Giá vé tàu cao tốc Rạch Giá Phú Quốc và ngược lại

Quý hành khách tham khảo giá vé tàu cao tốc Rạch Giá Phú Quốc, khi có nhu cầu đặt vé vui lòng liên hệ booking@taucaotoc.vn hoặc hotline 0889211234 để được hỗ trợ.

Giá vé tàu Phú Quốc Express Rạch Giá Phú Quốc

  • Vé VIP: 540.000 đồng/lượt – Khứ hồi: 1.080.000 đồng
  • Vé ECO: 340.000 VND/lượt – Khứ hồi: 680.000 đồng
  • Vé Người cao tuổi (trên 60 tuổi): 270.000 đồng/lượt – Khứ hồi: 540.000 đồng
  • Vé Trẻ em (6-11 tuổi): 270.000 đồng/lượt – Khứ hồi: 540.000 đồng
  • Trẻ em dưới 6 tuổi hoặc thấp hơn 1m2 trong trường hợp ngồi chung ghế với người lớn đi kèm thì được miễn phí vé lên tàu.

Giá trên đã bao gồm VAT – Included VAT.

Giá vé tàu Superdong Rạch Giá Phú Quốc

  • Người lớn: 330.000 đồng/lượt – Khứ hồi: 660.000 đồng
  • Người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên, áp dụng cho công dân VN): 280.000 đồng/lượt – Khứ hồi: 560.000 đồng
  • Người khuyết tật (áp dụng cho công dân VN): 245.000 đồng/lượt – Khứ hồi: 490.000 đồng
  • Trẻ em (Từ 6-11 tuổi tính theo năm sinh): 240.000 đồng/lượt – Khứ hồi: 480.000 đồng
Tàu Superdong Rạch Giá Phú Quốc

Liên hệ đặt vé tàu cao tốc Rạch Giá Phú Quốc

Đặt vé tàu cao tốc Phú Quốc

Điện thoại: 088 921 1234 – 088 927 1234 – 088 937 1234

Email: booking@taucaotoc.vn

Website: https://taucaotoc.vn/

Địa chỉ:

  • Rạch Giá: 16 Lô 4, Đường 3/2, Phường Vĩnh Thanh Vân, Tp.Rạch Giá, T. Kiên Giang
  • Phú Quốc: Tổ 6 Ấp Bãi Vòng, Xã Hàm Ninh, Thành phố Phú Quốc, Tỉnh Kiên Giang

Đảo Phú Quý và những điểm đến còn ít người biết không nên bỏ qua

Ngoài cảnh sắc thiên nhiên tuyệt đẹp, Phú Quý còn có nhiều điểm đến hấp dẫn mà bạn nhất định phải check in khi đến đây.

Phú Quý là một hòn đảo hoang sơ với nhiều bãi tắm đẹp thuộc tỉnh Bình Thuận, cách thành phố Phan Thiết khoảng 120 km đường biển. Đến đây, bạn sẽ không bao giờ phải thắc mắc đi đâu làm gì bởi có nhiều điểm đến và nhiều việc có thể làm.

Bãi Nhỏ – Gành Hang

Là một bãi tắm với nước biển trong xanh, ít ghe thuyền và không khí trong lành, tĩnh lặng. Bãi tắm này có hình lưỡi liềm, xung quanh được bao bọc bởi những mỏm đá đủ hình thù kỳ dị nhô ra biển. Đến đây, bạn tha hồ tạo dáng chụp ảnh mà không sợ bị ai dòm ngó, làm phiền.

Bãi nhỏ đảo Phú Quý

Bãi Nhỏ – Gành Hang tuy không lớn nhưng thích hợp cho những buổi chiều đi dạo, ngắm hoàng hôn dần buông hay tổ chức một bữa tiệc BBQ bên bờ biển, lắng nghe tiếng sóng rì rào cho lòng thanh thản.

Cột cờ đảo Phú Qúy

Cột cờ trên đảo Phú Qúy thể hiện chủ quyền và quyền lảnh thổ của Việt Nam, hiên ngang với cờ đỏ sao vàng bay phấp phới trong chiều lộng gió. Từ đây, có thể phóng tầm mắt bao quát toàn bộ quan cảnh bãi Nhỏ, Gành Hang đẹp tựa thiên đường, xa xa là những chiếc thuyền của ngư dân neo đâu, tàu hải quân giám sát trên biển…

Hòn Tranh

Hòn Tranh là một hòn đảo nhỏ cách cảng Phú Quý khoảng 15 phút đi xuồng máy. Hòn Tranh nổi lên giữa đại dương mênh mông, bao quanh bởi bốn bề sóng biển. Sở dĩ gọi là hòn Tranh, vì lúc xưa nơi đây mọc nhiều cỏ tranh, người dân từ Phú Quý qua hòn Tranh làm rẫy, cắt cỏ tranh về lợp mái nhà.

Đến Hòn Tranh, bạn còn được khám phá hang cò nước, hang cò khô – nơi trú ngụ ban đêm của họ cò hay lang thang trên đảo, hòa mình vào cảnh sắc thiên nhiên hoang sơ thú vị.

Ngọn Hải Đăng – Núi Cấm

Ngọn hải đăng trên đảo Phú Quý cao 18 m, là một trong những ngọn hải đăng lớn nhất Việt Nam, nằm trên núi Cấm với độ cao 126 m so với mực nước biển. Để chinh phục nó, bạn phải đi bộ và leo hàng trăm bậc thang đá men theo sườn núi, dài khoảng 200 m.

Hải Đăng Phú Quý

Từ ngọn hải đăng, bạn có thể chiêm ngưỡng toàn cảnh Phú Qúy tuyệt đẹp, nhất là vào ban đêm khi những ánh sáng lung linh, huyền ảo từ những chiếc thuyền đi câu đêm ngoài khơi được thắp sáng.

