Ngày Đại dương thế giới

Xuất phát từ vị trí, tầm quan trọng của biển và đại dương đối với đời sống con người, ngày 08-6-1992 tại Hội nghị Thượng đỉnh về trái đất ở Ri-ô đờ Gia-nây-rô (Bra-xin), Chính phủ Ca-na-đa đã đề xuất sáng kiến về “Ngày Đại dương thế giới”. Đây là sự kiện quốc tế quan trọng, nhằm tôn vinh đại dương thế giới và bày tỏ mối quan tâm gắn bó với biển và đại dương, vì tương lai của loài người. Theo đó, mục tiêu chung của Ngày Đại dương thế giới là nâng cao nhận thức cho công chúng và các nhà hoạch định chính sách của mỗi quốc gia về vai trò quan trọng của biển và đại dương đối với đời sống con người; đồng thời, cổ vũ các hành vi tích cực vì sự “bền vững của biển cả”. Chính vì lẽ đó, ngay sau đề xuất này, Ngày Đại dương thế giới (08-6) đã được Ủy ban Văn hóa, Khoa học và Giáo dục thế giới (UNESCO) thừa nhận.

Kể từ đó đến nay, nhất là từ Cuộc họp quốc tế về “Hành động cùng nhau vì tương lai của hành tinh xanh” vào năm 2002, với sự hỗ trợ của Diễn đàn toàn cầu Đại dương, Vùng bờ và hải đảo (GFOCI), Mạng lưới Đại dương thế giới (WON), Đề án đại dương, Viện Đại dương quốc tế (IOI),… hằng năm đã có hàng trăm tổ chức của trên 50 quốc gia tổ chức trọng thể Ngày này. Với các hoạt động phong phú, như: tuần hành vì đại dương; con đường xanh kết nối con người, thủy sản và thị trường bền vững; tọa đàm đại dương hòa bình; thi nghệ thuật và văn hóa biển, v.v. Ngày Đại dương thế giới đã tạo sự cổ vũ mạnh mẽ về ý thức bảo vệ môi trường biển trên toàn cầu. Chính vì thế, từ năm 2009, Liên hợp quốc chính thức thông qua chủ trương: kỷ niệm Ngày Đại dương thế giới (ngày 08 tháng 6) ở tất cả các nước thành viên.

Là quốc gia có vùng biển rộng, bờ biển dài, những năm qua, Việt Nam luôn tích cực hưởng ứng và tham gia có trách nhiệm trong việc giữ gìn màu xanh của biển. Trong các hoạt động liên quan đến Ngày Đại dương thế giới, Việt Nam là một trong những nước tham gia từ rất sớm, với nhiều hoạt động cả ở trong nước và quốc tế. Năm 1998, nhân Năm quốc tế về đại dương được tổ chức tại Lisbon (Bồ Đào Nha), Việt Nam đã tham gia và thảo luận sâu vào các chuyên đề của Hội nghị, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Tiếp đó, tại Hội nghị đại dương thế giới (năm 2009) ở In-đô-nê-xi-a, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường nước ta đã thay mặt Chính phủ Việt Nam tham gia thảo luận và thông qua “Tuyên bố đại dương Manado”. Đặc biệt, tại Nghị định số 25/2009/NĐ-CP, ngày 06-3-2009 của Chính phủ về quản lý, tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo đã quy định tổ chức Tuần lễ Biển và Hải đảo Việt Nam hằng năm để hưởng ứng Ngày Đại dương thế giới, gắn với yêu cầu quản lý, tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo, với nhiều hoạt động thiết thực, cụ thể. Những hoạt động đó không chỉ có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao nhận thức, xây dựng động cơ, trách nhiệm cho cộng đồng về bảo vệ môi trường biển, đảo vì tương lai của chính loài người, mà còn là cơ hội để giới thiệu về tiềm năng tài nguyên biển và phát triển kinh tế biển, góp phần đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển. Đồng thời, đây cũng là thông điệp khẳng định với thế giới, Việt Nam là quốc gia biển, có trách nhiệm cùng cộng đồng quốc tế trong việc nỗ lực giải quyết những vấn đề về biển, hải đảo và góp phần chung tay bảo vệ đại dương xanh, hành tinh xanh của nhân loại.

