Đền Thờ Công Chúa Bàn Tranh ở Phú Quý

Đền thờ Công chúa Bàn Tranh hay còn được người dân trên đảo gọi là đền thờ Bà Chúa Xứ, là ngôi đền cổ do người Chăm xây dựng từ cuối thế kỷ XVI. Đền thờ được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sử quốc gia tại Quyết định số 227/QĐ-BVHTTDL ngày 28/01/2015.

Theo truyền thuyết, Bàn Tranh là công chúa vương quốc Chămpa, do phạm tội đã bị vua cha đày ra đảo khi còn rất trẻ cho đến về già cũng không một lần được trở về đất liền và sau khi mất, xác Bà đã được an táng tại đây. Khoảng đầu thế kỷ XVII ngôi đền được người Việt tiếp quản, gìn giữ và thờ phụng cho đến ngày nay.

Đền thờ Bà Chúa Xứ ở Phú Quý

Đền thờ công chúa Bàn Tranh tọa lạc tại xã Long Hải, huyện Phú Quý, tỉnh Bình Thuận và có hướng chính quay về phía Nam; cách núi Cao Cát khoảng 500m về phía Tây – đây là ngọn núi hùng vĩ, nên thơ và được coi là thắng cảnh đẹp nổi tiếng của đảo Phú Quý. Từ cảng Phan Thiết theo đường biển về hướng Đông Nam 56 hải lý (105km) là đến đảo Phú Quý, từ đây theo con đường nhựa liên xã đi qua xã Long Hải khoảng 8km là đến di tích.

Đền thờ công chúa Bàn Tranh thể hiện bước kế thừa, tiếp biến và dung hợp văn hóa của cộng đồng người Việt khi đến tiếp quản và xây dựng cuộc sống trên đảo Phú Quý. Điều đặc biệt ở đây là tín ngưỡng thờ công chúa Bàn Tranh đã trở thành tín ngưỡng chung và thiêng liêng nhất của người dân trên toàn đảo; việc trông coi, thờ phụng và cúng tế hàng năm được diễn ra luân phiên giữa các làng trên đảo, mỗi làng được lưu giữ sắc phong, phụng thờ và cúng tế trong thời gian 1 năm, qua năm sau sẽ luân chuyển sang làng khác và cứ thế luân chuyển khắp các làng trên đảo theo trình tự.

Cổng đền thờ Công chúa Bàn Tranh

Từ khi tạo lập đến nay, đền thờ công chúa Bàn Tranh đã trải qua gần 400 năm tồn tại, do tác động của môi trường biển đảo khắc nghiệt nên ngôi đền đã được các thế hệ người Chăm và người Việt tiếp nối tu bổ, tôn tạo nhiều lần nhưng vẫn giữ nguyên được hướng của ngôi đền và phần mộ của công chúa Bàn Tranh trong đền thờ, lấy đó làm cốt để đặt khám thờ bên trên. Trong đó, đợt trùng tu năm 2009 đã làm cho diện mạo đền thờ trở nên bề thế và trang nghiêm với các hạng mục: Cổng chính, Cột cờ, Bình phong, Võ ca và Chính điện được phân bố trên một trục thẳng; ở về phía bên hữu hơi lệch về phía sau theo hướng nhìn từ trước vào là nhà Khói, bao bọc di tích là hệ thống tường thành kiên cố.

Đền thờ công chúa Bàn Tranh còn lưu giữ 3 bia Kut thờ công chúa Bàn Tranh được tạc từ đá hoa cương màu xám xanh có niên đại khoảng 400 năm. Các di vật là hoành phi, câu đối, chiêng, trống, chuông, chân đèn, đỉnh đồng, lư hương và 5 sắc phong của các đời vua triều Nguyễn phong tặng cho công chúa Bàn Tranh. Ngoài ra, còn có 3 sắc phong chung cho cả công chúa Bàn Tranh và thầy Sài Nại. Thầy Sài Nại là thương gia sống vào thế kỷ XVI, thường theo các thương thuyền vượt đại dương đến nhiều nước để buôn bán và bên cạnh nghề buôn ông còn là một thầy thuốc giỏi. Trong một chuyến hải trình, thuyền bị bão tố đẩy dạt vào đảo Phú Quý và lúc này trên đảo đã có công chúa Bàn Tranh; Thầy Sài Nại đã kết nghĩa chị em với công chúa, ở lại đảo sinh sống, hành nghề bốc thuốc chữa bệnh cứu giúp dân nghèo. Sau khi qua đời, ông đã được người dân an táng, lập đền thờ trên đảo.

Vào một ngày nọ, vì lý do cãi lại thánh chỉ của vua cha nên Bàn Tranh công chúa bị khép vào tội phản nghịch, phải chịu cảnh lưu đày tới nơi biên ải, vĩnh viễn không được trở về. Dù phép nước nghiêm cẩn, nhưng vì thương con nên vua cha lệnh cấp cho hai tỳ nữ, một số vật dụng như: lều, bạt, dụng cụ lao động, một số hạt giống và lương thực đủ dùng trong một năm. Sau một thời gian dài ngược sóng lênh đênh trên biển, đoàn thuyền áp giải người con gái phạm luật triều đình cũng đã cập bến, đến đảo an toàn.

Khi thuyền cập bến, Phú Quý hiện ra là một hòn đảo hoang sơ, vắng vẻ và trơ trọi vô cùng! Trên đảo lúc bấy giờ chỉ toàn là cây rừng, cỏ dại mọc um tùm; cộng thêm có gió bấc thổi mạnh và cái rét cuối năm nên quang cảnh xứ đảo chiều đông càng thêm hoang tàn, xơ xác. Cảnh vật ấy càng khiến làm cho lòng người đi đày càng thêm cô quạnh.

Nhưng âu là số phận đã định, Bàn Tranh công chúa cùng tỳ nữ của mình tìm nơi dựng lều, quyết định an trụ và bắt đầu công cuộc khai hoang phục hóa, trồng trọt mưu sinh. Một túp lều bằng cỏ tranh nằm nép mình bên chân núi Cao Cát thuộc thôn Đông Hải, xã Long Hải hiện nay đã được dựng lên để che sương gió, nắng mưa.

Trời không phụ lòng người, từ một hòn đảo hoang vu, cỏ dại mọc nhiều, nhờ sức người khai phá, chăm bón, tưới tiêu đã trở thành vùng đất trù phú, được phủ bởi màu xanh mượt mà của những nương khoai, bắp, đậu… Đặc biệt, là màu xanh giống lúa cạn (lúa đỏ) và bông để dệt vải Bạch bố dùng để nộp thuế cho triều đình mà sách Đại Nam thực lục và Đại Nam nhất thống chí (2 bộ chính sử do triều Nguyễn (1802 – 1945) biên soạn) đề cập.

Thời gian thấm thoát trôi qua, những cánh buồm xuôi ngược, từ các tỉnh miền Trung, ngư dân người Việt đi biển tránh bão tố ghé nơi đây ẩn nấp, thấy đất lành nên họ ở lại làm ăn. Từ đây, nhiều làng mạc, xóm thôn được mọc lên ngày càng nhiều.

