Nghề truyền thống chế biến nước mắm tại xã Lại Sơn

Nguyên liệu chính để sản xuất ra nước mắm Hòn của xã Lại Sơn thơm ngon nổi tiếng chính là cá cơm than được ủ theo công thức truyền thống, hoàn toàn nguyên chất, không thêm bất kì một phụ gia nào khác. Hiện nay, nghề chế biến nước mắm tại xã Lại Sơn đã được công nhận là nghề truyền thống của tỉnh Kiên Giang. Du khách có thể đến các nhà thùng tập trung tại Bãi Nhà, xã đảo Lại Sơn để tham quan, trải nghiệm và có thể mua được nước mắm chất lượng tốt nhất.

Đầu thế kỷ XX, Hòn Sơn là nơi sản xuất nước mắm có tiếng thơm ngon, hương vị đậm đà mang tên gọi chung nước mắm Hòn. Sử dụng hằng ngày, người dân “Nam kỳ lục tỉnh”, Sài Gòn thuở xưa và những vùng lân cận thường chọn nhãn hiệu nước mắm Hòn. Thương hồ vận chuyển nước mắm Hòn Sơn vượt biển sang Campuchia và một số nước trong khu vực để bán, trao đổi hàng hóa. Điều đó cho thấy, làng nghề nước mắm truyền thống Hòn Sơn đã khẳng định giá trị, thương hiệu trên thị trường trong và ngoài nước hơn một thế kỷ qua.

Nhiều bậc cao niên ở xã Lại Sơn nói rằng, thiên nhiên đã ban tặng cho vùng biển Kiên Giang nguồn cá cơm, đặc biệt là loài cá cơm than, làm nguyên liệu sản xuất nước mắm Hòn Sơn và nước mắm Phú Quốc nổi tiếng đến bây giờ.

Bí quyết làm nước mắm hồi xưa bằng cách ướp cá cơm theo tỷ lệ “3 cá – 1 muối” nén chặt vào lu, hũ, khạp rồi đậy nắp lại để ngoài trời mưa, nắng tự nhiên. Khi cá rã thịt, mở nắp ra tiếp tục phơi nắng, khuấy đều hằng ngày, sau đó đem nấu, lọc lấy nước mắm.

Cơ sở nước mắm Phương Khanh của ông Triệu Văn Ẩn ở ấp Bãi Nhà là 1 trong 3 cơ sở nước mắm còn duy trì sản xuất tại xã Lại Sơn hiện nay. Khác với những nhà thùng ở Phú Quốc ủ chượp cá cơm trong thùng gỗ bời lời làm ra nước mắm, cơ sở Phương Khanh xây bồn xi măng để ủ chượp nguyên liệu. Hòn Sơn ủ chượp nước mắm trong thùng gỗ làm bằng cây bời lời, nhưng do loài cây này khan hiếm, những người thợ chuyên đóng ghép thùng nước mắm ở địa phương không còn, nghề này mất hẳn đi nên buộc lòng phải xây bồn xi măng thay thế để giữ nghề truyền thống.

Khạp chứa nước mằm Hòn Sơn

Nước mắm truyền thống Hòn Sơn mặn mòi nhưng đậm đà, có hậu ngòn ngọt, hương vị thơm ngon, màu vàng cánh gián, sóng sánh rất bắt mắt do sản xuất theo truyền thống; không thêm gia vị, hay bất kỳ một chất xúc tác nào ngoài cá cơm và muối theo công thức truyền thống “3 cá – 1 muối”; với thời gian ủ chượp 15 – 18 tháng cho ra nước mắm cốt đầu tiên. Độ đạm cao nhất trong sản xuất nước mắm truyền thống chỉ ở mức 42 – 43 º đạm, cơ sở nào làm trúng nhất đạt 45 º đạm nhưng ít khi có được.

Cuốn hút vẻ đẹp Bãi Ngự ở đảo Nam Du

Bãi Ngự nằm ở phía Tây của Hòn Củ Tron. Tương truyền rằng trên đường sang Xiêm, vua Gia Long đã lưu lại nơi này một thời gian và cho đào một cái giếng để lấy nước ngọt cung cấp cho quân lính và người dân trong vùng. Chính vì vậy mà nơi đây có tên là Bãi Ngự và giếng nước ngọt kia được gọi là Giếng Vua. Ngày nay, giếng nước này chính là nguồn sinh hoạt của người dân trong vùng.