Nguyễn Văn Sử thực hiện

Tạp chí Quốc phòng toàn dân

Khu bảo tồn biển Việt Nam

Theo các tổ chức nghiên cứu quốc tế, khu bảo tồn biển là vùng biển mà trong đó hàm chứa các loài động vật, thực vật có giá trị và tầm quan trọng cấp quốc gia hoặc quốc tế về khoa học, giáo dục, du lịch, giải trí, được quản lý, bảo vệ theo quy chế của khu bảo tồn. Đây là khu vực biển không chỉ góp phần đảm bảo cân bằng sinh thái biển, đa dạng sinh học, điều hòa môi trường,… mà còn có ý nghĩa to lớn đối với phát triển kinh tế biển lâu dài, gắn với nghiên cứu khoa học và du lịch sinh thái. Đồng thời, đó còn là cơ sở, công cụ hành chính và pháp luật trong đấu tranh bảo vệ an ninh, chủ quyền quốc gia trong phạm vi đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển. Nhận thức rõ điều đó, nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các quốc gia có biển hết sức coi trọng phát hiện, phát triển các khu bảo tồn này.

Đối với nước ta, cùng với phát triển các khu bảo tồn thiên nhiên nói chung, khu bảo tồn biển được Đảng, Nhà nước hết sức quan tâm và coi đó là nhân tố quan trọng trong tăng trưởng của sinh vật và đa dạng sinh học biển, phục vụ phát triển kinh tế và đời sống con người. Theo số liệu thống kê, hiện tại Việt Nam có gần 120 khu bảo tồn biển, chiếm gần 6% lãnh thổ tự nhiên và được phân bổ khắp ba miền: Bắc, Trung Nam; trong đó, có khoảng 7% diện tích này được xác lập từ những năm đầu quá trình đổi mới đất nước. Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu, phát huy các khu bảo tồn biển đã đạt nhiều kết quả tích cực. Nhiều vùng biển đã được hoạch định thành các vùng bảo vệ nguồn lợi hải sản, như: Mỹ Miều (Quảng Ninh), Nha Phu (Khánh Hòa), Mũi Né (Bình Thuận), bãi bồi Ngọc Hiển (Cà Mau), v.v. Trong đó, 9 khu vực bảo tồn biển đã được xếp hạng ưu tiên trong hệ thống bảo tồn biển và ven bờ thuộc khuôn khổ dự án ADB: 5712-REG. Theo tính toán của các nhà khoa học, các khu bảo tồn biển có thể làm mật độ sinh vật biển tăng gấp đôi, sinh khối tăng 3 lần và kích thước của sinh vật và đa dạng sinh học tăng lên 20% – 30% so với vùng không nằm trong khu bảo tồn. Đây là nguồn tiềm năng biển vô cùng lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước nếu chúng ta biết quy hoạch, khai thác, phát triển các khu bảo tồn biển một cách khoa học.

Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, việc bảo tồn các khu vực biển có nơi vẫn chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức; nhiều khu bảo tồn mới chỉ quan tâm đến bảo vệ rừng trên các đảo mà chưa chú trọng đến bảo vệ tài nguyên và môi trường biển; thậm chí một số vùng biển còn bị xâm hại đến mức báo động, v.v. Trước thực trạng đó, năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 742/QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020 với nhiều mục tiêu và giải pháp quan trọng, thiết thực. Để hiện thực hóa nhiệm vụ nêu trên, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã xây dựng, ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật để phục vụ cho việc thành lập các khu bảo tồn biển. Cùng với hoàn thiện cơ sở pháp lý, việc nâng cao nhận thức; công tác nghiên cứu khoa học biển; thực hiện các phương án quản lý,… và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo tồn biển cũng được đẩy mạnh, bước đầu đạt kết quả tốt.

Đây là sự thể hiện nỗ lực rất cao của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị để giữ vững “màu xanh của biển”, nhằm phục vụ phát triển đất nước nhanh, bền vững, góp phần thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệTổ quốc.

Nguyễn Văn Sử thực hiện

Tạp chí Quốc phòng toàn dân

Rừng ngập mặn ở Việt Nam

Rừng ngập mặn là loại rừng cây mọc ở cửa sông lớn ven biển, nơi nước mặn hòa với nước ngọt. Khi thủy triều lên, rừng sẽ bị ngập một phần, có khi toàn bộ trong nước biển; khi nước triều xuống, rừng lại hiện ra nguyên vẹn. Đây là khu vực có giá trị cả về kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, môi trường sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học.