Bờ kè Ngũ Phụng

Bờ kè Ngũ Phụng ít đá, biển trong và đẹp. Vào mùa gió lớn thường có nhiều du khách nước ngoài chơi lướt ván dù. Ngồi ở bờ kè vào buổi chiều để ngắm hoàng hôn buông trên biển là một trong những trải nghiệm thú vị mà bạn không nên bỏ qua.

Nơi đây có bãi Ngũ Phụng khá nhỏ, có hàng dừa xanh mát rủ bóng giữa trưa hè, thế nhưng lại không thích hợp tắm biển vì có nhiều bãi đá.

THEO V.H (NGÔI SAO)

Chuồng cọp Côn Đảo nơi giam giữ chiến sỹ Cộng sản kiên trung

Chuồng cọp Côn Đảo nằm trong hệ thống nhà tù Côn Đảo – nơi được mệnh danh là “địa ngục trần gian”, nơi cả thế giới bàng hoàng khi sự thật được phơi bày.

Chuồng Cọp Pháp – Trại Phú Tường

Nhắc đến hệ thống nhà tù Côn Đảo, cả thế giới đều ghê sợ trước những kiểu giam cầm, tra tấn người tù man rợ nhất. Trong đó, hệ thống Chuồng Cọp trở thành nỗi ám ảnh của nhiều thế hệ tù nhân. Thế nhưng, gần 30 năm tồn tại, bí mật về Chuồng Cọp mới được phơi bày trước công luận thế giới.

Trại Phú Tường

Cũng giống như các trại giam khác được Pháp xây dựng tại Côn Đảo, trại Phú Tường có tường cao, dày làm bằng đá, bên trên cuộn thép gai, cổng sắt cao đóng kín, gồm 2 dãy nhà với 8 khám nối tiếp vào góc phía Nam của trại Phú Sơn. Trại khởi công từ năm 1940, hoàn thành vào năm 1944 khi các trại Phú Thọ, Phú Hải, Phú Sơn được xây dựng trước đó không còn đủ chỗ để giam tù nhân.

Tuy nhiên, bí mật của trại Phú Tường chính là hệ thống Chuồng Cọp ẩn sau những bức tường đá sừng sững. Sau khi nghe giới thiệu về quá trình hình thành trại Phú Tường, theo hướng dẫn của thuyết minh viên, chúng tôi theo lối mòn bên tay phải, qua 2 cánh cổng nhỏ, hệ thống chuồng cọp hiện ra gồm 2 dãy với 120 buồng giam biệt lập và 60 buồng giam không có mái che.

Hệ thống Chuồng Cọp này thông với các trại giam khác qua những cánh cửa nhỏ. Tù nhân khi bị tra tấn đến ngất mới được đưa vào đây bằng những cửa nhỏ khác nhau để đánh lạc hướng nên không ai xác định được vị trí trại giam. Do vậy, suốt 30 năm tồn tại (từ 1940), đến năm 1970, hệ thống Chuồng Cọp này mới bị phát hiện từ tố cáo của 5 học sinh sinh viên tham gia phong trào xuống đường bị giam tại đây.

Những học sinh sinh viên này sau khi được trả tự do, dựa theo trí nhớ đã mô tả lối vào gửi đến Hạ viện Mỹ. Ngay sau đó, đoàn nghị sĩ Mỹ đến Việt Nam để điều tra sự việc. Song chúa đảo Nguyễn Văn Vệ tìm cách chối quanh khiến đoàn nghị sĩ tưởng như trở về tay không.

Đang lúc tìm cớ chống chế, che giấu tội ác thì chính Nguyễn Văn Vệ lại tự chỉ lối cho đoàn nghị sĩ từ sự nóng nảy của mình. Trong khi kiên quyết cản bước đoàn nghị sĩ đến cánh cổng dẫn vào Chuồng Cọp, Nguyễn Văn Vệ to tiếng và đập chiếc ba toong của mình vào cánh cổng. Người gác phía trong nghe thấy giọng chúa đảo và tiếng đập ba toong quen thuộc, nghĩ rằng chúa đảo đi tuần, liền mở cổng. Cánh cổng được mở ra, toàn bộ sự thật tàn ác, kinh khủng, kinh tởm của chế độ nhà tù Côn Đảo được phơi bày trước mắt đoàn nghị sĩ.

Trở về Mỹ, đoàn nghị sĩ đã kịch liệt lên án sự tồn tại của Chuồng Cọp, đồng thời, cung cấp thêm nhiều bức ảnh và tư liệu cho tạp chí Life số ra ngày 17/7/1970. Sự kiện này gây ra làn sóng phản đối rộng lớn tại Việt Nam, Mỹ và nhiều nơi trên thế giới. Dư luận thế giới rất bất bình về những bức ảnh và thông tin được đăng tải, gây sức ép buộc chính quyền Sài Gòn phải phá bỏ toàn bộ Chuồng Cọp, chuyển 480 tù nhân đang bị giam giữ ra ngoài. Một số tù nhân được đưa sang các nhà giam khác, số khác được đưa vào các bệnh viện tâm thần…

Ở những buồng giam biệt lập, là những căn phòng chật hẹp, kích cỡ 1,5 x 2,7m. Bên trên trần là dàn song sắt. Nhìn từ trên xuống tối tăm, không khác cũi nhốt cọp.

