sinh lực.

Nấm Tràm

Nấm tràm – đặc sản Phú Quốc, cả năm chỉ có một lần trên đảo. Chúng mọc nhanh thật nhanh sau những cơn mưa đầu mùa trong các rừng tràm, và hết mùa cũng thật nhanh. Chỉ khoảng hơn một tháng thôi, nên phải tìm hiểu kĩ lắm mới ra đúng mùa để thưởng thức nấm tươi nấm mới từ rừng mang về nó ngon đến thế nào.

Nấm tràm nấu với gì cũng ngon. Nấm tươi được nấu với hải sản như tôm, cá, mực, đặc biệt là chả cá viên. Nấm khô thì xào với bào ngư hoặc hải sâm. Hay thậm chí nấu nấm tràm với thịt gà, thịt heo và trứng cũng… “bá cháy”.

Món canh nấm sẽ mang lại một buổi ăn thật thú vị và đầy chất dinh dưỡng làm bạn sẽ không sao quên được Phú Quốc

Những chiếc nấm nhỏ khi qua chế biến rất giòn xốp, và càng nhai càng thấy vị đắng nhẹ lan dần, lan dần. Ăn miếng đầu tiên có thể ngạc nhiên, miếng thứ hai, thứ ba… thì thích thú và sau đó cứ muốn ăn mãi, ăn nữa, ăn hoài không chán.

Dù vậy, khách phương xa đến Phú Quốc có thể thưởng thức nấm tràm bất cứ lúc nào tuy không phải nấm tươi mà là nấm khô và đông lạnh.

Bánh tét mật cật

Đây là món bánh “độc quyền” một trong những đặc sản Phú Quốc, của huyện đảo này. Thường người ta chỉ dùng lá mật cật để chằm nón lá, chẳng hiểu vì lí do gì mà dân ở đây lại dùng nó gói bánh tét thành đòn hình tam giác.

Lá mật cật hẹp, không to như lá chuối nên phải thật khéo léo. Và cảng phải cẩn thận vì bánh được cột bằng gân lá, chẳng thể nào mềm như lạt tre. Buộc chặt quá thì bánh chín không đều, lỏng quá thì bánh nong nước, nhão.

Bánh tét mật cật Phú Quốc là một trong những món đặc sản của đảo Ngọc, được gói từ lá mật cật

Cũng là chiếc bánh tét bình thường với nếp, nhân đậu xanh, thịt heo thôi nhưng gói bằng thứ lá đặc biệt này làm cho bánh cũng mang vẻ đặc biệt hơn.

Bánh mang màu xanh ngọc bích của nước cốt lá ngót và lá dứa ngon lành, thêm mùi thơm lừng khó cưỡng. Khi ăn, gạo quyện với nhân đậu xanh bùi, thịt mỡ béo, mùi lá dứa thơm, rất tuyệt vời.

Món nhum

Những “quả cầu gai” sau khi chế biến thành những món ngon, được đấng mày râu rất “ưa” bởi sự bổ dưỡng của nó. Từ nhum, người ta làm thành được kha khá món từ xào, nấu cháo, ăn mù tạt…

Cách ăn phổ biến nhất là nhum nướng. Nhum sau khi sơ chế được cho thẳng lên bếp than hồng rực, đến khi mùi tỏa ra là được. Người ăn, cứ thế nạo phần thịt bên trong và chấm muối tiêu ớt chanh sẽ cảm nhận được nhum béo béo thơm thơm. Ai thích lạ hơn thì cho mù tạt vào và ăn sống, uống thêm cốc bia thì thú lắm.

Ngoài vị ngon từ nhiều món, thịt nhum là thực phẩm giàu chất bổ, cung cấp nhiều dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể

Ngoài ra, món cháo nhum hay nhum xào cũng ngon không kém, lại giúp nhanh lấy lại sức. Đặc biệt, là chả nhum. Thịt nhum tươi với các loại gia vị tiêu, hành, nước mắm ngon trộn đều, cho vào chiên dùng với bánh tráng nướng, rau sống, chuối chát chấm với mắm Phú Quốc quả là chẳng thể nào mà quên được.

Lưu lại Phú Quốc, mỗi ngày chọn một món nhum là sẽ hết sợ mấy con gai góc nhọn hoắt này ngay.

Còi biên mai nướng

Cả con sò biên mai to, nhưng thịt nhão, không ngon, mọi tinh túy chỉ tập trung vào hai lớp cơ thịt nối liền hai mảnh con sò, gọi là “còi”.

Từ lóng thịt chắc này, người ta chế ra vô vàn các món nhưng đặc biệt ngon và giữ vị thì phải là coi biên mai nướng. Dù là nướng không hay nướng muối ớt thì cùng đậm đà. Vừa hàn huyên, vừa cầm từng xâu còi mai tươi hoặc ướp muối hạt to, đã được đâm nhuyễn vào đó mấy trái ớt đỏ tươi, nướng trên than hồng là trải nghiệm khó quên.