Theo đánh giá của các nhà khoa học, rừng ngập mặn ở nước ta nhiều về số lượng, đa dạng về chủng loại và được phân bố từ Bắc đến Nam, theo 4 khu vực và 12 tiểu khu1; trong đó, rừng quốc gia U Minh là rừng ngập mặn lớn nhất Việt Nam, với diện tích lên đến 8.053ha. Thực vật ở rừng ngập mặn chủ yếu là các loại cây có bộ rễ nơm, như: đước, sú, vẹt, tràm, mắm, cùng các loài cỏ, cây bụi,… làm “bức tường” chắn sóng, giữ đất, tạo điều kiện cho trầm tích bồi tụ nhanh hơn. Đây cũng là nơi cư trú của các loài chim; vườn ươm cho các loài cá, với hơn 80% các loại hải sản dành một phần đời để trú ngụ, bởi đó là mái nhà bảo vệ chúng trước những hiểm nguy trong lòng đại dương. Đồng thời, rừng ngập mặn còn có tác dụng như “bộ lọc” hấp thu các chất độc hại trong nước, điều hòa khí hậu trong vùng, bảo vệ cuộc sống con người, v.v.

Xuất phát từ vị trí, vai trò của rừng ngập mặn, sau khi đất nước thống nhất, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách về bảo vệ, phát triển các khu rừng này. Nhờ đó, nhiều khu vực rừng ngập mặn được phục hồi, mở rộng; trong đó, rừng U Minh, rừng ngập mặn Cần Giờ đã trở thành điểm du lịch hấp dẫn du khách; là liều thuốc hồi sinh cho các vùng đất hoang hóa một thời do chất độc hóa học của chiến tranh. Tuy nhiên, với nhiều nguyên do khác nhau, việc bảo vệ, giữ gìn các khu rừng ngập mặn ở một số khu vực, địa phương chưa được chú trọng, thậm chí còn bị tàn phá nghiêm trọng. Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trên là do quá trình khai thác, phát triển kinh tế không gắn với bảo tồn; trong đó, chủ yếu là chuyển rừng ngập mặn sang nuôi, trồng hải sản và làm nông nghiệp, v.v. Đây là những hoạt động mà trước mắt có thể đem lại lợi ích về kinh tế, nhưng hậu quả thì khôn lường. Bởi lẽ, mất rừng ngập mặn sẽ đẩy mạnh sự xâm nhập nước biển vào đất liền, thúc đẩy quá trình xói lở, mặn hóa, gây ô nhiễm đất và nguồn nước, thậm chí lượng mưa giảm hẳn, không khí nóng hơn do lượng khí CO2 tăng,… ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống của người dân trong khu vực và sự phát triển bền vững.

Vườn Quốc gia Côn Đảo

Trước tình hình đó, Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã có nhiều chủ trương, biện pháp bảo tồn và phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn tại nhiều khu vực, địa bàn trong cả nước. Theo đó, các cấp, ngành, địa phương bước đầu tập trung xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế trong khu vực rừng, kết hợp phát triển kinh tế với bảo vệ rừng; nghiên cứu, phát triển các ngành nghề nuôi, trồng thủy sản ở các vùng biển khác để nhường diện tích cho rừng ngập mặn; chú trọng triển khai nhiều dự án trồng rừng theo hướng: tập trung vào những khu vực trọng điểm trước, phát triển mở rộng sau. Đồng thời, các cấp cần làm tốt công tác giáo dục, tuyên truyền cho cán bộ, đảng viên và nhân dân về vai trò của hệ sinh thái rừng ngập mặn trong quá trình phát triển kinh tế và bảo tồn tự nhiên, nhằm giảm thiểu tác động của tình trạng biến đổi khí hậu khiến nước biển dâng, v.v. Đây là cơ sở quan trọng, tạo tiền đề cho việc giữ gìn, bảo quản, khai thác rừng ngập mặn một cách bền vững để góp phần phát triển đất nước.

1 – Gồm 4 khu vực: ven biển Đông Bắc; ven biển đồng bằng Bắc Bộ; ven biển Trung Bộ và ven biển Nam Bộ.

Tạp chí Quốc phòng toàn dân.

Vườn quốc gia ven biển và hải đảo Việt Nam

Vườn quốc gia ven biển và hải đảo tại Việt Nam là khu vực bao gồm cả phần đất liền hoặc vùng đất ngập nước ven biển, hải đảo và phải có diện tích đủ lớn, được Chính phủ ra quyết định công nhận.

Đây là khu vực được xác lập nhằm bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp; phục vụ việc bảo tồn rừng và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái. Trong đó, đáng chú ý là bảo tồn nguồn gen động, thực vật quý hiếm và các sinh cảnh rừng tự nhiên độc đáo; duy trì, phát triển độ che phủ của thảm thực vật rừng; đảm bảo chức năng phòng hộ để phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh cho hoạt động phòng thủ đất nước từ hướng biển, v.v.