Theo lời kể của thuyết minh viên, mùa nóng mỗi buồng giam nhốt từ 5 đến 12 người, chân luôn bị còng và kéo lên cao vào một thanh sắt. Ăn uống, tắm giặt, tiểu tiện gói gọn trong phạm vi đó. Bên trên, cai ngục đi dọc theo hành lang để kiểm soát, theo dõi người tù, trên tay lăm lăm gậy sắt dài nhọn và sẵn sàng chọc xuống bất cứ tù nhân nào. Trên trần mỗi buồng giam để một thùng nước và một thùng vôi bột. Tù nhân khát, chúng đổ ào nước xuống, khi có dấu hiệu phản đối, chúng rắc vôi bột mịt mù vào mắt người trong chuồng. Người tù không lúc nào yên thân. Lúc nào cũng có những cặp mắt soi mói, rình mò và bất cứ lúc nào cũng có thể bị đánh, tra tấn. Ăn uống đói khát, điều kiện sống mất vệ sinh, khiến người tù suy sụp nhanh chóng.

Đến Chuồng Cọp, tận mắt chứng kiến những hình ảnh được tái hiện sinh động, nghe những câu chuyện kể về đòn roi, tra tấn, trong đoàn ai cũng lặng người và thầm cảm phục các chiến sĩ yêu nước đã kiên cường chịu đựng khổ đau, đàn áp tranh đấu vì độc lập, tự do cho dân tộc hôm nay.

Chuồng cọp Pháp

Chuồng cọp Mỹ – Trại Phú Bình

Năm 1970, trước sức ép từ công luận, Mỹ – Ngụy buộc phải phá bỏ Chuồng Cọp Pháp. Song, ngay sau đó (1971), chúng lại xây một Chuồng Cọp khác biệt lập, quy mô và mức độ khốc liệt hơn.

Sau Chuồng Cọp Pháp, hành trình tiếp theo của chúng tôi là trại Phú Bình (còn gọi là trại VI, hay Chuồng Cọp Mỹ). Trại nằm gần khu vực mũi Lò Vôi, từ đường Nguyễn Chí Thanh hoặc Lê Văn Việt đi vào đều được. Trại Phú Bình có tổng diện tích 25.768m2, được xây dựng từ năm 1971 đến 1973 nhằm giam giữ tù chính trị chống đối ở Chuồng Cọp Pháp, Chuồng Bò và các trại khác chuyển giao về. Theo các tài liệu ghi chép lại, kinh phí xây dựng lên đến 400.000 USD, chuyên gia thiết kế và nhà thầu thi công đều là người Mỹ, nên tù nhân đặt là Chuồng Cọp Mỹ.

Trại Phú Bình

Nếu những trại tù do Pháp xây dựng kín cổng, có nhiều tháp canh bên trên, tường bao quanh trại và từng phòng giam đều xây bằng đá kiên cố, cao khoảng 4m, mái ngói, thì trại Phú Bình kiến trúc khác hẳn. Cổng và hàng rào bằng kẽm gai đan ô vuông vức, bên ngoài nhìn vào rất thoáng đãng, thấy cả sân đất, lối đi lát đá, các dãy nhà ăn, bếp, trạm xá, nhà kho… Thế nhưng tính chất thâm độc hơn Chuồng Cọp Pháp nhiều lần. Thay vì tra tấn bằng đòn rui, nhục hình như Chuồng Cọp Pháp, ở Chuồng Cọp Mỹ những tù nhân chính trị không bị cùm chân, nhưng lại bị hành hạ thể xác và tinh thần với những thủ đoạn tinh vi, độc địa.

Ở trại Phú Bình, khu giam giữ tù nhân nằm sâu bên trong, chia thành 8 khu AB, CD, EF, GH với tổng cộng 384 xà lim. Từ cổng trại đi vào đến từng xà lim phải đi qua từ 5 đến 7 lần cửa sắt. Trong mỗi khu, 2 dãy xà lim đối diện, mỗi dãy có 48 phòng, chỉ cách nhau một hành lang hẹp và tối. Mỹ – Ngụy dùng yếu tố bất lợi của thiên nhiên vào việc hành hạ, đầy ải người tù. Mái lợp tôn fibrocement thấp lè tè, không có trần mà thay vào đó là dàn song sắt lớn hàn dính vào nhau và chôn hẳn vào tường tương tự Chuồng Cọp Pháp, song các phòng giam ở đây nhỏ hẹp hơn Chuồng Cọp Pháp. Khi lớp mái tôn thấp hấp thụ ánh nắng thiêu đốt ban ngày rồi chuyển lạnh dần từ nửa đêm đến sáng, người tù từ chịu cái nóng hầm hập ban ngày, về đêm nằm dưới nền đất lạnh, khí đất xông lên, xương cốt đau nhức, bệnh tật, chết dần chết mòn.

Bên cạnh đó, một trong những ngón đòn thâm độc của chúng là tra tấn tù nhân bằng âm thanh. Mỗi cánh cửa của từng phòng giam đều thiết kế 1 cửa kéo nhỏ chừng vài tấc để cai ngục có thể kéo lên nhìn vào bên trong. Chúng thường mở cánh cửa sắt ra kiểm tra rồi đóng dập lại thật mạnh, tiếng vang dội lên đinh tai nhức óc khi lần lượt 48 phòng giam trong 1 dãy và liên tiếp 8 dãy với 384 lần dội vào đầu vào lồng ngực của tù nhân. Chưa cần đến đòn roi, tù nhân cũng chết dần chết mòn bởi lối kiến trúc này.