Đỉnh Yên Ngựa – điểm check in lý tưởng ở Hòn Sơn

Đỉnh Yên Ngựa là điểm cao nhất của tuyến đường xuyên đảo Lại Sơn. Cung đường lên đỉnh Yên Ngựa gây ấn tượng mạnh với du khách bởi rất quanh co, khúc khuỷu và phải băng qua những triền núi xanh biếc trập trùng. Điều thú vị là du khách có thể đứng trên đỉnh núi để phóng tẩm mắt bao quát và chiêm ngưỡng những bãi biển tuyệt đẹp thấp thoáng sau rặng dừa nghiêng bóng ở phía xa xa.

Bổ sung nhiều tuyến vận tải thủy từ bờ ra đảo

Bộ GTVT yêu cầu Cục Hàng hải VN nghiên cứu bổ sung các tuyến vận tải thủy từ bờ ra đảo theo đề xuất của địa phương.

Bộ GTVT cho biết, thời gian qua nhận được đề xuất của một số địa phương mở các tuyến vận tải từ bờ ra đảo trong vùng biển Việt Nam như: tuyến vận tải thủy từ Cửa Tùng ra huyện đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị), tuyến vận tải thủy hành khách TP Hồ Chí Minh – Côn Đảo, tuyến Đà Nẵng đi các đảo thuộc khu vực miền Trung.

“Trên cơ sở đó, Cục Hàng hải VN rà soát, nghiên cứu xem xét đề xuất bổ sung các tuyến vận tải thủy nêu trên vào Thông tư số 16/2013 quy định về quản lý tuyến vận tải thủy từ bờ ra đảo trong vùng biển Việt Nam”, Bộ GTVT chỉ đạo.

Liên quan đến đề xuất mở tuyến vận tải từ Đà Nẵng ra các đảo khu vực miền Trung, trước đó, Cảng vụ hàng hải Đà Nẵng có văn bản đề xuất UBND TP Đà Nẵng kiến nghị Bộ GTVT bổ sung tuyến vận tải hành khách bằng tàu cao tốc từ Đà Nẵng đến các đảo Cù Lao Chàm, Lý Sơn và một số đảo khác.

Nội dung đề xuất nêu rõ, hiện Đà Nẵng không chỉ có vị trí trọng yếu về KT-XH, an ninh quốc phòng của khu vực miền Trung – Tây Nguyên mà còn là điểm đến hấp dẫn được du khách trong và ngoài nước.

Nghị quyết số 43 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển TP Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Quyết định số 393/2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH TP Đà Nẵng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 cũng đã định hướng phát triển TP Đà Nẵng trở thành là trung tâm về công nghiệp, du lịch, thành phố cảng biển, đô thị biển quốc tế.

Để hiện thực hóa mục tiêu trên, việc phát triển các tuyến vận tải thủy từ Đà Nẵng ra các đảo khu vực miền Trung là cần thiết.

“Tuy nhiên, căn cứ quy định lại Thông tư số 36/2019 của Bộ trưởng Bộ GTVT về sửa đổi các thông tư của Bộ trưởng Bộ GTVT quy định về quan lý tuyến vận tải thủy từ bờ ra đảo trong vùng biển Việt Nam, CVHH Đà Nẵng mới được giao quản lý tuyến bờ đảo Đà Nẵng – Hoàng Sa.

Để sớm có cơ sở triển khai mở tuyến du lịch bằng tàu khách cao tốc từ Đà Nẵng đến các đảo Lý Sơn, Cù Lao Chàm và các đảo khu vực miền Trung, CVHH Đà Nẵng đề xuất UBND TP Đà Nẵng đề xuất Bộ GTVT sửa đổi thông tư liên quan, bổ sung các tuyến vận tải nêu trên vào phụ lục danh mục các tuyến vận tải thủy từ bờ ra đảo trong vùng biển Việt Nam”, CVHH Đà Nẵng đề xuất.

