Về Phú Quý, nhớ làng nghề đan võng dứa gai

Đã bao năm qua kể từ ngày huyện đảo Phú Quý “thay áo mới”, người ta không còn được ngả lưng ngủ một giấc thật sâu trên chiếc võng dứa gai truyền thống của đảo tiền tiêu. Võng dứa giờ đây chỉ còn trong nỗi nhớ.

Võng dứa gai… một thời vang bóng

“Võng dứa vừa đẹp, vừa bền, nằm rất êm lưng và thân thiện với môi trường”. Đó là lời ca ngợi của rất nhiều người dân xứ đảo khi nói về sản phẩm truyền thống của quê hương mình.

Kể từ ngày đặt chân lên đảo Phú Quý tôi cũng muốn một lần được nhìn thấy, được nằm trên đó mà nhớ về ký ức tuổi thơ nơi quê nhà yêu dấu. Võng dứa gai ai bán? Tôi mua. Mà… sao khó quá. Người dân trên đảo cho biết: “Người ta bỏ nghề lâu rồi, giờ không có ai đan võng dứa nữa đâu”. Trong ký ức của nhiều người, Phú Quý một thời nhộn nhịp nghề đan võng dứa. Phụ nữ, con gái ai cũng biết đan võng, hình ảnh các chị, các mẹ tập trung lại từng tốp khoảng dăm bảy người rồi chọn nhà ai rộng rãi, chong đèn hột vịt ngồi đan; tiếng nói cười rôm rả… thật là vui! Riêng đàn ông trên đảo tranh thủ những ngày biển động, dao lận lưng hông, đạp rừng, trèo núi đi tìm chặt rễ cây dứa gai. Vì thế, tới mùa đi biển có sẵn rễ dứa, sợi dứa ở nhà vợ con tha hồ ngồi đan. Hay, nhờ cái nghề đan võng mà các chàng trai, cô gái được gặp nhau, mới có cơ hội tâm tình rồi kết tóc se duyên, ăn đời ở kiếp với nhau. Chú Nguyễn Đối (63 tuổi) ở thôn Tân Hải, xã Long Hải còn nhớ như in cái ngày mà chú với cô đến với nhau. Chú kể rằng: “Xưa, các cô thiếu nữ ở Long Hải rất đảm đang, lúc mười sáu mười bảy tuổi họ không những đan võng giỏi mà còn rất đẹp, trong đó có vợ chú”. Rồi chú Đối tâm tình thêm: “Ngày ấy, cánh thanh niên người đi biển, người làm rẫy; còn các cô ngoài thời gian phụ gia đình, những lúc rảnh rỗi lại tập trung đan võng dứa – mà thời điểm thích hợp nhất là buổi trưa và buổi tối. Ngày các chú làm việc, tối lại tìm đến nhà các cô để chuyện trò và phụ giúp việc đan”.

Đan võng dứa gai

Nghề đan võng ngày xưa ở đảo rất nhộn nhịp, xã nào cũng có người đan. Cứ độ từ năm đến bảy ngày là xong một chiếc, sau có thương lái thu gom, khi có tàu biển những chiếc võng lại “vượt trùng khơi” vào đất liền.

Võng dứa xưa được coi là loại tốt và sang, khách hàng rất ưa dùng nên bán khá chạy. Những cây võng dứa có mặt ở khắp nơi từ nông thôn cho tới chốn thị thành; Phan Thiết, Hàm Thuận, Phan Rí, Liên Hương, La Gàn… là những thị trường chính tiêu thụ võng đảo Phú Quý nhiều nhất. Ngoài việc thu nhập giúp trang trải việc chi tiêu trong gia đình, nghề đan võng cũng phần nào giải quyết được công ăn việc làm cho nhiều người, nhất là phụ nữ những lúc nhàn rỗi.

Võng dứa gai – hành trình của những kỳ công

Võng dứa gai ngày nay không còn được người dân trên đảo đan làm thương phẩm như xưa, mà hiện nay chỉ còn lại một, hai người vốn “nặng nợ” với sản phẩm cổ truyền nên đan để sử dụng trong gia đình.