Giếng tắm tập thể trại Phú Bình

Thế nhưng, đòn thù thâm độc của kẻ thù không khuất phục được ý chí kiên cường của những người tù cách mạng. Chuồng Cọp Mỹ trở thành trung tâm đấu tranh của tù chính trị Côn Đảo trong giai đoạn này. Các báo cáo của nhà tù trong 2 năm 1973 – 1974 cho thấy, nhiều cuộc đấu tranh của tù chính trị đã nổ ra tại đây dưới hình thức: Hô la tập thể, đòi nhà cầm quyền phải cung cấp đầy đủ lương thực, thuốc men, đòi nhà cầm quyền tôn trọng Hiệp định Paris, trao trả tức khắc số tù chính trị còn bị giam giữ…

Tại đây, cũng là nơi khởi đầu và là trung tâm chỉ đạo cuộc nổi dậy giải phóng Côn Đảo mùa xuân 1975. Được sự giúp đỡ của linh mục Phạm Gia Thụy và một số binh sĩ, công chức, gác ngục, ban lãnh đạo trại đã chớp thời cơ giải phóng Côn Đảo vào lúc 1 giờ sáng 1/5/1975. Đảng ủy lâm thời được thành lập gồm 7 người, do đồng chí Trịnh Văn Tư (Tư Cẩn) làm Bí thư. Đảng ủy tổ chức ngay lực lượng vũ trang chiếm các trại lính, ty cảnh sát và giải phóng cho các trại. 8 giờ sáng ngày 1/5/1975, 7.448 tù nhân (trong đó có 4.234 tù chính trị) ở 8 trại chính và nhiều trại phụ được giải phóng, tù chính trị hoàn toàn làm chủ Côn Đảo, thành lập chính quyền cách mạng và tổ chức lực lượng phòng thủ Côn Đảo.

Cảm nhận về Chị Võ Thị Sáu – tấm gương anh hùng cho biết bao thế hệ

“Thời thế sinh anh hùng” là một câu nói hoàn toàn đúng đắn dù ở bất cứ thời đại nào. Ở thời kì chiến tranh, có nhiều vị anh hùng đã lập nên chiến công và ghi danh mình vào sử sách. Một trong nữ anh hùng nổi tiếng của Việt Nam phải kể đến chính là chị Võ Thị Sáu – người thanh niên trẻ tuổi nhưng vô cùng dũng cảm.

Chị Võ Thị Sáu sinh năm 1933 tại xã Phước Thọ, nay là xã Phước Long Thọ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu. Qua quá trình chiến đấu chống quân thù của chị được lịch sử ghi lại, chị được biết đến là nữ chiến sĩ dũng cảm, gan dạ, không sợ bất cứ kẻ thù nào, lòng dũng cảm của chị khiến người đời sau phải nể phục. Chị hi sinh khi chưa đầy 20 tuổi, dù tuổi còn rất trẻ nhưng chị đã có cống hiến vô cùng to lớn cho cách mạng và cho nước nhà. Để ghi nhớ công ơn của chị, ngày 2/8/1993 Chủ tịch nước Lê Đức Anh thay mặt nước CHXHCN Việt Nam quyết định phong chị Võ Thị Sáu danh hiệu “Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Việt Nam” và hàng năm vào ngày 27/12 âm lịch, bà con nhân dân Côn Đảo tổ chức lễ giỗ chị một cách trang trọng và đầy lòng thành kính như giỗ một người thân trong gia đình mình.

Theo lịch sử ghi lại, năm 1947, khi mới chỉ 14 tuổi chị đã gia nhập vào đội Công an xung phong quận Đất Đỏ trừng trị ác ôn, bảo vệ dân làng từ đó chị trở thành người chiến sĩ trinh sát làm nhiệm vụ phá tề, trừ gian. Ngày 14/7/1948 1948, chị đã dũng cảm dùng lựu đạn tấn công cuộc mít tinh do địch tổ chức tại chợ Đất Đỏ. Trận đánh ấy đã làm cho tên tỉnh trưởng Lê Thành Tường phải mất mặt với quan Tây. Đồng bào Đất Đỏ thì hết lời khen gợi Việt Minh xuất quỷ nhập thần. Chị Võ Thị Sáu được tuyên dương trước toàn đội. Tháng 2/1950, tại phiên chợ giáp Tết Canh Dần, trong một trận tập kích ném lựu đạn diệt các tên Cả Suốt, Cả Đay và không may chị bị sa vào tay giặc. Thực dân Pháp đưa chị ra nhà tù Côn Đảo để dùng cực hình tra khảo trên chuyến tàu ngày 21 tháng 1 năm 1952. Tại đây, chị phải chịu nhiều đau đớn bởi những cực hình độc ác đến tột cùng. Ngày 23/01/1952 nhằm ngày 27 tháng chạp năm Tân Mão chị đã hi sinh tại vùng đất này.

Cái chết của chị như hồ chuông cảnh tỉnh thế hệ bấy giờ đứng lên đi giết giặc đòi lại độc lập tự do cho đất nước. Chị là tấm gương sáng về lòng yêu nước và sự dũng cảm mà lớp lớp thế hệ sau này đặc biệt là các bạn trẻ cần noi theo. Chị còn là một người con trung hiếu, người đồng chí sắt son được nhân dân tin yêu kính phục. Sự ra đi của chị là niềm tiếc thương của cả dân tộc. Những đau khổ mà chị – người con gái độ tuổi chưa đến 20 ấy phải chịu khi bị quân giặc tra khảo khiến bao thế hệ con người phải xót thương. Chị xứng đáng là thế hệ “tuổi trẻ tài cao” của con người Việt Nam ta và cũng là tấm gương sáng để thế hệ các bạn trẻ bây giờ và mai sau noi theo.

Chị đã ra đi mãi mãi nhưng những gì chị cống hiến cho cách mạng, cho đất nước, cho cuộc đời vẫn sẽ còn lưu lai trong sử sách và trong trái tim hàng triệu con người Việt Nam. Thế hệ trẻ cần nhiều hơn những tấm gương như chị để đất nước này ngày càng phát triển và giàu đẹp hơn. Tấm gương chị Võ Thị Sáu mãi là biểu tượng của thế hệ trẻ về một lòng nồng nàn yêu nước.