Người nướng phải khéo léo, không để lâu quá làm còi bị khô, cứng, chỉ cần vừa chuyển vàng là được. Khi ăn, còi biên mai kết hợp với chao, rau húng, diếp cá, xà lách, chuối chát, dưa leo…

Sò điệp nướng pho mai

Từng miếng còi giòn dai và ngọt quyện với cái mặn mòi của muối hột, cay xé lưỡi của ớt tươi và thơm đặc biệt của chao, rau thơm cho cảm nhận tròn vị khó tả.

Khách ngồi bên biển mà ăn món này thì có khi muốn ở lại làm dân đảo luôn./.

M.T (Nguồn: phuquocnews)

Tận mắt ngắm vẻ đẹp hút hồn của Bãi Khem Phú Quốc

Bai-Khem-Phu-Quoc

Với triền cát trắng tinh mịn màng trải dài hình cánh cung, Bãi Khem (Phú Quốc) là điểm đến mới không thể bỏ qua. Đặc biệt, du khách còn có dịp ghé thăm Mũi Ông Đội, địa danh hai mặt biển độc đáo.

Nằm cách trung tâm thị trấn Dương Đông khoảng 25km, Bãi Khem (phía Nam đảo Phú Quốc) là địa danh mới đang được yêu thích ở Phú Quốc.

Một góc bãi Khem, phía xa là bãi Sao – Phú Quốc.

Trải dài thoai thoải hình vòng cung với một viền cát trắng nổi bật giữa màu xanh cây rừng và biển khơi lồng lộng, bãi Khem là một trong những bãi biển đẹp nhất Phú Quốc với cát trắng mịn như kem, nước xanh ngắt màu ngọc bích nhìn thấu đáy mang đến cảm giác thư thái lạ thường.

Nơi đây là một vịnh biển riêng tư, đặc biệt phù hợp cho những chuyến du lịch nghỉ dưỡng.

Không dài rộng phóng khoáng như bãi Trường hay một số bãi biển nổi tiếng khác trên đảo Ngọc, mà bãi Khem với đường cong quyến rũ làm say lòng du khách bởi triền cát trắng phau mê hoặc.

Cát biển nơi đây không mang màu vàng tươi hay vàng đậm ngả sang nâu như sắc biển nhiều vùng khác mà trắng mịn tựa như kem.

Bãi Kem hay thường được gọi là Bãi Khem là một trong những bãi biển đẹp nhất tại Phú Quốc

Hạt cát ở đây có độ lắng và mịn tới mức, cho dù đặt chân lên nhưng cát vẫn im lìm chìm xuống, không làm nước bị vẩn đục. Đây là điểm đặc biệt nhất, hiếm có nơi nào có được bãi cát trắng đặc thù như vậy.

Với vẻ độc đáo rất riêng, bãi Khem là địa danh không nên bỏ lỡ khi du khách tới thăm Phú Quốc.

Đặc biệt, cạnh bãi Khem, du khách có thể ghé thăm Mũi Ông Đội với địa hình độc đáo hai mặt giáp biển. Ở vị trí hiếm có trên thế giới, Mũi Ông Đội là nơi duy nhất du khách có thể ngắm mặt trời mọc và lặn ở cùng một vị trí.

Cảnh quan sinh động với hình thế độc đáo, bãi cát trắng mịn, các ghềnh đá, bãi đá hùng vĩ và những rặng san hô nhiệt đới đa sắc màu… mang tới trải nghiệm chưa từng có về một thiên đường biển nhiệt đới hiếm có trên thế giới.

Nơi đây còn là một điểm câu cá, lặn ngắm san hô lý tưởng tại Phú Quốc.

Phía cuối bãi biển là di tích Giếng Tiên, giếng nước ngọt nằm ngay sát bờ biển nhưng không bao giờ cạn. Chỉ là một mạch nước ngầm nhỏ nhưng theo người dân địa phương, dù có lấy đi bao nhiêu nước, thì giếng cũng không bao giờ cạn. Thậm chí, khi thủy triều lên tràn gần tới mé nước, thì nước trong hồ cũng không hề nhiễm vị mặn.

Tới thời điểm này, Bãi Khem và Mũi Ông Đội đang chưa nhiều các bàn chân khám phá bởi nơi đây được quân đội quản lý. Níu chân du khách bởi vẻ nên thơ, Bãi Khem và Mũi Ông Đội là điểm đến mới hấp dẫn và ấn tượng, mang tới những trải nghiệm độc đáo cho du khách.

Tới đây, khi quy hoạch đảo Ngọc Phú Quốc được thực hiện, khu vực An Thới – thị trấn Dương Đông trở thành một trục chính của quy hoạch, chắc chắn Bãi Khem và Mũi Ông Đội sẽ trở thành những địa danh không thể bỏ lỡ cho những du khách ưa khám phá.