Trong những ngày gần đây, sau một thời gian đi tìm chiếc võng xứ Hòn thì tôi may mắn được gặp hai cô Nguyễn Thị Quyển (61 tuổi) và Trần Thị Chỉnh (66 tuổi) đều ở thôn Tân Hải, xã Long Hải. Hiện nay, các cô thỉnh thoảng mới làm, chủ yếu là đan để sử dụng, tặng cho ông bà thông gia hay cho con cháu dùng chứ không bán như hồi xưa. Khi tôi gặp thì cô Quyển đã đan xong những chiếc võng cần dùng cho gia đình mình. Ngày nay, võng được đan với rất nhiều chất liệu khác nhau như: ni-lông, vải dù, sợi tổng hợp… với kiểu dáng, màu sắc nhìn bắt mắt, giá cả hợp lý, lại tiện dụng. Do vậy, việc những “nghệ nhân dân gian” hiếm hoi này bỏ ra nhiều công sức để đan một chiếc võng dứa truyền thống là điều thật đáng trân trọng. Khi được tôi nhờ hướng dẫn lại quy trình đan võng dứa gai truyền thống, cô Quyển trả lời với giọng thân tình và dứt khoát: “Được! Ngày mai tới cô chỉ cho”.

Việc đầu tiên của nghề đan võng là phải biết chọn nguyên liệu. Nguyên liệu đan võng chỉ một thứ duy nhất, đó là rễ cây dứa gai. Rễ dứa chọn làm võng là thứ rễ còn treo lủng lẳng trên thân cây chưa cắm vào đất, vì theo kinh nghiệm loại rễ này sẽ cho ra sợi dai và bền. Ngoài ra, rễ phải suông thẳng, không quá già, cũng không quá non. Để đan một chiếc võng phải chặt rất nhiều rễ dứa. Để chọn được rễ vừa ý người thợ đan phải băng rừng, trèo núi tìm chặt. Do là loài mọc hoang, lại có nhiều gai nên mỗi lần đi tìm chặt rễ dứa chân tay trầy trụa, tóe máu là điều thường xuyên xảy ra. Sau khi đã có rễ cây, dùng rựa chặt khúc dài khoảng 1 mét (m) gọt sạch vỏ, chỉ dùng phần lõi, rồi chẻ ra từng thanh mỏng phơi vào những ngày nắng ráo, phơi một nắng là vừa. Tiếp đến là đến công đoạn tét sợi, kích cỡ sợi tốt nhất khoảng độ bằng cái chân nhang. Sợi được bó lại để yên ở một góc nhà, để có sợi trắng ngà tinh mới và có độ bóng là đã sẵn sàng cho đan võng. Đan võng rất khó. Nếu như chặt rễ đòi hỏi sức lực, thì se sợi, đan thành phẩm một cây võng đòi hỏi sự tỉ mẩn, miệt mài trong từng chi tiết.

Theo cô Chỉnh, muốn học đan võng thì đầu tiên phải học cách se dây. Dây phải se cho đều, nếu không đều dây nhỏ, dây to thì sẽ bị leo dây. Tùy thuộc vào chiếc võng lớn hay nhỏ mà ta sử dụng sợi, nếu chiếc võng lớn thì ta se 30 sợi, nhỏ thì 20, thông thường mỗi sợi dài từ 5 đến 6m. Khi se dây thành thạo thì mới có thể học đan, mà điểm khó nhất đó là đan đầu võng. Sở dĩ đan đầu võng thứ nhất thường mất thời gian và khó là vì, đầu võng là “điểm tựa”, là mấu chốt cho các công đoạn tiếp sau. Nếu cố định đầu võng tốt thì sau đan từng ô mới đều và đẹp.

Một cây võng thành phẩm thường có độ dài từ 2 – 2,5m, sử dụng khoảng 5 năm, nếu bảo quản tốt có thể sử dụng 10 năm.

Hướng khôi phục và phát triển làng nghề

Nhờ có những lợi thế về cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp, kỳ vĩ, cùng với các di sản vật thể và phi vật thể mang đậm dấu ấn văn hóa biển đảo nên trong những năm gần đây, khách du lịch đến với đảo ngày càng nhiều.