Cuộc đời và chiến công của Võ Thị Sáu – Người nữ anh hùng

Chị Võ Thị Sáu, sinh năm 1933 trong một gia đình nghèo ở Đất Đỏ, cha làm nghề đánh xe ngựa, mẹ bán bì bún tại chợ Đất Đỏ; đầu năm 1946, thực dân Pháp trở lại chiếm các địa bàn tại Bà Rịa lần thứ hai, trong đó có Đất Đỏ. Chi Sáu lúc ấy cũng vừa tròn 13 tuổi, với bản chất thật thà, hiền lành và chất phát, yêu quê hương, đất nước, nên nhìn thấy những cảnh giết người, cướp của tàn bạo của bọn lính Pháp, trong lòng chị đã hình thành một ý chí căm thù mãnh liệt, sâu sắc bọn thực dân xâm lược.

Tiểu sử

Võ Thị Sáu sinh năm 1933, là con ông Võ Văn Hợi và bà Nguyễn Thị Đậu. Về nguyên quán, trên bia mộ chỉ ghi tại huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Nhiều tài liệu ghi nguyên quán của cô tại xã Phước Thọ (thuộc tổng Phước Hưng Hạ), tỉnh Bà Rịa, nay thuộc thị trấn Đất Đỏ, huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Một số tài liệu khác ghi nguyên quán của cô tại xã Long Mỹ (thuộc tổng Phước Hưng Thượng), tỉnh Bà Rịa, nay thuộc xã Long Mỹ, cũng thuộc huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Sinh ra trong một gia đình nghèo, cha làm nghề đánh xe ngựa chở khách thuê đi Long Điền, Phước Hải, mẹ buôn bán bún bì chả tại chợ Đất Đỏ, từ nhỏ, cô phải phụ giúp cha mẹ để sinh kế. Năm cô lên 4 tuổi, gia đình cô đã thuê một căn nhà thuộc dãy phố chợ do làng xây dựng để cho thuê mướn. Căn nhà này nay thuộc huyện Đất Đỏ, được chính quyền Việt Nam cho phục dựng để làm nhà lưu niệm về cô.

Quá trình hoạt động

Trước sự đau thương và mất mát của quê hương, đã thúc đẩy các tầng lớp nhân dân trong huyện tham gia kháng chiến chống thực dân Pháp, trong đó có chị Võ Thị Sáu; cuộc đời chị Sáu gắn bó cách mạng kể từ đó. Năm 1947, lúc 14 tuổi Sáu vừa làm nhiệm vụ mua hàng, vừa làm nhiệm vụ giao liên để nắm tình hình địch và làm mật hộ viên công an xung phong Đất Đỏ. Tuy còn nhỏ tuổi nhưng chị rất mưu trí, lanh lẹ và chị luôn hoàn thành nhiệm vụ được phân công.

Năm 1949, chị đã trở thành người đội viên công an xung phong Đất Đỏ. Chị đã dũng cảm, sáng tạo và luôn hoàn thành nhiệm vụ người chiến sĩ công an xung phong, tham gia nhiều trận chiến đấu để bảo vệ quê hương, trong đó nổi bật nhất là trận đánh diệt tên cai tổng nổi tiếng ác ôn ở Đất Đỏ vào năm 1949 và dùng lựu đạn phá cuộc mít tinh tuyên truyền do Pháp thực hiện tại huyện. Vì vậy, bọn thực dân Pháp vô cùng lo sợ và căm tức đối với hoạt động của đội công an xung phong mà tiên phong là chị Võ Thị Sáu, nên từ đó, bọn chúng ra sức truy lùng ráo riết.

Vào tháng 12/1949, trong một chuyến công tác tại Đất Đỏ, chị Sáu đã sa vào tay giặc, hơn một tháng bị giam giữ tại nhà tù Đất Đỏ và khám đường Bà Rịa, địch dùng nhiều thủ đoạn tra tấn dã man nhưng chúng vẫn không lấy được một lời khai nào của chị, sau đó bọn chúng đưa chị về giam giữ ở khám Chí Hòa. Mặc dù bị địch giam giữ nhưng chị Sáu vẫn tiếp tục làm liên lạc cho các đồng chí trong khám và cùng các chị, em trong tù đấu tranh buộc địch phải cải thiện cuộc sống trong nhà tù. Trước tinh thần đấu tranh quyết liệt và không nao núng của chị Sáu cùng những đồng chí trong tù, dù không đủ bằng chứng, nhưng thực dân Pháp cùng bọn tay sai vẫn kết án tử hình và đày chị ra Côn Đảo.

Là người chiến sĩ kiên cường, dũng cảm, trung thành, chị Võ Thị Sáu vinh dự được Đảng ủy nhà tù Côn Đảo kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam và công nhận là đảng viên chính thức.

Chị Võ Thị Sáu hy sinh vào sáng ngày 23/01/1952. Khi giặc Pháp đưa chị ra xử bắn, với nét mặt ung dung, bước đi vững chắc, ngẩng cao đầu, cất lên bài hát Quốc tế ca, với tinh thần lạc quan cách mạng, chị đã thể hiện tinh thần bất khuất của người chiến sĩ cộng sản.

Chị Võ Thị Sáu hy sinh đã để lại sự thương tiếc vô hạn đối với đồng chí, đồng đội và đồng bào; đồng thời sự hy sinh của chị là lời tố cáo đanh thép đối với sự dã man và âm mưu hèn hạ của chế độ thực dân Pháp lúc bấy giờ.