Thông tư 36/2019 của Bộ GTVT hiện đã công bố 29 tuyến vận tải thủy từ bờ ra đảo, Trong đó,

  • Tỉnh Kiên Giang có các tuyến: Rạch Giá – Thổ Châu, Rạch Giá – Nam Du, Rạch Giá – Phú Quốc, Kiên Lương – Phú Quốc, Hà Tiên – Phú Quốc, Phú Quốc – Thổ Châu, Nam Du – Phú Quốc.
  • Địa phận Cà Mau – Kiên Giang gồm các tuyến: Năm Căn – Phú Quốc, Năm Căn – Nam Du, Năm Căn – Thổ Châu, Sông Đốc – Thổ Châu, Sông Đốc – Phú Quốc, Sông Đốc – Nam Du và Khai Long – Phú Quốc.
  • Tỉnh Cà Mau có các tuyến: Khai Long – Hòn Khoai, Năm Căn – Hòn Khoai, Năm Căn – Hòn Chuối và Văn Thời – Hòn Chuối.
  • Tỉnh Khánh Hòa có các tuyến: Khánh Hòa – Trường Sa, Nha Trang – Hòn Nội.
  • Ngoài ra, một số tuyến vận tải thủy khác được công bố, gồm: Hải Hà – Đảo Trần – Cô Tô (Quảng Ninh), Hải Phòng – Bạch Long Vỹ (TP Hải Phòng), Cửa Việt – Cồn Cỏ (Quảng Trị), Đà Nẵng – Hoàng Sa (Đà Nẵng); Sa Kỳ – Lý Sơn (Quảng Ngãi); Phan Thiết – Phú Quý (Bình Thuận), Vũng Tàu – Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu), Trần Đề – Côn Đảo (Sóc Trăng); Cần Thơ – Côn Đảo (địa phận TP Cần Thơ – Bà Rịa Vũng Tàu).

https://www.baogiaothong.vn

Phương tiện di chuyển tại huyện đảo Kiên Hải, Kiên Giang

Từ Rạch Giá, du khách có thể mua vé của các hãng tàu cao tốc hoặc tàu thường để di chuyển đến các đảo ở Kiên Hải. Một số hãng tàu cao tốc uy tín thường được du khách lựa chọn: Superdong, Ngọc Thành, Phú Quốc Express, Hòa Bình Ship.

Xuất phát từ Rạch Giá, du khách sẽ có một khoảng thời gian vượt biển bằng các loại tàu để đến được các đảo của Kiên Hải, cụ thể như sau:

  • Đến Hòn Tre: 45 phút/tàu cao tốc, 60 phút/tàu thường
  • Đến Lại Sơn: 90 phút/tàu cao tốc, 120 phút/tàu thường. (Nếu đi từ Hòn Tre đến Lại Sơn là 45 phút/tàu cao tốc, 60 phút/tàu thường)
  • Đến An Sơn: khoảng 2 giờ 30 phút bằng tàu cao tốc
  • Đến Nam Du: khoảng 2 giờ 30 phút bằng tàu cao tốc

Xuất phát từ Cà Mau đi Nam Du – Phú Quốc.

  • Thời gian di chuyển 3 giờ 15 phút. Khởi hành lúc 9 giờ 00, tại cảng tàu Sông Đốc Cà Mau bằng tàu cao tốc Phú Quốc Express.

Di chuyển quanh đảo bằng phương tiện gì?

Hiện nay, một số đảo của Kiên Hải đã được đầu tư làm đường bê tông quanh đảo và đường giao thông nông thôn rất thuận tiện cho việc đi lại. Du khách có thể thuê xe ôm hoặc tự thuê xe máy đi quanh đảo để bắt đẩu hành trình thám hiểm. Ngoài ra, du khách có thể thuê tàu du lịch, cano tham quan các đảo Kiên Hải.