Hiện nay, nước ta có 32 vườn quốc gia đã được Chính phủ công nhận, với tổng diện tích khoảng 10.455,74km2; trong đó, có 08 vườn nằm ở ven biển và hải đảo. Đó là: Bái Tử Long, Cát Bà, Núi Chúa, Mũi Cà Mau, U Minh Hạ, U Minh Thượng, Phú Quốc và Côn Đảo, với 620,10km² là mặt biển, chiếm khoảng 3% diện tích lãnh thổ đất liền. Hệ thống vườn quốc gia ven biển và hải đảo này đã, đang và sẽ là những khu vực rất có giá trị về môi trường sinh thái và phát triển kinh tế – xã hội bền vững đối với từng khu vực, địa bàn và cả nước.

Thực tế nhiều năm qua, vườn quốc gia ven biển và hải đảo cùng với các vườn quốc gia khác ở nước ta đã mở ra hướng phát triển kinh tế – xã hội, giải quyết việc làm cho nhiều người dân trong khu vực, đóng góp một phần quan trọng vào xây dựng và phát triển đất nước. Đặc biệt, các địa phương đã tận dụng mọi tiềm năng, thế mạnh từ các khu rừng đó để tiến hành khai thác về du lịch sinh thái. Chỉ tính riêng năm 2017, các khu bảo tồn thiên nhiên (trong đó có vườn quốc gia ven biển, đảo) nước ta đã có hơn 02 triệu lượt khách đến du lịch, tăng 178% so với năm 2016; tổng doanh thu từ hoạt động này ước đạt hơn 114 tỷ đồng. Tuy nhiên, các hoạt động đó cũng đã gây ra những tác động tiêu cực đến công tác bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường, cảnh quan sinh thái, v.v.

Để khắc phục tình trạng này, những năm gần đây, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp lý để quản lý, duy trì hoạt động của các khu vực bảo tồn sinh thái, trong đó có các vườn quốc gia ven biển, hải đảo. Trên cơ sở đó, các cấp, ngành, địa phương triển khai nhiều giải pháp đồng bộ, phù hợp nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ quan trọng này; trong đó, vấn đề phát triển du lịch gắn với bảo tồn đa dạng sinh học được quan tâm và bước đầu thực hiện có hiệu quả. Cùng với đẩy mạnh nghiên cứu, từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách, đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ làm du lịch sinh thái, các cấp, ngành, địa phương đã coi trọng đầu tư, phát triển hệ thống vườn quốc gia ven biển và hải đảo; tăng cường sự tham gia và hưởng lợi của cộng đồng địa phương trong lĩnh vực này, nhất là từ sự phát triển sản phẩm du lịch sinh thái. Đồng thời, tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao ý thức và trách nhiệm của người dân, làm cho họ nhận thức rõ rằng, chính sự can thiệp thô bạo, ý thức kém của con người không những hủy hoại môi trường, ảnh hưởng đến việc giữ gìn hệ sinh thái, mà còn làm mất đi nguồn thu một cách bền vững từ hoạt động du lịch sinh thái biển. Đây là sự nỗ lực đáng ghi nhận của Đảng, Nhà nước và toàn dân, góp phần giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị bền vững của các vườn quốc gia nói chung, vườn quốc gia ven biển và hải đảo nói riêng, xứng đáng với vị thế của một trong những quốc gia hàng đầu về đa dạng sinh học trên thế giới.

Tạp chí Quốc phòng toàn dân

Những bãi biển du lịch nổi tiếng Việt Nam

Do bờ biển khúc khuỷu, nhiều cung bờ xen kẽ các mũi nhô đá gốc, nên từ Bắc vào Nam, nước ta có rất nhiều những bãi cát biển (bãi biển) tuyệt đẹp, nổi tiếng và đã trở nên quen thuộc với du khách trong và ngoài nước.

Trong số khoảng hơn 100 bãi biển ở nước ta có khoảng 26 bãi biển đẹp (dài, rộng, thoải, cát trắng mịn, nước biển trong sạch, nằm ở nơi cảnh quan xung quanh đẹp, không có cá dữ và sinh vật gây hại,…).