Chị Võ Thị Sáu là người tử tù đầu tiên ở Côn Đảo cũng là người nữ tù nhỏ tuổi nhất, chị đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu AHLL vũ trang nhân dân vào ngày 02/08/1993. Đó là tấm gương sáng của chị để lại cho chúng ta noi theo, chúng ta nguyện hết lòng ra sức phấn đấu rèn luyện về thể chất, nâng cao trình độ về mọi mặt để cống hiến cho sự nghiệp xây dựng, bảo vệ quê hương Đất Đỏ nói riêng và cả nước nói chung, đưa đất nước ta ngày càng phát triển phồn vinh, văn minh và giàu đẹp. lời cuối cùng, không biết nói gì hơn, tôi xin thay mặt toàn thể nhân dân Việt Nam gửi lời cảm sâu sắc đến những anh hùng, chiến sĩ cách mạng nói chung và chị Võ thị Sáu nói riêng đã anh dũng chiến đấu đến giây phút cuối cùng để bảo vệ đất nước, giữ gìn độc lập dân tộc và để cho chúng ta có cuộc sống ấm no hạnh phúc như ngày hôm nay. Và bằng cách nào đó, tôi mong rằng, mỗi cá nhân hãy cùng nhau chung tay góp sức để xây dựng một đất nước Việt Nam thật giàu mạnh để xứng đáng với công lao của các vị anh hùng. Bản thân tôi sẽ cố gắng ra sức học tập và rèn luyện để góp phần công sức nhỏ nhoi của mình xây dựng đất nước.

Cuộc đời cách mạng cùng cái chết bất khuất ở tuổi đôi mươi của người con gái Đất Đỏ trở thành huyền thoại: Người con gái trẻ măng/Giặc đem ra bãi bắn/Đi giữa hai hàng lính/Vẫn ung dung mỉm cười/Ngắt một đóa hoa tươi/Chị cài lên mái tóc/Đầu ngẩng cao bất khuất…. (Trích Truyền thuyết trên đảo Côn Sơn – Phan Thị Thanh Nhàn)

Những giờ phút cuối
Khi bị đưa ra Côn Đảo để chuẩn bị xử bắn, trước hôm bị hành hình, cô liên tục hát cho bạn tù nghe những bài ca cách mạng như Lên đàng, Tiến quân ca, Cùng nhau đi hồng binh… Khi biết cô chuẩn bị đưa ra pháp trường, các bạn tù đồng thanh hô vang: “Phản đối xử bắn Võ Thị Sáu. Phản đối! Phản đối! Đả đảo thực dân Pháp”.[7]

Khi cô bị giải ra nơi hành hình, các bạn tù đứng dậy cùng hát bài Chiến sĩ Việt Nam để bày tỏ lòng cảm phục, tiếc thương và tiễn đưa người đồng đội ra pháp trường. Khi linh mục làm lễ rửa tội, cô từ chối và trả lời: “Tôi không có tội. Chỉ có kẻ sắp hành hình tôi đây mới là có tội”. Khi vị linh mục nói: “Trước khi chết, con có điều gì ân hận không?”, cô đã đáp lời: “Tôi chỉ ân hận là chưa tiêu diệt hết bọn thực dân cướp nước và lũ tay sai bán nước”. Khi đến pháp trường, cô nói: “Không cần bịt mắt tôi. Hãy để cho đôi mắt tôi được nhìn đất nước thân yêu đến giây phút cuối cùng và tôi có đủ can đảm để nhìn thẳng vào họng súng của các người!”. Nói xong, Võ Thị Sáu hát bài Tiến quân ca. Khi lính xử bắn lên đạn, cô ngừng hát và hô vang những lời cuối cùng: “Đả đảo bọn thực dân Pháp. Việt Nam độc lập muôn năm. Hồ Chủ tịch muôn năm!” Một chuyện khác kể, khi nhóm đao phủ bảo quỳ xuống, cô đã quát lại: “Tao chỉ biết đứng, không biết quỳ!”.[8]

Theo đại tá Lê Văn Thiện, một cựu tù Côn Đảo, trong quyển sách “Tình đất đỏ”, dẫn lời kể của cựu tù Côn Đảo lâu năm là ông Tám Vàng, quê Trà Vinh, người đã chứng kiến buổi hành hình và tự tay chôn cất Võ Thị Sáu thì khi lính Pháp trói chị Sáu vào gốc bàng, hướng về nghĩa địa Hàng Dương. Quân Pháp lấy khăn bịt mắt nhưng chị Sáu phản đối không cho bịt, rồi chị nhìn thẳng vào bọn lính sắp bắn và hát bài “Chiến sĩ Việt Nam”, “Lên Đàng”[7]

Sau khi quân Pháp bắn Võ Thị Sáu, ông Tám Vàng cởi dây trói cho Võ Thị Sáu, mắt cô vẫn mở, cơ thể còn ấm nóng. Chính tay ông Tám Vàng đã vuốt mắt cho cô. Và cũng vì nể phục Võ Thị Sáu, nên thay vì lấp đất chôn xác như với những tù nhân khác, ông Tám Vàng đã bí mật tìm 4 tấm ván làm hòm dã chiến để chôn cất.[7]