Say sóng ở những người đi biển

Vấn đề say sóng đã được đề cập đến từ rất lâu trong lịch sử, có thể nói rằng ngay từ khi con người biết kết bè mảng để đi lại trên biển, thì chứng bệnh này đã xuất hiện rồi. Và dọc theo nǎm tháng nó vẫn tồn tại bất chấp cả thời gian, bất chấp sự tiến bộ không ngừng của ngành công nghệ đóng tầu và các tiến bộ của y học nói chung và Y học biển nói riêng. Tùy theo các mức độ khác nhau của chứng bệnh say sóng, mà ảnh hưởng đến cơ thể những người bị say sóng ở các mức độ khác nhau.

Thể nhẹ thì gây mệt mỏi, chán ǎn, rối loạn bài tiết dịch tiêu hóa.

Thể nặng thì gây nhức đầu, nôn mửa, có dấu hiệu mất nước…

Thể rất nặng có thể gây mất hoàn toàn khả nǎng lao động, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng.

Tuy chứng bệnh say sóng ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và khả nǎng lao động, nhưng cho đến nay người ta vẫn chưa tìm được phương pháp điều trị hữu hiệu nào và quan trọng là vẫn chưa một quốc gia hay một tổ chức Quốc tế nào công nhận là bệnh nghề nghiệp của lao động biển bởi trên thực tế, nó chỉ xuất hiện khi người ta đi biển mà thôi, còn khi đã lên bờ thậm chí ngay cả khi mới vào đến luồng thì mọi triệu chứng say sóng đã gần như đã biến mất.

Vì sao người đi biển thường bị say sóng?

Người ta cho rằng cơ chế say sóng là do tác động của sóng biển gây ra những rối loạn chức nǎng tiền đình, qua đó làm rối loạn chức nǎng của hệ thần kinh thực vật và kéo theo nó là hàng loạt các rối loạn các chức nǎng khác của cơ thể. Ngoài ra còn phải kể đến yếu tố tâm lý kém, đặc biệt đối với những người thuộc nhóm thần kinh, tâm lý không vững vàng. Thực tế qua nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy nhóm đối tượng có xu hướng cường hệ thần kinh phó giao cảm thường hay mắc chứng bệnh này.

Say sóng ảnh hưởng như thế nào đến các chức nǎng của cơ thể?

Có thể nói, say sóng đã gây ảnh hưởng đến hầu hết các chức nǎng của cơ thể, qua đó ảnh hưởng đến toàn bộ hoạtđộng và khả nǎng lao động của những người lao động trên biển.

Trước hết phải kể đến tác động của say sóng đến chức nǎng hệ thần kinh thực vật và cơ quan nhận cảm đầu tiên đó là của cơ quan tiền đình – ốc tai gây ra rối loạn nhận cảm của cơ quan này, dẫn đến rối loạn đáp ứng của hệ thần kinh thực vật. Tất cả các dấu hiệu lâm sàng của say sóng ở tất cả các đối tượng đều có chung một biểu hiện là cường hệ thần kinh phó giao cảm, biểu hiện ở các mức độ khác nhau tùy theo từng cá thể. ở nức độ nhẹ, đối tượng chỉ có cảm giác hơi chóng mặt, tǎng bài tiết dịch và buồn nôn. Mạch bắt đầu giảm nhưng còn trong giới hạn bình thường. Nhưng ở mức độ nặng thì đối tượng chóng mặt nhiều, bài tiết dịch tiêu hóa tǎng mạnh, nôn nhiều. Kèm theo mạch, nhịp tim và huyết áp giảm…

*Tiếp đến là các biểu hiện rối loạn chức nǎng của hệ thần kinh động vật: ở những người bị say sóng, việc điều hòa các phản xạ, vận động, phản xạ tư thế và chỉnh thế bị rối loạn làm cho đối tượng không còn kiểm soát được các vận động của bản thân, các động tác bị thiếu chính xác, sai lầm, sai hướng giống như khi bị tổn thương tiểu não. Do đó, khi bị say sóng, đối tượng đi lại rất khó khǎn, các động tác lao động kém chính xác, thậm chí nếu say sóng nặng phải nằm yên một chỗ, không di chuyển được và phải phục vụ tại chỗ.

* Đối với chức nǎng vỏ não: khi bị say sóng, các thông tin truyền về vỏ não bị rối loạn cho nên việc kiểm soát các vận động của cơ thể cũng bị ảnh hưởng theo, các mệnh lệnh của vỏ não nhiều khi không được các cơ quan chức nǎng đáp ứng.