Vào năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án quy hoạch Phú Quý thành 1 trong 16 khu bảo tồn biển của cả nước. Phú Quý sẽ trở thành điểm đến thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước. Do vậy, nghề đan võng dứa gai có khả năng phát triển tốt trong bối cảnh ngành du lịch đang dần khởi sắc. Đến đây, du khách tha hồ thả bước trên hòn đảo xinh đẹp, khám phá làng nghề đan võng truyền thống. Với chiếc võng buộc dọc những hàng dừa ven biển, khách du lịch sẽ được hít thở không khí trong sạch giữa trùng khơi, nhìn ngắm mây trời bao la, hay mua sắm chiếc võng để làm quà lưu niệm cho gia đình, người thân.

Hy vọng trong tương lai, chính quyền địa phương quan tâm hơn nữa và có kế hoạch để khôi phục làng nghề này. Nếu được như thế, không những nghề truyền thống bao đời nay của địa phương được gìn giữ, mà còn tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Giữ gìn, khôi phục làng nghề đan võng sẽ góp phần lưu giữ nét văn hoá, nếp sống sinh hoạt độc đáo của người xứ đảo.

THÀNH DANH

Báo Bình Thuận

Ngất ngây mực ngon đảo Phú Quý

Con mực còn tươi rói, lớp sắc tố dưới da màu hồng vẫn biến ảo, ẩn hiện thành từng đốm, chỉ cần chao qua vài đường trên lò than, vị thơm ngậy của mùi mực sữa đã khiến tay đũa phải ngọ nguậy, các giác quan bắt đầu vận hành với công suất phủ đầy… thèm muốn.

Phú Quý (còn gọi là cù lao Thu hay cù lao Khoai Xứ) là một đảo có diện tích 16 km² nằm ngoài khơi bờ biển Nam Trung Bộ thuộc tỉnh Bình Thuận. Hôm đầu tiên cập cảng Phú Quý lúc trời vừa hửng sáng, cảnh tượng đầu tiên ập vào mắt tôi là những chiếc thúng mang từng túi nylon căng mực lặc lè đáp vào bờ kịp phiên chợ sớm.

Hong khô mực Phú Quý

Sáng – trưa – chiều – tối, bữa nào cũng toàn một món mực, quanh đi quẩn lại có hấp, xào, muối, một nắng, chiên, nướng… cả tuần ăn như thế mà không ngán. Bởi đó là mực Phú Quý – sản vật biển khơi ngon bổ rẻ nhất đảo.

Ở xứ đảo này, đứng ở cầu tàu gặp mực lượn lờ bên mép biển, đi vào làng mực một nắng, mực muối phơi lềnh khênh, vào kho lạnh thấy mực cấp đông nằm xếp lớp, bếp ăn đang đỏ lửa với bữa cháo mực chuẩn bị đãi khách phương xa…, tôi định bụng phải ghim thêm cái tên “đảo mực” cho xứ cù lao Thu, cù lao Khoai Xứ này nữa cho đủ bộ.

Chiều đến, ngư dân lục tục chuyến câu mực đêm, gặp khách lạ liền rủ đi câu bằng thổ ngữ nghe khó đến độ các dây thần kinh thính giác căng hết cỡ mà vẫn ngu ngơ chưa hiểu chuyện.

Đêm xuống, lênh đênh ra khơi, gặp ngay ngày xui xẻo khi giông về, gió giật cỡ cấp 5, khách nằm lăn cu chiêng dưới sàn tàu, mặt xanh lè vì say sóng, dân câu vẫn bình thản ngồi mạn thuyền tay nhấp cần móc mớ kim tuyến óng ánh, tay cầm vợt xúc mực nhoi lên thả chậu trên mạn thuyền, rồi đủng đỉnh nhìn khách nằm vật vờ, hả hê cười sằng sặc: “Câu con mực chi dễ đâu bay”.