Chôn cất và thờ cúng Cô Sáu

Ngay tối 23 tháng 1, kíp tù nhân làm thợ hồ ở khám 2, banh I đã tìm cách đúc một tấm bia bằng xi măng đề rõ họ tên, quê quán, ngày mất đặt ở nơi chôn cất cô. Sáng hôm sau, khi hay tin, chúa ngục Côn Đảo là Jarty đích thân dẫn lính đến đập nát tấm bia, san bằng ngôi mộ. Sáng hôm sau, ngôi mộ được đắp cao hơn và một tấm bia bằng xi măng khác lại được dựng lên. Chúa ngục Jarty ra lệnh cho giám thị trưởng Passi chỉ huy 20 lính lôi từng người tù ra đánh bằng roi mây và giam những người bị tình nghi vào xà lim. Tuy nhiên, các tù nhân khổ sai vẫn lén giấu từng nhúm xi măng để dựng lại bia, đắp lại ngôi mộ. Cứ mỗi lần bị đập bia, thì sau đó bia mộ mới lại được dựng lên. Giữa các tù nhân và những người Việt đang làm cho người Pháp tại Côn Đảo bắt đầu lan truyền những huyền thoại về Võ Thị Sáu, một người con gái chết trẻ, vốn được cho là sẽ hiển linh trong văn hóa tâm linh Á Đông. Những lời đồn đại nhanh chóng lan truyền cho rằng “Cô Sáu rất linh thiêng, không ai có thể đập phá được mộ của cô”, và những ai trực tiếp chỉ huy phá mộ thì vài hôm sau đã chết “bất đắc kỳ tử”, hoặc khùng khùng điên điên. Cũng từ đây, người trên đảo khi nhắc tới điều gì đều không thề: “Có trời đất quỷ thần”, mà thề: “Có cô Sáu chứng giám”.

Những lời đồn đại về sự linh thiêng của Võ Thị Sáu tiếp tục được lưu truyền sau khi chế độ Việt Nam Cộng hòa tiếp quản đảo từ quân Pháp và vẫn sử dụng Côn Đảo như một trại tù chính nhằm cách ly những tù nhân nguy hiểm nhất, mà số đông là tù nhân Việt Minh và quân Giải phóng. Năm 1960, một viên chức tên Tăng Tư ra Côn Đảo nhận chức Phó tỉnh trưởng tỉnh Côn Đảo, vợ ông này đang mắc bệnh nan y. Nghe chuyện về Võ Thị Sáu, ông này âm thầm lập bàn thờ Sáu trong nhà, cầu mong phù hộ cho vợ khỏi bệnh. Tăng Tư là quan chức của Việt Nam Cộng Hòa, việc thờ Võ Thị Sáu nếu bị phát giác thì sẽ bị kết tội là thờ “liệt sĩ Cộng sản”, nhưng ông này vẫn bất chấp nguy hiểm do niềm tin vào sự linh thiêng của Võ Thị Sáu. Năm 1964, Tăng Tư lên chức tỉnh trưởng, bà vợ khỏi bệnh. Vợ chồng Tăng Tư liền làm lễ tạ và gieo quẻ xin phép được trùng tu ngôi mộ của Võ Thị Sáu. Rồi vợ Tăng Tư về ngay Chợ Lớn đặt tấm bia có khắc rõ là: “Liệt nữ Võ Thị Sáu. sinh năm 1933 tại Bà Rịa, mất ngày 23/1/1952” và tổ chức buổi lễ long trọng đặt bia trên mộ chị.

Về sau còn có thêm 1 tấm bia nữa do Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam dựng nên để ghi công chị. Tổng cộng, ngôi mộ Võ Thị Sáu có tới 3 tấm bia, mỗi tấm đều gắn với một sự ghi nhận từ tâm linh cho tới lịch sử, không chỉ từ những đồng đội của chị mà còn từ chính đối phương.

Chị mãi mãi là tấm gương sáng cho các thế hệ Việt Nam noi theo!

Xem thêm: Ngày giỗ nữ anh hùng Liệt sỹ Võ Thị Sáu diễn ra vào thời gian nào?

Một số câu hỏi thưởng gặp về Chị Võ Thị Sáu

Một số thông tin bổ sung về Nữ anh hùng Liệt sỹ Võ Thị Sáu để quý độc giả biết rõ hơn.

Võ Thị Sáu tham gia cách mạng năm bao nhiêu tuổi?

Năm 1947 khi 14 tuổi, chị Võ Thị Sáu gia nhập vào đội Công an xung phong quận Đất Đỏ trừng trị ác ôn, bảo vệ dân làng từ đó chị trở thành người chiến sỹ trinh sát làm nhiệm vụ phá tề, trừ gian.

Chị Võ Thị Sáu mất năm bao nhiêu?

Nữ anh hùng Võ Thị Sáu hy sinh ngày 23-1-1952 (Nhằm ngày 27 tháng Chạp năm Tân Mão) hưởng dương 19 tuổi.

Hàng năm vào ngày 27/12 âm lịch, bà con nhân dân Côn Đảo tổ chức lễ giỗ chị một cách trang trọng và đầy lòng thành kính như giỗ một người thân trong gia đình mình

Ngày giỗ Cô Sáu vào ngày nào?

Tại huyện Côn Đảo thường lấy ngày 23/1 tổ chức ngày giỗ Cô Sáu, riêng tại huyện Đất Đỏ quê hương Võ Thị Sáu thường lấy ngày 27 tháng Chạp hằng năm để tổ chức. Như vây, thông thường ngày giỗ Cô Sáu sẽ được tổ chức 02 lần tại 2 địa phương thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Đi lễ Cô Sáu cần mua những gì?

Bộ đồ lễ viếng mộ cô Sáu cơ bản bao gồm 1 nón lá, 1 sấp giấy tiền vàng bạc tổng hợp, 1 bộ lược gương, 1 sấp các thỏi vàng, 1 chai nước suối, 1 bó nhang và quan trọng nhất là hoa trắng. Cô Sáu rất thích hoa trắng nên tuyệt đối đừng quên món đồ cúng này.

Nên kiêng kỵ gì khi đi lễ Chị Sáu?

Một vài điều kiêng kỵ khi đi lễ tại Côn Đảo như sau: Không đùa giỡn, nói bậy bạ, kể cả trong suy nghĩ cũng không nên, Trang phục đi lễ lịch sự, không quá ngắn.