Say sóng ảnh hưởng đến trí nhớ: khi bị say sóng nặng, trí nhớ cũng bị rối loạn, các quyết định hành động nhiều khi thiếu chính xác, hay nhầm lẫn, điều này thực sự rất nguy hiểm đối với những người nắm giữ các công việc quan trọng trên tàu.

Mặt khác, khi đó tâm lý cũng bị rối loạn, đối tượng lo sợ, hoảng hốt làm cho chứng bệnh càng trở nên trầm trọng hơn, thậm chí tuyệt vọng và giảm cả ý chí sống.

Đối với hệ tuần hoàn: do cường hệ thần kinh phó giao cảm nên hệ tuần hoàn cũng bị ảnh hưởng từ rất sớm, nhẹ như: tần số tim giảm nhẹ, mạch chậm, huyết áp giảm nhẹ… đến nặng như: tụt huyết áp mạnh vì nôn nhiều) gây nên tình trạng sốc.

Đối với hệ hô hấp: say sóng nhẹ chỉ gây nên rối loạn nhịp thở nhưng nặng gây thở nhanh, nông. Mặt khác khi nôn nhiều, cơ bụng co cũng gây tình trạng khó thở.

Đối với hệ tiêu hóa: từ nhẹ đến nặng gây ra các tình trạng như buồn nôn, tǎng bài tiết dịch tiêu hóa, tǎng co bóp cơ trơn hệ tiêu hóa, đặc biệt gây phản xạ trào ngược làm cho tình trạng nôn dữ dội hơn.

Đối với hệ bài tiết: hậu quả của quá trình trên gây tình trạng mất nước, điện giải, giảm thể tích tuần hoàn dẫn đến giảm quá trình lọc của cầu thận. Quá trình bài tiết mồ hôi cũng bị rối loạn: da lạnh nhưng vã mồ hôi…

Đối với chức nǎng vận động: nếu say sóng nhẹ chỉ hạn chế vận động nhưng nặng hơn, đối tượng vận động sẽ rất khó khǎn, động tác kém chính xác và cuối cùng phải nằm một chỗ thậm chí mất hoàn toàn khả nǎng lao động và phải nhờ sự trợ giúp từ người khác.

Liệu có điều trị được chứng bệnh say sóng?

Bệnh khó có thể điều trị được một cách triệt để cho mọi đối tượng, bởi vì nó còn phụ thuộc rất nhiều vào khả nǎng tự vượt lên chính mình của các đối tượng này, như khả nǎng tự rèn luyện, ý chí, tâm lý… Người ta cũng đã đặt ra các phương pháp điều trị y học cổ truyền như châm cứu, day bấm huyệt… nhưng cũng chỉ là giải pháp tạm thời và chủ yếu để an thần kinh cho bệnh nhân.

Sự khác biệt giữa các nhóm này được biểu hiện qua một số thông số sinh học. Do đó, về cơ bản có thể dùng biện pháp khám tuyển để chọn ra những người thuộc nhóm thứ nhất và thứ ba.

Để hạn chế say sóng cho người đi biển

Trong bất cứ một quần thể nào cũng có khoảng 20% đến 25% số cá thể có khả nǎng chịu sóng bẩm sinh (nghĩa là họ được miễn dịch với sóng), cũng có một số lượng quần thể tương đương như thế không bao giờ có thể quen được với sóng (họ bị say sóng bẩm sinh), số còn lại khoảng 50% đến 60% có khả nǎng chịu sóng kém hơn nhóm thứ nhất, nhưng khi được rèn luyện thì khả nǎng chịu sóng sẽ tǎng dần lên.

Do vậy, tốt nhất những người đi biển, hoặc tham gia vào đội quân lao động biển cần được khám tuyển chọn khả nǎng chịu sóng. Chỉ những người được “miễn dịch với sóng” mới nên làm nghề này, hoặc phải được qua rèn luyện để tránh mắc chứng bệnh say sóng khi làm việc trên biển.

(Nguồn tin: Báo sức khoẻ và đời sống chuyên đề số 70 19/2001)