Do có công đầu trong việc đưa lên đảo Phú quý những giống cây lương thực, hoa màu và hướng dẫn người dân trên đảo khai khẩn đất đai làm ruộng vườn, hình thành xóm làng và chỉ dạy người dân cách trồng trọt, làm các nghề thủ công. Với những công lao to lớn đó, nhân dân trên đảo đã tôn vinh, gọi là Bà Chúa đảo.

Sau khi Bà mất, để tưởng nhớ công ơn người dân đã xây đền thờ Bà. Hàng năm đúng vào ngày mất của Bà, nhân dân Phú Quý mở hội tại đền thờ, trước là để tri ân công đức Bà, sau là để những người con của đảo có dịp gặp gỡ, vui chơi và cùng hướng tới những giá trị cội nguồn tốt đẹp của dân tộc.

Do khi sống có nhiều công trạng trong việc khai khẩn đất đai, quy tụ nhân dân hình thành xóm làng, khi mất đi linh hiển bảo vệ vùng biển phía Nam của Tổ quốc, hộ trì dân đi biển tai qua nạn khỏi trong nhiều trận bão tố, nên công đức của Bà được truyền tụng: Hạnh đức của Bà đời chiêm ngưỡng ngàn năm tôn kính; Công ơn sự nghiệp độ linh thiêng muôn thuở còn ghi.

Các vua triều Nguyễn cũng đã phong Bà là Hiển dũng Chương uy Hùng nghị Đoan túc chi Thần, từ đời vua Minh Mạng (1820-1840) cho tới vua Khải Định (1916-1925) tặng cho Bà 8 sắc phong, giao cho nhân dân đảo Phú Quý thay nhau hương khói, phụng thờ.

Ngày nay tuy người Chăm không còn sinh sống trên đảo, nhưng câu chuyện về nàng công chúa Chăm đã trở thành tấm gương sáng, đi vào tâm thức người dân mà cho đến hôm nay danh thơm tiếng tốt vẫn được gìn giữ và trao truyền cho hậu thế.

Tình sử Công chúa Bàn Tranh trên đảo Phú Quý

Theo sử Chăm, Công chúa Bàn Tranh là con gái út của vua Po Kathit, còn có tên Po Dam, hiệu Bàn La Trà Nguyệt (Maha Banla Tranguyet) làm vua từ năm 1458 đến 1460. Giai đoạn này nội chiến xảy ra liên miên, do tranh giành ngôi vương, Vương quốc Champa chia thành hai Tiểu vương quốc Bắc – Nam.

Công chúa Bàn Tranh của Tiểu vương quốc Champa Panduranga (Chiêm Thành Nam – Phan Rang, gồm các vùng đất Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận) đem lòng yêu say đắm chàng trai Po Sanimpan cùng dân tộc nhưng theo đạo Hồi (Isalam cũ), phạm điều cấm kỵ tôn giáo đối với người Chăm theo đạo Bà La Môn (Ấn Độ giáo) truyền thống. Cuộc tình của Công chúa Bàn Tranh đã gây ra sóng gió dữ dội trong Hoàng tộc, gây bất bình trong thần dân Chiêm Thành lúc bấy giờ.

Dù rất yêu thương công chúa, nhưng Tiểu vương Po Kathit không thể chấp nhận một cuộc hôn nhân khác tôn giáo và sự phản đối gay gắt của thần dân với Hoàng tộc. Vua đành để cho quần thần khép nàng vào tội phản nghịch, buộc ly khai khỏi Hoàng tộc, phạt lưu đày đến đảo hoang, vĩnh viễn không bao giờ được trở về. Tiểu Vương cấp cho Bàn Tranh hai tỳ nữ theo hầu cùng một số dụng cụ sản xuất, đánh bắt hải sản, lều bạt và nhiều hạt giống lương thực để bắt đầu một cuộc sống nơi hoang đảo như một ân huệ sau cùng đẫm tấm lòng nhân ái của vua cha.

Sau nhiều ngày giong buồm, chèo ngược sóng lênh đênh trên biển xuôi về hướng Đông Nam, nơi có Thánh Ala ngự trị vĩnh hằng trong tôn giáo Bà La Môn, đoàn thuyền áp giải Công chúa Bàn Tranh đã cập vào bờ của một hòn đảo có hình dáng như một con cá Thu, chính là xã Ngũ Phụng, Cù Lao Thu – huyện đảo Phú Quý ngày nay.

Hơn 100 binh sĩ và cung hầu rước công chúa xuống thuyền lạy từ biệt lần cuối cùng để giong thuyền về bờ, bỏ lại công chúa và một số tùy tùng, người hầu tâm phúc nơi hoang đảo, bắt đầu một sự sống mới. Công chúa Bàn Tranh cùng những người hầu dựng lều ngay dưới chân núi Cao Cát, thuộc thôn Đông Hải, xã Long Hải ngày nay, tiến hành phát quang cỏ dại, chặt cây rừng, dọn đất, tìm nguồn nước ngọt và giữ lửa để bắt đầu tạo dựng cuộc sống tự lập, tự cung, tự cấp như thuở hồng hoang của lịch sử. Công chúa Bàn Tranh và những người hầu tâm phúc chính là những ngư dân đầu tiên khai phá vùng đất hoang đảo.

Với dụng cụ đánh bắt cá mang theo, với cuốc xẻng, rựa dao, những cư dân đầu tiên bằng kinh nghiệm, truyền thống cần mẫn, chăm chỉ, rất giỏi nghề trồng trọt, chăn nuôi, đánh bắt hải sản được truyền lại từ bà mẹ Chăm vĩ đại của làng Mỹ Nghiệp (Play Chakleng), mẹ vua Po Klong Garai thế kỷ XIII, nên chẳng bao lâu trên hoang đảo, sự sống đã được gieo hạt, nẩy mầm và sinh sôi từng ngày, từng ngày…

Năm 1460, Vua Po Kathit nhường ngôi cho em trai là Trà Toàn, vương triều diễn ra nhiều xung đột. Biến cố lịch sử với cuộc “Bình Chiêm” của Vua Lê Thánh Tôn nước Đại Việt). Các triều vua Chiêm Thành về sau do nhiều cuộc nội chiến, tranh giành nhau dần dần suy yếu. Khi Tiểu Vương Po Kathit qua đời, vua kế vị từng có chỉ dụ cho Công chúa Bàn Tranh được phép trở về đất liền, nhưng với tình yêu và nỗi đau trong quá khứ, công chúa đã khước từ, chấp nhận cuộc sống vất vả nhưng tươi vui trên vùng đất đảo đã dày công tạo dựng.