Có nên cầu duyên ở Mộ Cô Sáu?

Nên lưu ý tránh cầu tài lộc và tình duyên. Ở Côn Đảo có Miếu Bà Phi Yến là điểm cầu duyên nổi tiếng. Bởi người ta tin rằng khi sống Bà là thứ phi của vua, lại đoan trang đức hạnh, trung tiết, và khi mất thì gửi xác tại miền Côn Đảo này nên sẽ rất hiển linh.

Miếu Cô Vân Côn Đảo tại Hòn Cau

Miếu Cô Vân được lập tại Hòn Cau Côn Đảo nhưng không rõ vào thời gian nào, hiện nay đây là một trong những điểm du lịch tâm linh có tiếng là linh thiêng nên nhiều du khách tham khảo để đến thăm viếng trong chuyến hành trình của mình.

Sự tích về Cô Vân ở Côn Đảo

Sự tích về Cô Vân có rất nhiều người kể và mốc thời gian thì ko chính xác và rõ ràng, chỉ chắc chắn rằng Cô mất trên biển. Có người kể rằng khi phát hiện ra xác Cô thì trên giấy tờ của Cô đã bị nước làm nhoè chỉ còn 1 chữ Vân nên gọi là miếu Cô Vân, cũng có người kể khi phát hiện ra xác Cô trên Hòn Cau thì lúc đó Cô chỉ còn là bộ xương trắng, các ngư dân chôn rồi lập mộ tại Hòn Cau.

Trong quá trình đánh bắt cá, khi đi ngang qua đây ngư dân thấy một người con gái mặc đồ trăng đang lướt nhẹ trên những sườn đá dốc, xung quanh lúc nào cũng có sương mù tựa mây nên ngư dân mới gọi là Vân hay cô Vân. Vân ở đây nghĩa là Mây. Ngư dân sau này đánh bắt cá trên vùng biển này hay ghé lại miếu cô Vân cầu cô để có cuộc sống tài lộc thoát khỏi sự nghèo khó, họ đi qua cúng Cô và được Cô cho lộc vì vậy đến Cô nên chỉ cầu xin tiền tài làm ăn.

Viếng miếu Cô Vân tại Hòn Cau Côn Đảo

Bộ đồ viếng miếu Cô Vân Tiên Cảnh tại Hòn Cau Côn Đảo đơn giản bao gồm: Bộ lễ vàng mã đóng gói khoảng 250.000 đồng, Lẵng hoa cúc trắng và trái cây khoảng 350.000 đồng.

Hòn Cau Côn Đảo

Hòn Cau khá nổi tiếng bởi trước đây là một làng cổ thời vua Gia Long với tên “Xóm Bà Thiết”. Hòn Cau là một trong hai đảo thuộc quần đảo Côn Sơn có nguồn nước ngầm. Phía trước Hòn Cau có bãi Cát trắng trải dài dọc theo dãy núi hình cánh cung, xen lẫn hàng dừa và cây Phong Ba sừng sững chắn gió xanh bất tận, sâu lắng tiếng sóng vỗ rì rào, từng làn sóng tung bọt trắng xóa, kéo du khách hòa vào không gian tuyệt vời của đất, trời và biển. Hòn Cau cũng là một địa ngục trần gian khác nữa, giam giữ những nhà họat động Cách Mạng mà nổi tiếng nhất phải kể đến Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng vào khoảng thời gian 1930 – 1931.

Đến với Hòn Cau, du khách thăm di tích lịch sử giam giữ nhà hoạt động cách mạng nỗi tiếng Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng vào năm 1930 – 1931; tham quan rừng dừa, vườn cây ăn trái, tìm hiểu công tác bảo tồn thiên nhiên, bơi lội xem san hô… là những khoảnh khắc, những trải nghiệm đầy thú vị khó quên và tận hưởng cảnh đẹp hoang sơ và môi trường trong lành.

Cách ra thăm Miếu Cô Vân và Hòn Cau Côn Đảo

Thời điểm thuận lợi nhất để đi ra được đảo Hòn Cau ra thăm miếu Cô Vân là từ giữa tháng 3 đến tháng 9 Dương Lịch. Sau đó sẽ bước vào mùa gió chướng, biển động sóng lớn nên khó đi và nguy hiểm (Biển động từ cấp 7 trở lên Biên phòng huyện Côn Đảo sẽ không cho phép tàu, cano đi ra các đảo).

Trải nghiệm dịch vụ cano đi Hòn Cau Côn Đảo

Nơi Cô nằm là Hòn Cau 1 trong 16 đảo thuộc Côn Đảo, cách đảo chính 20-25′ đi cano, tuỳ thuộc vào con nước hàng ngày để có thể đi được Miếu Cô Vân nên trước khi đi mọi người liên hệ với cano để hỏi giờ. Giá tàu giao động từ 2,800,000 đồng – 3,500,000 đồng/chuyến. Quý du khách có nhu cầu có thể đặt trước cano tại Côn Đảo theo số: 0982966449 hoặc 0908778555. Ngoài lễ cô Vân, nếu bạn muốn đi thêm các điểm khác thì có thể sẽ thêm tiền. Do đó, bạn cần hỏi kỹ và thỏa thuận với chủ cano, công ty tổ chức tour xem cụ thể như thế nào?

Nếu có thời gian mọi người nên kết hợp đi chơi câu cá , lặn biển, ngắm san hô, tổ chức ăn uống… vì biển Côn Đảo cực kỳ đẹp. Thông thường, các tàu chở khách ra Hòn Cau, ngoài đi lễ là đưa luôn cả đi chơi, chứ không chỉ mỗi lễ bái không

Trải nghiệm dịch vụ lặn biển tại Côn Đảo