Sáng mơ, mực về bến, có con vẫn lóp ngóp bơi, liền được phân loại, bỏ túi nylon đem cấp đông xuất đi Đài Loan, Nhật Bản, Châu Âu… Những con mực “nhi đồng” thuộc lứa mực sữa, mực cơm, đem ngâm muối phơi nắng.

Khách xin tạm vài con đem nướng y trên than hồng. Con mực còn tươi rói, lớp sắc tố dưới da màu hồng vẫn biến ảo, ẩn hiện thành từng đốm, chỉ cần chao qua chao lại vài đường trên lò than, vị thơm ngậy của mùi mực sữa đã khiến tay đũa phải ngọ nguậy, các giác quan bắt đầu vận hành với công suất phủ đầy… thèm muốn.

Chẳng hiểu có phải do thấm thía khoản lao nhọc khi rước con mực từ biển lên bờ, cộng với bữa mực nào cũng diễn ra trong tình trạng tươi mới, thơm ngon, thế nên chỉ mới khoản mực nướng than dân dã thôi, ăn tái cũng phê mà ăn chín cũng đã. Mấy ngày ở Phú Quý, cơm bữa nào cũng với mực, nhưng chưa một lần ngán.

Theo Dulichbinhthuan

Dòm xanh – món ăn ngon của Phú Quý

Dòm xanh vốn là một loài nhuyễn thể có hai mảnh, vùi vào trong cát hay ẩn mình trong các bãi san hô, đá ngầm ven biển. Đây là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao. Thịt dòm xanh chắc, vị ngọt đậm đà, có thể chế biến thành nhiều món ăn rất ngon; dụng cụ để bắt dòm xanh cũng rất đơn giản, đó có thể là cái muỗng canh, cũng có thể là dụng cụ tự chế miễn là cầm vừa tay và moi được trong cát.

Đảo Phú Quý mùa này gió lớn! Cứ mỗi đợt không khí lạnh từ phương Bắc tràn về, biển lại động dữ dội, hoạt động đánh bắt trên biển phải dừng lại; tuyến vận tải duy nhất nối đất liền với hải đảo cũng ngừng hoạt động. Do đó, việc cung cấp lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm phục vụ người dân trên đảo bị gián đoạn, khan hiếm và giá cả trở nên đắt đỏ hơn.

Để “chữa cháy”, nhiều phụ nữ ở đảo Phú Quý thường đi bắt con dòm xanh để làm thức ăn cho bữa cơm gia đình. Đây là thực phẩm ngon, bổ và có thể “chữa cháy” trong những ngày biển động.

Với bản tính chịu thương chịu khó, không ngại giá rét, trong những ngày này đi dọc bờ biển Phú Quý nếu để ý chúng ta sẽ bắt gặp nhiều tốp người, mà chủ yếu là phụ nữ và trẻ em rong ruổi trên các bãi biển, bãi đá san hô để tìm bắt con dòm xanh.

Dòm xanh sống ven bờ biển Phú Quý rất nhiều và có quanh năm, nhưng trọng lượng so với dòm xanh vùng biển Tuy Phong thì nhỏ hơn. Thiết nghĩ đây là một loại hải sản ngon cần đưa vào thử nghiệm để nuôi trồng.

THÀNH DANH

Báo Bình Thuận

Cua đá ở hòn Tranh Phú Quý

Cua đá Phú Quý thường sống quanh mép, bờ đá, các vũng nước quanh khu vực hòn Tranh, ngư dân Phú Quý thường săn bắt cua vào ban đêm vì đây là thời gian cua đi tìm thức ăn. Cua đá là một trong những đặc sản quý hiếm của huyện đảo Phú Quý.