Khi công chúa qua đời, người dân trên đảo lập mộ bia chôn cất và xây miếu thờ Bà Chúa. Bà được vinh danh là người đầu tiên lập ra hòn đảo ngọc Phú Quý lung linh giữa biển Đông ngày nay. Đất quanh miếu thờ được dân gọi là ruộng Vua, di tích giếng nước cổ người Chăm tại Ngũ Phụng, Đông Hải, Tam Thanh ngày nay vẫn còn với thành xây đá khối, lớp sát đáy có chèn gỗ. Ghi nhận những công lao to lớn của Công chúa Bàn Tranh, các vua Triều Nguyễn đã phong bà là Hiển dũng Chương uy Hùng nghị Đoan túc chi Thần. Từ đời vua Minh Mạng (1820-1840) cho tới vua Khải Định (1916-1925) đã ban tặng cho bà 8 sắc phong, giao cho ngư dân đảo Phú Quý thay nhau hương khói, phụng thờ và trao truyền cho hậu thế.

Trong miếu thờ Bà Chúa, hiện còn một số di vật linh thiêng như bài vị, bệ thờ, liên đối, hoành phi viết bằng chữ Hán, ca ngợi tài năng, công đức Công chúa Bàn Tranh như:

Hiển hách miếu thần ngàn năm còn đó

Linh thiêng cung thánh vạn thuở chẳng dời

Câu đối khắc bằng chữ Hán gắn ở cột đền thờ có nội dung:

Linh thần hiển hách phù trong đảo

Giúp nước thay trời cứu vạn dân.

Lễ hội đền thờ Công chúa Bàn Tranh

Lễ hội đền thờ công chúa Bàn Tranh diễn ra vào ngày mùng 3 tháng giêng hàng năm và đây cũng là ngày giỗ Bà. Vào dịp lễ hội, Ban Quản lý đền thờ tổ chức nghi lễ thỉnh rước sắc phong của công chúa Bàn Tranh tại làng đang lưu giữ, thờ phụng sắc về đền thực hiện tế lễ. Đoàn lễ khởi hành nghinh rước sắc phong tại làng đang giữ sắc rồi đi qua các ngõ đường trong làng, sau đó thẳng tiến về đền thờ công chúa Bàn Tranh. Khung cảnh rước sắc phong diễn ra trang nghiêm, thành kính; nhưng cũng không kém phần đông vui, nhộn nhịp hòa với âm thanh rộn rã của nhạc lễ nổi lên liên tục trên đường đi. Âm sắc của lễ hội hòa vào giữa những dòng người trực tiếp tham gia đoàn lễ với những dòng người từ khắp các làng quê trên đảo cùng tề tựu hai bên đường và đi theo đoàn lễ. Đây là nét đẹp riêng biệt thể hiện sắc thái văn hóa độc đáo mang tính đặc thù gắn với đời sống tín ngưỡng, tâm linh thiêng liêng của người dân xứ đảo từ bao đời nay, khó có thể tìm thấy ở trên đất liền hay các hòn đảo khác ở Việt Nam.

Trải qua những thăng trầm bể dâu của lịch sử, miếu thờ Bà Chúa vẫn tồn tại trên hòn đảo Phú Quý như một khẳng định vị thế chủ quyền của những cư dân của cộng đồng các dân tộc Việt Nam đầu tiên, đã khai khẩn vùng đất đảo xinh đẹp ngọc ngà giữa biển Đông.

Phú Quý ngày nay còn là một điểm du lịch độc đáo với những đặc sản hải sản trên đảo và những di tích, thắng cảnh đẹp ngẩn ngơ say đắm du khách. Có dịp đến thăm Phú Quý, du khách còn nghe kể nhiều chuyện thú vị về tập quán, tín ngưỡng của người dân bản xứ. Trong đó có chuyện về trai gái trên đảo không bao giờ tổ chức đám cưới hỏi rình rang như người trong đất liền.

Có thể, từ ngàn xưa, do ảnh hưởng tập tục mẫu hệ của Công chúa Bàn Tranh và mối tình sử bi thương, nghiệt ngã của công chúa nên sau này có sự hội tụ của nhiều cư dân miền Trung đến đây lập nghiệp nhưng trên đảo vẫn duy trì đời sống văn hóa, tinh thần riêng biệt. Trai gái lớn lên tự do tìm hiểu nhau và khi nhà gái chấp thuận thì chàng trai về nhà vợ ở rể. Lao động biển rất cần ngư dân ra khơi mỗi ngày. Khi gia đình có việc cần chàng trai xin phép về gia đình giúp đỡ cha mẹ trong thời gian nhất định. Cho đến khi nào cô gái sinh được con trai, chàng trai mới dắt dâu con về gia đình chồng trình báo ra mắt.

Gia đình nhà trai tổ chức một tiệc mừng, báo cáo với họ hàng thân tộc về con dâu và cháu nội. Không lễ dạm hỏi, vu quy, không đám cưới, không xe hoa… nhưng hầu như các cặp vợ chồng trẻ trên đảo đều sống thủy chung, hạnh phúc với nhau cho đến ngày răng long, đầu bạc. Tuy cộng đồng cư dân trên đảo rất nhỏ, nhưng sống khu biệt ba xã cách biệt khác nhau. Điều kiện thiên nhiên, thời tiết, khí hậu khác lạ so với đất liền. Tín ngưỡng, tập tục của cư dân sống trên đảo cũng có nhiều nét khác.

Vài năm gần đây, do sự phát triển kinh tế, xã hội và công nghệ thông tin đã tác động, ảnh hưởng đến đời sống cư dân đảo đặc biệt là giới trẻ. Nhưng người dân trên đảo Phú Quý vẫn lưu giữ những giá trị văn hóa, tinh thần và lịch sử trên đảo theo cách riêng của họ, tạo nên một nét chấm phá văn hóa đặc sắc, độc đáo giữa đất trời mây nước phương Nam.

Vào các dịp lễ hội, còn diễn ra nhiều loại hình diễn xướng văn hóa dân gian như chèo Bả trạo, hát Bội, múa Tứ linh… là những loại hình diễn xướng dân gian độc đáo của người dân đảo Phú Quý.

Đền thờ Thầy Sài Nại ở Phú Quý

Đền thờ thầy Sài Nại được người dân trên đảo xây dựng vào cuối thế kỷ XVII, đền tọa lạc trên một ngọn đồi cao tại thôn Phú An, xã Ngũ Phụng, huyện Phú Quý (Riêng mộ của Thầy nằm ở Thôn Đông Hải, xã long Hải). Hướng chính của Di tích nhìn về phía Tây Nam.

Mộ phần Thầy Nại

Từ thế kỷ XVI – XIX, Phú Quý đã quy tụ cư dân từ nhiều nơi đến khai phá, lập nghiệp, mỗi nhóm người đến đây đều mang theo tín ngưỡng văn hóa dân gian, phong tục tập quán nơi cố hương, cùng chung sức vun đắp xây dựng xóm làng và các thiết chế tín ngưỡng tôn thờ các vị thần linh để cầu mong được bảo trợ, chở che giúp họ vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống. Dấu ấn của người Hoa trên đảo Phú Quý còn lưu lại khá rõ nét với khá nhiều các cơ sở tín ngưỡng của người Hoa được tạo lập và trải qua thời gian được người Việt kế tục thờ phụng như: lăng mộ và đền thờ thầy Sài Nại, thờ Quan Thánh đế quân…Đặc biệt, thầy Sài Nại đã được người dân trên đảo kính trọng, tôn thờ trong nhiều thế kỷ qua và được coi là một trong những vị thần hiển linh nhất gắn chặt với niềm tin và tín ngưỡng của cộng đồng người dân trên đảo qua nhiều thế hệ.