Một số bãi biển đẹp ở các tỉnh, thành phố ven biển có thể kể là: Trà Cổ (Quảng Ninh), Quan Lạn (Quảng Ninh), Thanh Lân (Quảng Ninh); Cát Cò (Hải Phòng), Đồ Sơn (Hải Phòng), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Cửa Hội (Nghệ An), Thiên Cầm (Hà Tĩnh), Đá Nhảy (Quảng Bình), Cửa Tùng (Quảng Trị), Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế), Mỹ Khê (Đà Nẵng), Quy Nhơn (Bình Định), Nha Trang (Khánh Hòa), Ninh Chữ (Ninh Thuận), Cà Ná (Ninh Thuận), Mũi Né (Bình Thuận), Bãi Trước (Vũng Tàu), Bãi Sau (Vũng Tàu), Phú Quốc (Kiên Giang),… Bên cạnh đó còn có các bãi biển đẹp, nổi tiếng thu hút du khách thuộc các đảo Cát Bà (Hải Phòng), Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu), Phú Quốc (Kiên Giang)…

Bãi biển là yếu tố rất quan trọng đối với phát triển du lịch biển ở một xứ sở nhiệt đới, đặc biệt là các bãi biển nhỏ nhưng gắn với các hải đảo hoang sơ, các vụng biển tĩnh lặng như ở quần đảo Cát Bà (Hải Phòng). Mỗi bãi biển đều có những nét đẹp và lợi thế riêng, thu hút du khách trong và ngoài nước. Nằm trong vùng nhiệt đới ấm nóng quanh năm, nên vùng ven biển và hải đảo nước ta quanh năm chan hòa ánh nắng mặt trời, cùng với các bãi cát trắng, mịn trải dài ven sóng, biển xanh mênh mông nước ta rất có lợi thế phát triển du lịch “3S” (sun, sea, sand). Vì thế, việc quy hoạch sử dụng hợp lý và quản lý hiệu quả các bãi biển sẽ góp phần duy trì được lợi thế trong phát triển du lịch biển, đảo bền vững.

Theo “100 câu hỏi – đáp về biển, đảo dành cho tuổi trẻ Việt Nam” (Nxb Thông tin và Truyền thông – 2013)

Bảng giá cho thuê xe du lịch vận chuyển khách tham quan tại Côn Đảo

Quý khách đi Côn Đảo theo đoàn hoặc một nhóm khách vui lòng tham khảo bảng giá cho thuê xe du lịch vận chuyển khách tham quan tại Côn Đảo cụ thể như sau:

TT ĐIỂM THAM QUAN ĐVT ĐƠN GIÁ
XE 16  XE 7  XE 34 XE 29 XE 45
1 Đón, tiễn sân bay, Bến Tàu Chuyến 400.000 250.000 900.000 800.000 1.500.000
2 Tham quan di tích (7 Điểm) 01 buổi 400.000 350.000 900.000 800.000 1.500.000
3 Tham quan cảng Bến Đầm Chuyến 400.000 350.000 900.000 800.000 1.500.000
4 Tham quan miếu Cậu, bãi Đầm Trầu Chuyến 400.000 350.000 900.000 800.000 1.500.000
5 Đưa khách đi chợ Chuyến 150.000 100.000 300.000 250.000 400.000
6 Đưa khách đi ăn cơm Chuyến Free Free Free Free Free
7 Viếng nghĩa trang đêm Chuyến 250.000 200.000 500.000 400.000 800.000
8 Bao Xe nguyên ngày 1.500.000 1.200.000 3.500.000 3.000.000 3.500.000
9 Tham quan DT 02 buổi (Sáng + Chiều) 2 chuyến 700.000 500.000 1.500.000 1.300.000 2.000.000
10 Tour Tham quan 02 ngày 01 đêm TOUR 1.850.000 1.600.000 4.100.000 3.600.000 6.800.000
11 Tour Tham quan 03 ngày 02 đêm TOUR 2.200.000 1.800.000 5.000.000 4.400.000 7.500.000

Giá trên đã bao gồm 10% thuế VAT

Đội ngũ lái xe giàu kinh nghiệm, hướng dẫn địa phương tận tình chu đáo và phục vụ ân cần. Quý khách sẽ hài lòng trong cả chuyến đi, rất mong được hợp tác với Quý công ty, mọi chi tiết vui lòng liên hệ: 0938 948 549 – 0889211234 – 0889 271234

Email: booking@taucaotoc.vn

Địa chỉ: Khu dân cư số 5, Đường Nguyễn Huệ, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Một số hình ảnh xe tại Côn Đảo

Cho thuê xe khách đoàn lữ hành tại Côn Đảo
Cho thuê xe tự lái tại Côn Đảo
Cho thuê xe du lịch tại Côn Đảo
Xe Duy Khải Côn Đảo