Có diện tích lớn thứ hai trong nhóm 10 đảo, hòn Tranh của huyện đảo Phú Quý, cách đảo chính khoảng 15 phút đi xuồng máy về hướng Đông Nam. Hòn Tranh hình chữ S, nơi rộng nhất 400m, dài khoảng 1.000m. Phía Nam hòn Tranh là các vũng Gần, vũng Bàn, vũng Phật… nước xanh trong nhìn thấy từng viên đá cuội… Có thể nói, cho dù hiện nay đã có một số ít chiến sĩ hải quân làm nhiệm vụ, cũng như ngư dân lui tới khai thác hải đặc sản, nhưng hòn Tranh vẫn còn hoang sơ với các loại cây rừng, dứa dại, cỏ tranh và gần đây là cây phong ba… Nhờ sự hoang sơ này mà nhiều loại động, thực vật phát triển, tồn tại, trong đó có cua đá, một loài cua chỉ xuất hiện ở các hoang đảo.

Cua đá ăn lá cây và các loại thức ăn xanh mà chúng tìm thấy. Ban ngày cua trốn trong hang, đêm xuống bò men theo các hòn đá, leo lên cây ăn lá. Cua đá cũng như động vật hoang dã trên rừng, khi bị ánh sáng chiếu vào mắt thì bất động. Vì vậy, để bắt cua đá chỉ cần chiếc đèn pin đủ sáng và đôi bao tay đủ dày để không bị đau khi cua kẹp, cùng đôi mắt tin tường để nhận ra màu tím than của cua khi cua bám khe đá, hoặc trên cành cây vào ban đêm. Trong thiên nhiên, cua đá sinh sản từ tháng 6 đến tháng 9. Khi đó, cua tìm những bãi đá hoang sơ, nước biển ra vào để phóng trứng. Thịt cua đá màu trắng, rất thơm ngọt và dai. Khi hấp hoặc luộc, vỏ cua vàng tươi, bóng sáng, bắt mắt. Chính vì vậy, gần đây, ngư dân huyện đảo Phú Quý thường sang hòn Tranh tìm bắt cua đá, bán cho nhà hàng, hoặc nuôi tại gia.

Mùa mưa, cua đá hòn Tranh có điều kiện phát triển. Nếu cua đá, cùng nhiều sản vật biển ở hòn Tranh được khai thác đúng mức, có tính tới yếu tố bảo tồn, Phú Quý lại có thêm những điều hấp dẫn để chào mời du khách.

Đền thờ Bà Chúa Ngọc (Miếu Cây Da) ở Phú Quý

Đền thờ Bà Chúa Ngọc tọa lạc tại thôn Quý Hải, xã Long Hải. Di tích nằm ở phía Tây sát cạnh chân núi Cao Cát – một thắng cảnh đẹp nổi tiếng ở Phú Quý.

Đền thờ Bà Chúa Ngọc là thiết chế tín ngưỡng dân gian được người Việt trên đảo tạo dựng vào nửa đầu thế kỷ XIX để thờ nữ thần Thiên Ya Na mà người Chăm gọi là Pô Ina Nagar – thần Mẹ xứ sở. Người Việt tôn thờ Thiên Ya Na với ước nguyện cầu mong Bà phù hộ, độ trì cho công việc mưu sinh gặp nhiều may mắn, cuộc sống ấm no và hạnh phúc. Bên cạnh Thiên Ya Na là vị thần được thờ phụng chính tại di tích, tại đền còn thờ Bạch Mã Thái Giám, các bậc tiền hiền và hậu hiền đã có công khai mở đất đai, tạo lập xóm làng và dựng đền.

Tại đền thờ Bà Chúa Ngọc hàng năm diễn ra 3 kỳ tế lễ chính: tế xuân vào ngày 12 tháng giêng, tế thu vào tháng tám hoặc tháng chín và lễ kỵ Bà (giỗ Bà) vào ngày mùng 8 tháng mười âm lịch. Lễ tế xuân diễn ra vào dịp đầu năm để thỉnh cầu bà Thiên Ya Na và các vị thần linh phù trợ cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cả nông và ngư nghiệp được bội thu. Lễ tế thu diễn ra vào tháng tám hoặc tháng chín âm lịch, đây là dịp để dân làng trả lễ, báo ân cho bà Thiên Ya Na và các vị thần linh đã bảo bọc, chở che và phù hộ cho dân chúng đạt được những điều đã khẩn nguyện.