Mộ Thầy Nại Phú Quý

Hàng năm tại đền thờ thầy Sài Nại diễn ra một dịp lễ hội chính vào ngày mùng 4 tháng tư âm lịch, người dân trên đảo gọi là lễ Giao phiên kỵ Thầy. Về trình tự, cách thức thực hiện các nghi thức trong lễ Giao phiên kỵ Thầy cơ bản giống như trình tự, cách thức thực hiện các nghi thức trong lễ Kỵ Bà Chúa tại đền thờ công chúa Bàn Tranh. Tuy nhiên, do lễ Giao phiên kỵ Thầy là mốc thời điểm kết thúc phiên trách thờ phụng, cúng tế của làng trước đó và chuyển giao phiên trách lại cho làng kế tiếp; nên có thêm nghi thức: kiểm tra và bàn giao sắc thần cùng những giấy tờ, sổ sách có liên quan cho làng đến phiên trách (nghi thức này thực hiện sau nghi thức dâng văn tế cho thầy Sài Nại), làng đến phiên trách tiếp theo tổ chức đoàn lễ thỉnh rước sắc phong công chúa Bàn Tranh và thầy Sài Nại về làng mình lưu giữ, phụng thờ (sau khi kết thúc nghi thức chánh lễ tế thần và tiệc lễ).

Phía sau dinh thầy Sài Nại

Đền thờ thầy Sài Nại là di tích mang nhiều dấu ấn, giá trị về văn hóa, lịch sử, phản ánh rõ nét quá trình tiếp biến, giao thoa văn hóa giữa người Việt và người Hoa trong quá trình chung sống giữa vùng biển đảo xa xôi. Đồng thời thể hiện nét đẹp trong đời sống văn hóa dân gian của cộng đồng cư dân Phú Quý từ trước đến nay. Lễ hội diễn ra tại đền thờ hàng năm thu hút đông đảo các cộng đồng người dân trên đảo tham gia với tinh thần, thái độ thành kính và là chỗ dựa không thể thiếu trong đời sống văn hóa tâm linh từ xưa đến nay của nhân dân trên đảo. Trải qua hơn 300 năm tồn tại, được các thế hệ người người Chăm rồi đến người Việt của các làng trên đảo kế tiếp nhau trông nom, tôn tạo, thờ phụng và thực hiện các nghi thức tế lễ theo đúng tập tục xưa. Với những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể còn bảo lưu, gìn giữ đến hôm nay UBND tỉnh Bình Thuận đã công nhận Đền thờ thầy Sài Nại là Di tích Lịch sử Văn hóa Cấp Tỉnh tại Quyết định số 1993/QĐ-UBND ngày 07/9/2010.

Chùa Linh Sơn Phú Quý

Chùa Linh Sơn nằm ở núi Cao Cát, ngọn núi cao thứ hai trên đảo Phú Quý. Chùa là quần thể kiến trúc đẹp nhất của đảo Phú Quý. Theo một số người dân ở đây cho biết chùa Linh Sơn được trùng tu vào đầu thế kỷ XX.

Từ khi tạo dựng đến nay ngôi chùa trở thành nơi thu hút đông đảo Phật tử và người dân trên đảo đến chiêm ngưỡng và cầu mong điều an lành sẽ đến với gia đình mình. Bên cạnh kiến trúc thường thấy ở các chùa trên khắp cả nước thì Linh Sơn Tự nổi bật với bức tranh sơn thủy hữu tình. Không khí nơi đây trong lành mát dịu tạo cảm giác thư thái cho du khách Chùa Linh Sơn cổ kính với những rừng cây đại thụ bạt ngàn bao phủ. Tiếng chuông chùa ngân vang, phảng phất mùi nhang trầm làm cho du khách như thoát khỏi cuộc sống trần tục.

Tượng Phật tại Chùa Linh Sơn

Với lối kiến trúc độc đáo, lại có phong cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, chùa Linh Sơn là điểm đến hành hương, vọng cảnh không thể bỏ qua khi du khách vượt trùng khơi đến với đảo Phú Quý, Bình Thuận.

Không chỉ là địa điểm hành hương, chùa Linh Sơn còn mang đến cho bạn một chuyến du ngoạn kỳ thú, một cơ hội chiêm ngưỡng khung cảnh thiên nhiên đặc sắc. Được ngắm sóng biển mênh mông, núi non hùng vĩ, cảm nhận sự yên ả của chốn thanh tịnh, chắc hẳn tinh thần của bạn sẽ trở nên thư thả, sảng khoái sau chuyến đi

Một hướng của đảo Phú Quý nhìn từ Chùa Linh Sơn

Ở đây không có sư trụ trì mà các phật tử phân công nhau thực hiện các nghi thức cúng lễ và đón tiếp rất nhiều lượt du khách đến tham quan, vãn cảnh với sự thân thiện, cởi mở

Núi Cao Cát ở phía bắc đảo Phú Quý, là một trong hai ngọn núi cao nhất đảo và được người dân ở đây xem như ngọn núi thiêng. Từ xã Long Hải, du khách dễ dàng đến được chân núi rồi đi bộ theo các bậc thang bằng đá để lên chùa Linh Sơn

Những rừng cây đại thụ bạt ngàn đã bao phủ ngôi cổ tự bằng sắc màu xanh ngắt, tạo thêm nét huyễn hoặc cho chốn thâm nghiêm. Ngoài khơi xa, đại dương mênh mông cũng một màu trong xanh

Bạn còn thấy thấp thoáng các làng chài, bãi cát mịn, đồi dốc quanh co, những mái nhà ẩn hiện. Ở đây tiếng gió, tiếng sóng hòa cùng tiếng chuông chùa thỉnh thoảng vang lên trong không gian tĩnh mịch thoảng mùi khói nhang trầm

Chùa Linh Sơn khá khang trang bề thế với nhiều hạng mục kiến trúc độc đáo, hài hòa với vẻ đẹp thiên nhiên. Ngôi chùa này đóng một vai trò rất quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân trên đảo Phú Quý, là điểm tựa tinh thần để ngư dân đến cúng bái trước khi ra khơi

Sau khi vào chùa dâng hương, bạn đừng quên tiếp tục đi lên đỉnh núi để chiêm ngưỡng bức tượng Bồ Tát Quan Thế Âm đặt uy nghi trên một bệ đá khổng lồ. Công trình đó là điểm nhấn đặc sắc, tôn thêm vẻ đẹp cho quần thể thắng cảnh chùa Linh Sơn – núi Cao Cát

Gần đó có mỏm đá nhô ra, bên dưới là bãi xương rồng, vực thẳm sâu vài trăm mét. Phóng mắt ra xa, bạn sẽ thu vào tầm nhìn một khung cảnh ngoạn mục với bao la biển trời, núi rừng, làng mạc, thuyền bè lướt sóng và cảng Phú Quý nhộn nhịp

Tất cả vẽ nên quang cảnh như bức tranh sơn thủy hữu tình có một không hai. Không khí ở đây trong lành, mát dịu, tạo cảm giác dễ chịu yên bình

Vạn An Thạnh – Điểm du lịch tâm linh truyền thống tại Phú Quý

Vạn An Thạnh tọa lạc tại thôn Triều Dương (Tam Thanh, Phú Quý), được kiến lập năm 1781; tính đến nay đã trên 230 năm tuổi, với chức năng chính thờ thần Nam hải cùng chư vị Tiền hiền đã có công khai mở, kiến tạo xóm làng. Vạn đã được xếp hạng Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp quốc gia vào năm 1996. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, vạn vẫn đứng uy nghi, sừng sững trước biển cả mênh mông, mang đậm dấu ấn đoàn kết của những lưu dân người Việt từng một thời hướng biển đi tìm sinh kế.

Phong tục này gắn liền với tín ngưỡng thờ Ông Nam Hải của ngư dân. Xưa cũng như nay, ngư dân đảo Phú Quý có niềm tin tuyệt đối vào sự hiển linh của Ông (cá voi), coi đó là vị phúc thần luôn ở bên cạnh chúng tôi trong những chuyến biển đầy hiểm nguy.

Mỗi lần có Ông lụy (chết) trôi dạt vào đảo thì nhân dân trong xã cùng đứng ra tổ chức tang lễ, mai táng. Điều này được thể hiện qua các đạo sắc phong do các vua triều Nguyễn ban tặng và lệnh cho nhân dân ba làng Mỹ Khê, Hội An và Triều Dương phải cùng nhau hương khói, phụng thờ.

Ông Lụy

Ông hay Ông Nam Hải là tên gọi một cách thành kính mà người đi biển và cư dân vùng biển gọi những con cá voi. Cá voi chết được gọi là Ông lụy và người phát hiện đầu tiên thi thể của Ông sẽ là người đứng chủ tang, chịu tang trong 3 năm như con trai cả trong gia đình.

Cá voi từ lâu được người đi biển xem như phúc thần, vị thần độ mạng. Trong những chuyến ra khơi, trong tâm trí ngư dân luôn nghĩ đến và đặt trọn vẹn niềm tin vào cá voi. Nhiều câu chuyện cá voi cứu người được truyền miệng từ đời này qua đời khác.

Nhà trưng bày tro cốt Ông Nam Hải

Theo tài liệu khoa học, khi biển động cá voi thường lặn xuống sâu để tìm nơi yên tĩnh. Nhưng sâu quá thì không có dưỡng khí để thở nên phải trồi lên. Lên xuống liên tục như thế cá sẽ mất sức và nếu vớ được đáy thuyền của ngư dân đang chao đảo trên mặt nước sẽ là nơi ẩn nấp tránh bão lượn theo sóng để vào bờ.

Do thường gặp những hiện tượng như thế nên ngư dân luôn xem cá voi là ân nhân cứu mạng và tập trung cứu cá voi nếu cá bị mắc cạn hoặc cúng tế linh đình mỗi khi cá chết.

Giải thích tại sao khăn tang trên đầu người chủ tang cá voi màu đỏ, một cụ già ở vạn An Thạnh cho biết, màu đỏ là màu tang của vua chúa và hoàng tộc. Tục truyền cá ông đã nhiều lần được sắc phong của nhà vua như Gia long đã phong tước hiệu “Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thượng đẳng thần”. Các vua triều Nguyễn đã xem cá voi như người của hoàng gia và được phong thần. Vì thế, mỗi khi cá ông gặp nạn tang lễ được cử hành thì chiếc khăn tang trên đầu người chủ tế là khăn màu đỏ.

Lễ chôn cất cá Ông tại Phú Quý

Vạn An Thạnh – nơi sinh hoạt truyền thống của người Phú Quý

Bên cạnh các hoạt động nghi lễ liên quan đến tín ngưỡng ngư nghiệp, vạn An Thạnh còn là nơi tổ chức những buổi sinh hoạt quan trọng của làng, xã như: hội họp, đua thuyền, tổ chức hát bội để phục vụ bà con nhân dân.

Mỗi dịp lễ hội, nhân dân về vạn rất đông; trước là dâng nén hương tạ ơn thần Nam Hải, sau gặp gỡ trao đổi việc làm ăn trong năm qua và xem hát bội. “Năm nào cũng vậy, cứ mỗi lần tế tự chúng tôi đều đến để phụ giúp công sức và đóng góp chút ít lòng thành của mình để góp phần tôn tạo vạn và cho lễ tế được chu toàn hơn. Năm rồi, nhờ ơn phù hộ che chở của Thần nên ghe nhà tôi làm ăn cũng kiếm được khá”, anh Ngô Văn Kịn (sinh năm 1962) ở thôn Mỹ Khê cho hay.

Vạn An Thạnh

Từ ngôi vạn đơn sơ, ban đầu chỉ là một bộ khung gỗ lợp tranh vách lá; thì nay, cùng với sự quan tâm đầu tư của nhà nước, của các tầng lớp nhân dân góp nhiều công sức và tiền của xây dựng nên vạn đã trở nên khang trang, kiên cố, cảnh quan xung quanh thoáng mát, sạch đẹp. Các hạng mục trong Vạn thể hiện được những nét nghệ thuật độc đáo, mang đậm chất văn hóa biển của người Việt ta. Những hình đắp nổi: long phượng, cá mực, hoa lá…; cùng hệ thống hoành phi, liễn đối đã phản ánh sự quy tụ những bàn tay, khối óc tài hoa của cộng đồng cư dân trên đảo trong suốt hàng trăm năm qua, thu hút du khách thập phương mỗi khi đến đảo.

Với những giá trị nêu trên, Vạn An Thạnh từ bao đời qua là “điểm tựa tinh thần” của nhân dân trong xã và của cả huyện nhà. Đây là nơi bảo lưu những giá trị truyền thống, tạo ra những chất kết dính vô hình cố kết cộng đồng để giữ gìn và phát triển biển đảo quê hương.

Bộ xương cá voi ở vạn An Thạnh

“Thấy Ông vào làng như vàng vào tủ”, câu nói của dân gian truyền miệng cho thấy, mỗi khi cá ông trôi dạt vào vùng nào thì vùng đó được ấm no và tai qua nạn khỏi.

Theo phong tục và cũng là tín ngưỡng dân gian, sau ba năm, khi cá voi đã phân hủy hết phần thịt, bộ xương sẽ được nhập làng và thờ trong vạn. Vạn An Thạnh ở thôn Triều Dương xã Tam Thanh, Phú Quý hiện đang lưu giữ và phụng thờ hơn 70 bộ xương cốt cá voi.