Đền thờ Bà Chúa Ngọc chứa đựng nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa cả về vật thể và phi vật thể gắn với đời sống tâm linh, tín ngưỡng của cộng đồng người Việt ở xã Long Hải nói riêng và huyện Phú Quý nói chung. Từ khi tạo lập đến nay, đền thờ Bà Chúa Ngọc luôn giữ một vị trí và vai trò quan trọng trong đời sống và sinh hoạt văn hóa tinh thần của cộng đồng dân cư địa phương. Chính vì vậy, UBND tỉnh Bình Thuận đã xếp hạng di tích lịch sử – văn hoá cấp tỉnh tại Quyết định số 3020/QĐ-UBND ngày 12/9/2014.

Linh Quang Tự – Ngôi chùa đầu tiên tại huyện đảo Phú Quý

Linh Quang Tự nằm trên địa phận xã Tam Thanh tọa lạc trên một ngọn đồi thoai thoải, khung cảnh nơi đây vừa trầm mặc thoáng đãng như tách biệt với cuộc sống trần tục. Toàn bộ cảnh chùa nổi lên như một chấm son được lồng khéo léo giữa bức tranh sơn thủy hữu tình của đảo Phú Quý.

Chùa Linh Quang Phú Quý

Từ khi tạo dựng đến nay, người dân trên đảo gọi tên chùa là “Linh Quang Tự” nhằm cầu mong hào quang, ánh sáng của chùa luôn linh hiển soi sáng để cứu độ dân chúng trên đảo có cuộc sống an bình và hạnh phúc. Linh Quang Tự là ngôi chùa khởi đầu gắn liền với sự truyền bá ánh sáng Phật Giáo ở Phú Quý. Không chỉ là một nơi có quang cảnh đẹp, mà Linh Quang Tự là ngôi chùa tiêu biểu trên các lĩnh vực lịch sử, văn học, nghệ thuật so với các ngôi chùa khác ở trên đảo.

Linh Quang Tự là ngôi chùa cổ nổi tiếng về qui mô cũng như nghệ thuật kiến trúc, tôn giáo, lễ nghi, có những cảnh trí thiên nhiên đa dạng xứng đáng là danh lam thắng cảnh của đảo Phú Quý. Nếu tính niên đại chính thức của ngôi chùa theo gia phả để lại thì chùa được kiến tạo, tu bổ lại vào năm Đinh Mão 1747 đời Vua Lê Hiển Tông – niên hiệu Cảnh Hưng thứ 8. Đến nay (2017) ngôi chùa đã có niên đại 270 năm và cũng đến nay đây là một trong những ngôi chùa có niên đại sớm nhất ở Bình Thuận.

Linh Quang Tự là ngôi chùa khởi đầu gắn liền với sự truyền bá ánh sáng Phật Giáo ở Phú Quý. Không chỉ là một nơi có quang cảnh đẹp, mà Linh Quang Tự là ngôi chùa tiêu biểu trên các lĩnh vực lịch sử, văn học, nghệ thuật về phật giáo ở trên đảo.

Chùa Linh Quang được Bộ Văn hóa Thông tin xếp hạng thắng cảnh cấp Quốc gia tại Quyết định số 51 QĐ/BT ngày 12/01/1996.

Bảo tháp trên đảo lớn nhất Việt Nam

Bảo tháp Chùa Linh Quang – Bảo tháp trên đảo lớn nhất Việt Nam tại huyện đảo Phú Quý, Bình Thuận. Bảo tháp 9 tầng, cao 37 mét, tại chùa Linh Quang (đảo Phú Quý), hiện là Bảo tháp trên đảo lớn nhất Việt Nam.

Giác hoàng Bảo tháp tại chùa Linh Quang được khởi công và hoàn thành trong 6 năm, từ 2008 đến 2013. Bảo tháp 9 tầng có diện tích sàn 612,8 m2, chiều cao 37m, chiều rộng chân tháp là 10 m.

Bảo tháp chùa Linh Quang

Bảo tháp có thư viện tại chân tháp, các tầng còn lại nơi tôn thờ các Tổ khai sơn, các đấng Bồ tát và Phật và ngọc Xá lợi.