Xương Cá Ông

Vạn An Thạnh là nơi lưu giữ và thờ cúng xương cốt cá voi được xây dưng vào năm Tân Sửu – 1781. Lúc bấy giờ chưa có Ông nào “lụy” dạt vào đảo. 60 năm sau, năm 1841 mới có một Ông to lớn trôi vào bờ trên bãi cát trước vạn. Bà con tổ chức an tang chu đáo. Vì là “Ông” đầu tiên nên được gọi là “vị cố” và lấy ngày 15/10 âm lịch – ngày phát hiện vị cố lụy – làm ngày giỗ và lễ tế thu của vạn. Năm 1960 có một “cá ông” lớn khác trôi vào. Xác cá có chiều dài trên 25m. Mai táng xong, 3 năm sau đó ngư dân vùng này được mùa liên tiếp.

Trải qua 3 thế kỷ với nhiều lần trùng tu, vạn vẫn sừng sững với nắng mưa. Vạn An Thạnh được xây dựng trên một diện tích khá rộng. Mặt trước hướng ra biển. Kiến trúc của vạn hiện nay gồm chính điện để thờ “Ông” cùng các tiền hiền, hậu hiền là những người có công xây dựng đảo. Vài năm trước UBND tỉnh Bình Thuận đã đầu tư 8 tỉ để xây dựng một nhà trưng bày xương cá voi và sửa sang trung tu lại vạn.

Chúng tôi vào nhà trưng bày xương cá voi. Một bộ xương cá voi có chiều dài trên 17 mét nằm giữa gian nhà. Ở 4 góc là 4 bộ xương cá heo gồm có : cá heo lươn sóng, cá heo mõm chai, cá ông chuông và loài cá heo thường gặp. Bộ xương cá voi có 50 đốt xương sống. Cá có 30 đôi răng mọc ở hàm dưới, hàm trên không có răng. Mỗi chiếc răng dài khoảng 20 cm, to như bắp tay người lớn.

Theo nhận định của các nhà khoa học, bộ xương cá voi tại vạn An Thạnh là xương cá nhà táng. Cá nhà táng là loài thú biển, thuộc loại phân bộ cá voi có răng. Đầu cá rất lớn, chiếm 1/3 chiều dài thân. Thân cá dài 20 mét, con đực nặng khoảng 70 tấn, con cái nặng 30 tấn. Trên trán có chứa khí dự trữ. Khoang hàm trên có khối mỡ đệm rất lớn. Hàm dưới dài và hẹp. Hàm trên không có răng. Cá nhà táng đực rất hung dữ, chúng ăn những loài cá lớn, mực, và khi bảo vệ đàn cái và con của chúng, có thể tấn công cả người và tàu thuyền.

Việc trưng bày bộ xương cá voi ở giữa, 4 góc có 4 bộ xương cá heo được người giữ vạn giải thích, tái hiện lai hình ảnh ở dưới biển khi cá voi di chuyển thì chung quanh có cá heo đi theo.

Vạn An Thạnh được công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia hiện đang được UBND huyện Phú Quý bảo tồn và gìn giữ. Đây cũng là một địa chỉ du lịch hấp dẫn du khách khi đến thăm đảo.

Ra vạn An Thạnh xem lễ hội nghinh thần

Hàng năm, cứ đến ngày 15 – 16/10 (âm lịch), tại vạn An Thạnh (Tam Thanh – Phú Quý) lại diễn ra lễ hội nghinh thần Nam Hải và kỵ Cố. Cố được tôn xưng là thần Nam Hải (cá voi) đầu tiên được dân thờ trong vạn. Đây là nét văn hóa đặc trưng của cư dân vùng biển.

Trước khi diễn ra lễ hội rước ông Sanh (thần Nam Hải còn sống ở biển), người Liên chi trưởng của hội vạn mời tất cả ngư dân của xã Tam Thanh cùng về vạn An Thạnh. Tùy theo mỗi năm mà lễ hội diễn ra vào tối 15 hay sáng 16/10 (âm lịch).

Tham gia lễ, người có chức sắc và trưởng lão trong làng đội khăn đóng áo dài đen (màu tượng trưng cho hành Thủy – NV). Sau khi tập trung đông đủ, theo sự hướng dẫn của người chủ sự, mọi người cùng ra bờ biển Mỹ Khê. Đây là địa điểm diễn ra lễ thỉnh ông Sanh. Chủ trì lễ có 3 người đại diện gồm: một chánh chủ và hai học trò. Tất cả ba ông đều quỳ, hướng mặt ra biển. Hai học trò quỳ hướng đông – tây, chánh chủ quỳ giữa. Bàn thờ thỉnh ông Sanh quay vô đất liền, trên bàn thờ có thần vị ghi: “Cung thỉnh ngũ phương Nam Hải dương trung cự tộc Ngọc lân thủy tướng nhị thập nhất hiệu chi sanh Thần”. Bài thần vị do thầy của hội vạn An Thạnh soạn thảo. Trước khi chắp bút viết thần vị, thầy phải chay tịnh trong 15 ngày để bảo đảm thân trong sạch. Ngoài thần vị, trên bàn thờ còn có mâm trầu cau. Theo ý nghĩa trong bát quái, trầu được têm 8 đôi và đặt 8 hướng. Khay trầu là đồ chuyên dùng cho việc cúng tế trong vạn. Bên cạnh trầu cau là nhang đèn và rượu trắng. Rượu gồm 1 xị và 5 chung. Trên bàn thờ, 5 chung rượu đặt theo phương vị: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Sau khi kiểm tra lễ vật cúng tế đâu vào đó, lễ mới chính thức tiến hành.

Bắt đầu lễ thỉnh ông Sanh, học trò (người giúp việc) xướng: “Khởi chinh cổ”. Lập tức dàn nhạc nổi chiêng 3 hồi 7 tiếng. Cùng với chiêng là 3 hồi 7 tiếng trống. Học trò tiếp tục xướng: “Khởi nhạc xanh”. Liền theo đó là nhạc xanh đánh 3 hồi, 7 chặp. Phục vụ lễ hội nghinh thần Nam Hải, dàn nhạc gồm có: kèn, trống, đờn cò, mõ sừng trâu, chiêng, chập chã. Sau khi nhạc dứt, học trò xướng: “Chánh chủ tựu vị nghệ sanh thần vi tiền”. Nghe tiếng xướng, chánh chủ vô bàn (thờ) vọng bái. Bái xong lại xướng “Quỳ phần hương”, tức thì người hầu rượu đốt 3 nén nhang (tượng trưng cho thiên, địa, nhân- tam tài-NV) kính dâng lên ông chủ. Thay mặt ngư dân trong vạn An Thạnh, ông chủ chắp nhang niệm: “Mời chư vị Sanh thần về chứng giám lòng thành của ngư dân và phù hộ dân chúng bình an, được mùa”. Niệm xong, ông chủ đưa 3 nén nhang cho người hầu rượu cắm vào lư hương. Động tác đó gọi là thượng hương. Sau lễ dâng hương, học trò lại xướng: “Phủ phục hưng bình thân, nghinh Sanh thần cúc cung bái”. Nghe câu xướng, ông chủ quỳ bái và lạy 4 lạy. Bái, lạy xong đến phần châm rượu theo câu xướng: “Sơ hiến lễ chiết tửu”. Bấy giờ người hầu rượu châm vào 5 chung, mỗi chung một ít rượu. Lễ dâng rượu xong, học trò tiếp tục xướng: “Phủ phục hưng bình thân”. Sau câu xướng, ông chủ đứng dậy lạy 2 bái (hưng bái). Học trò đứng bên tây xướng: “Quỳ chuyển chúc”, học trò đứng bên đông lập tức quỳ dâng giá văn cho ông chủ. Nội dung văn nghinh Ông mỗi năm một khác, đại ý khấn vái mời chư vị thần Sanh về vạn kính tế. Nâng giá văn cao ngang mày, ông chủ lạy một lạy, say đó chuyển cho học trò phía tây đọc. Vì nội dung giá văn viết bằng chữ Nho nên có khi học trò không đọc được. Trong trường hợp này ông chánh chủ phải quỳ đọc. Đọc văn xong lại lạy hai bái và xướng: “Á hiến lễ chiết tửu phân hiến”. Học trò theo đó châm rượu lần thứ 2 vào 5 chung. Châm rượu xong, ông chủ lại lạy 2 lạy, lại xướng: “Chung hiến lễ chiết tửu phân hiến”. Học trò châm rượu lần cuối xong, ông chánh chủ quỳ lạy 2 lạy (cúc cung bái) rồi đứng dậy (phục vị).

Đến đây, phần lễ tạm dừng, nhường chỗ cho phần hội. Hội là gánh chèo bá trạo (trăm tay chèo). Trong gánh chèo có bộ múa tứ linh (long, li, quy, phụng). Bài chèo kể công đức của ngài (ông Sanh – thần Nam Hải) đã giúp dân chài trong khi gặp nạn giữa trùng khơi sóng gió; quá trình đưa ngài về lăng (vạn) thờ cúng. Bài hát chấm dứt cũng là phần hội kết thúc để nhường cho phần lễ tiếp tục.

Bấy giờ, ông chủ trở lại quỳ trước bàn thờ xướng: “Ẩm phước”. Học trò bưng rượu dâng, ông chủ nâng chung rượu ngang mày và vái 3 vái. Học trò xướng: “Thọ huệ”, ông chủ đem rượu xuống khỏi bàn thờ rồi lạy 2 lạy. Tiếp đến là phần đốt văn nghinh Ông. Để đốt văn, chủ và học trò đều quỳ lạy 4 lạy. Sau đó đứng lên xướng: “Nghệ phụng Sanh thần hồi lăng sở tế”. Đến đây xem như kết thúc lễ nghinh ông Sanh ở bờ biển. Tiếp đó, đoàn làm lễ về lại vạn An Thạnh để thực hiện lễ kỵ Cố.

Trên đường trở về vạn, gồm 300 người mang cờ ngũ hành đi trước, theo sau là gánh múa tứ linh, gánh chèo bá trạo vừa đi vừa hát. Sau gánh chèo là thầy, chủ, học trò và bàn thờ ông Sanh. Bàn thờ có 4 người khiêng, hai lọng che bàn thờ, quân sĩ mang siêu, kiếm để hầu ngài. Đi sau bàn thờ là trưởng lão và ngư dân. Đoàn đi tới đâu, dân đi theo tới đó, huyên náo cả một vùng.

Tại vạn có ban trống chờ đón đoàn nghinh ông Sanh. Thoáng thầy đoàn tới đầu vạn, chiêng trống nổi lên rộn ràng. Ban lễ ở vạn có 1 thầy, 3 chủ, 2 học trò, 2 ông chinh cổ. Chinh cổ mặc áo rộng màu xanh, viền vàng ở cổ và tay áo; mão có gương tròn ở trước và sau, hai dây tua dài xuống tới lưng trông rất đẹp. Đoàn vào vạn kính cáo với ông Cố (thần cựu) rằng đã thỉnh ông Sanh về, gọi là an vị. Nghi thức an vị được học trò xướng: “Tựu vị nghệ thần vi tiền”. Lúc bấy giờ 3 ông chủ quỳ ở 3 bàn (trong vạn có 3 bàn thờ) và lạy 4 lạy… Sau những nghi thức cúng bái và chiết rượu như xong phần an vị của ông Sanh.

Tiếp đến là phần lễ ngư, học trò xướng: “Củ soát nghinh (tế) vật”. Theo đó 3 ông chủ kiếm soát các vật phục vụ việc cúng tế. Chủ sự phải là người còn vợ, con cháu đầy đủ. Kế đến, học trò xướng: “Nghinh vật ký thành chấp sự giả các ty kỳ sự” (Ai có việc gì thì làm việc nấy cho tròn bổ phận). Chiêng, trống, xanh lại nổi lên. Ba ông chủ trước khi bước vào điều hành chính thức buổi lễ phải dùng khăn sạch lau tay, lau mặt.

Nghi thức kỵ Cố giống lễ nghinh ông Sanh, chỉ khác là xướng: “Kham thần cúc cung bái” chứ không xướng: “Nghinh thần cúc cung bái”. Bốn lạy cuối cùng xướng: “Lễ từ cúc cúng bái” chứ không xướng: “Nghệ phụng sanh thần hồi lăng sở tế”. Lễ kỵ ông Cố thần vị ghi: “Nam tế hải linh, cự tộc ngọc lân thủy tướng nương nương tôn thần nguyên tặng trạm trừng trợ tín chi thần gia tặng dực bảo trung hưng uông nhuận trung đẳng thần”. Ngoài việc đọc văn mời ông Cố (lúc này, các mâm cỗ đã được dọn lên bàn thờ), chủ sự còn mời các vị (cá voi) được thờ trong vạn. Kết thúc phần lễ là phần hát bội diễn ra thâu đêm.

 

Hải đăng Phú Quý

Hải đăng Phú Quý nằm trên đỉnh núi Cấm, ở độ cao 108m so với mực nước biển, tháp hải đăng có hình vuông cao 18m, xây bằng đá màu đen. Hải đăng có tầm chiếu xa khoảng 22 hải lý. Hải đăng chỉ vị trí đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận. Hải đăng nhập bờ, giúp tàu thuyền hoạt động trong vùng biển ngòai khơi tỉnh Bình Thuận định hướng ra vào vùng biển Phan Thiết và xác định được vị trí của mình.

Sơ lược về Hải đăng Phú Quý

Nằm ở độ cao 108 mét trên núi Cấm (thuộc xã Ngũ Phụng, huyện đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận), Hải đăng Phú Quý có tọa độ địa lý: Vĩ độ (φ) 10 ° 32′ 25″ 3N – Kinh độ (λ)108° 55′ 53″ 1E (Hệ VN-2000); Vĩ độ (φ) 10 ° 32′ 23″ 1N – Kinh độ (λ)108° 55′ 58″ 1E (Hệ HN-72) và Vĩ độ (φ) 10 ° 32′ 21″ 5N – Kinh độ (λ)108° 55′ 59″ 5E (Hệ WGS-84), chính thức đưa vào hoạt động ngày 18/2/1994, sau đó được trùng tu và hoàn thành vào ngày 19/8/1997. Với chức năng chỉ vị trí đảo Phú Quý; đèn nhập bờ hướng dẫn cho tàu thuyền hoạt động trong vùng biển Phan Thiết (Bình Thuận) bao năm qua vẫn thức theo từng chuyến biển của ngư dân đảo Phú Quý, và là một trong những cột mốc khẳng định chủ quyền nước ta trên biển.

Hải đăng Phú Quý sử dụng loại đèn có ánh sáng trắng, chớp nhóm 2, với chu kỳ 15 giây (0,117s + 4,883s + 0,117s + 9,883s = 15s), phạm vi chiếu sáng 360°, có tầm nhìn 27 hải lý (1 hải lý = 1.853,2 mét) với chiều cao mắt người quan sát 5 mét; tầm hiệu lực ánh sáng là 20 hải lý với hệ số truyền quang khí quyển t = 0,74, sử dụng bằng nguồn năng lượng mặt trời, đóng ngắt tự động theo sự chuyển biến của thời tiết, và trong khoảng khung giờ chủ yếu từ 17 giờ 45 phút – 5 giờ 45 phút ngày hôm sau.

Hải đăng Phú Quý có kiểu dáng đẹp, hình khối hộp, tháp đèn có màu xám, nhà trạm được sơn màu vàng sẫm, đứng sừng sững uy nghiêm nổi bật giữa màu xanh của cây rừng và biển cả mênh mông. Hải đăng có chiều cao toàn bộ là 126 mét (tính từ mực nước số “0 Hải đồ”) và chiều cao công trình là 20 mét tính từ tâm đèn đến nền móng; chiệu rộng trung bình 4,0 mét đối với tháp đèn. Du khách gần xa khi có dịp đến đảo, từ tháp đèn có thể ngắm nhìn toàn bộ huyện đảo Phú Quý, hít thở không khí trong sạch giữa trùng khơi, ngắm nhìn trời nước bao la để thêm yêu Tổ Quốc nơi đầu sóng ngọn gió.

Hiện nay, Hải đăng Phú Quý do Công ty Bảo đảm an toàn Hàng hải Nam Trung Bộ (thuộc Tổng Công ty Bảo đảm an toàn Hàng hải miền Nam – Bộ GTVT) quản lý.

Thông số chi tiết Hải Đăng Phú Quý

Tọa độ địa dư: 10o32’21.5”N – 108o55’59.5”E

Tầm hiệu lực (tọa độ địa lý)

  • Ban ngày: 27 hải lý
  • Ban đêm: 20 hải lý

Chiều cao

  • Tháp đèn: 20m
  • Tâm sáng: 124m

Đặc tính ánh sáng

  • Màu sắc: ánh sáng trắng
  • Đăc tính chớp: Chớp nhóm 2, chu kỳ 15s
  • Màu sắc thân đèn: Xám

Loại đèn

  • Đèn chính: VMS RB 400
  • Đèn phụ: TRB 220
  • Racon:

Năm thiết lập: 08/09/1997

Hải Đăng Phú Quý

Hướng dẫn đi đến Hải Đăng Phú Quý

Hải đăng Phú Quý đặt trên đỉnh Núi Cầm là điểm cao nhất của đảo. Muốn chinh phục ngọn hải đăng này, du khách phải đi bộ, leo núi, vượt hơn 120 bậc đá trên đoạn đường dài khoảng 200m có nhiều đoạn trơn trượt. Lên đến nơi, du khách sẽ được phóng tầm mắt nhìn toàn cảnh đảo hữu tình từ trên cao. Đặc biệt, trên đường leo lên ngọn hải đăng, du khách cũng có thể ghé thăm chùa Linh Bửu, nơi có mắc những chiếc võng cho khách nghỉ chân.

Các bạn chạy thẳng lên, nhìn thấy tấm bảng chỉ đường lên chùa Linh Bửu, các bạn đi theo đường đó. Lên được tới chùa rồi, các bạn nhìn tay trái sẽ thấy 1 con đường nhỏ, các bạn chạy lên đó sẽ gặp các bậc thang. Các bạn đi thẳng lên, rồi sẽ gặp 1 ngã 3, nếu các bạn rẽ trái, thì sẽ tới ngọn đuốc Bác, là nơi để tượng Bác Hồ, chắc là nơi thờ bác. Còn đi thẳng thì đến hải đăng Phú Quý, các bạn chỉ được đứng dưới chân thôi chứ không được lên ngọn đâu. Ở đây view không đẹp bằng bên Đỉnh Cao Cát, nhưng lên đây để check in một trong những hải đăng lớn nhất Việt Nam cũng là không tệ đâu.

Phong điện Phú Quý điểm nhấn check in tại đảo

Công trình Phong điện Phú Quý được khởi công xây dựng vào cuối năm 2010 với 3 cột turbin gió, tổng công suất 6MW (2MWx3) với tổng mức đầu tư khoảng trên 335 tỉ đồng do PVPower tự thu xếp vốn.

Công trình phong điện này đã trải qua quãng thời gian thi công lắp đặt các trụ turbin gió đầy gian nan thử thách, vượt nhiều khó khăn vì điều kiện thời tiết phức tạp.

Những dòng điện từ năng lượng gió của Phong điện Phú Quý sẽ hòa vào dòng điện của nhà máy điện Diesel hiện tại ở đảo, nâng công suất cung cấp lên gấp 3 lần. Nguồn điện gió sẽ giúp tăng chất lượng đời sống cư dân trên đảo khi được sử dụng điện 24/24h mỗi ngày.

Được biết, trước đó nguồn điện trên đảo Phú Quý chủ yếu được cung cấp từ Nhà máy điện Diesel của Công ty Điện lực Bình Thuận với tổng công suất 3.000kWh, chỉ phát điện được 16 giờ/ngày (từ 7h30 đến 23h30), lượng điện thương phẩm hàng năm ước khoảng 8,2 triệu kWh. Ngoài ra, nhân dân và các doanh nghiệp tự trang bị các máy phát điện với tổng công suất khoảng 1.000kWh. Do phát điện bằng dầu Diesel nên giá thành cao và ảnh hưởng xấu tới môi trường. Chính vì vậy, khi công trình phong điện trên đảo Phú Quý đi vào hoạt động sẽ góp phần giải quyết tình hình thiếu điện sinh hoạt, sản xuất cho 27.000 người dân trên đảo, góp phần bảo vệ môi trường, đồng thời làm giảm chi phí sản xuất điện do giảm thời gian vận hành của Nhà máy điện Diesel.

Đây là một địa điểm du lịch đẹp ở đảo Phú Quý được rất nhiều bạn trẻ yêu thích.