06 mặt hàng đặc sản tại Côn Đảo

Quay-hai-san-tai-Con-Dao

Theo UBND huyện, trên địa bàn hiện có 6 mặt hàng đặc sản tại Côn Đảo được nuôi trồng, đánh bắt, sản xuất tại địa phương gồm: ngọc trai, yến sào (sản lượng 60kg/năm), đông trùng hạ thảo (sản lượng 720kg tươi/năm), mứt hạt bàng (15 tấn/năm), cá thu một nắng (100 tấn/năm) và mực một nắng (100 tấn/năm). Trong đó, từ năm 2018, sản phẩm cá thu một nắng và mực một nắng đã được Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ KH-CN) cấp nhãn hiệu chứng nhận, có logo nhận diện gắn trên bao bì sản phẩm.

Hiện nay, tất cả các mặt hàng trên đều bày bán tại chợ, cửa hàng lưu niệm trên địa bàn phục vụ nhu cầu mua sắm đặc sản làm quà của du khách. Tuy nhiên, hai mặt hàng yến sào và đông trùng hạ thảo sản lượng ít, chỉ đủ cung ứng một phần nhỏ cho thị trường nội địa.

Ngọc trai Côn Đảo

Nơi mà người ta cho rằng là “địa ngục trần gian” này lại là nơi có vị trí thuận lợi cho nghề nuôi trai lấy ngọc, Chất lượng ngọc nuôi trên vùng biển Côn Ðảo được đánh giá cao so với những vùng biển khác ở Việt Nam cả về độ bóng lẫn ánh xà cừ, không thua kém ngọc của các nước vốn nổi tiếng với nghề nuôi trai lấy ngọc trên thế giới.

Ngọc Trai Côn Đảo – được thành lập năm 2010, tọa lạc tại đường đi Bến Đầm, thị trấn Côn Đảo, Bà Rịa – Vũng Tàu. Là công ty con của Công Ty Ngọc Trai Ngọc Hiền – Phú Quốc.

Nơi đây có vị trí địa lý thuận lợi cho nghề nuôi trai lấy ngọc, Chất lượng ngọc nuôi trên vùng biển Côn Ðảo được đánh giá cao so với những vùng biển khác ở Việt Nam cả về độ bóng lẫn ánh xà cừ, không thua kém ngọc của các nước vốn nổi tiếng với nghề nuôi trai lấy ngọc trên thế giới. Đặc biệt là giống trai Tahiti (trai đen) và giống trai vàng quý hiếm.

Các sản phẩm được trưng bày và bán tại Ngọc trai Côn Đảo

75% tổng số ngọc trai do Ngọc Hiền – Côn Đảo sản xuất được xuất khẩu ra thế giới, kế cả những quốc gia hàng đầu về ngọc trai như Nhật Bản, Hàn Quốc…Việc Ngọc Trai Côn Ðảo nhân giống nhân tạo thành công trai giống không chỉ đáp ứng được nhu cầu sản xuất lâu dài mà còn giúp cân bằng sinh thái môi trường biển.

Đến với Ngọc Trai Côn Đảo – Ngọc Hiền, ngoài việc được tìm hiểu quy trình nuôi cấy và chiêm ngưỡng những viên ngọc trai tuyệt đẹp từ vùng biển Côn Đảo. Bạn còn có thể mua những viên ngọc trai tại đây về làm nữ trang hay làm món quà có giá trị cho người thân.

Những viên Ngọc trai lộng lẫy được nuôi dưỡng với lao động miệt mài , công sức , và cả tình yêu, đang mang lại khoản thu lớn cho người dân Côn Đảo . Nước biển Côn Đảo sạch, với điều kiện thuận lợi để tạo ra những chuỗi ngọc có giá trị hàng trăm triệu đồng.

Yến sào Côn Đảo

Tại Côn Đảo có một loại yến đặc biệt quý và hiếm là Yến Hàng Côn Đảo. Yến Hàng là loài yến quý hiếm cần được bảo tồn theo Nghị định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm. Tại Việt Nam, chim yến Hàng thường cư trú, sinh sống, làm tổ trong các hang động đá vôi, đá granite tự nhiên trên các hòn đảo. Sản phẩm yến sào từ chim yến Hàng có giá trị nhiều mặt về khoa học, dược phẩm và kinh tế. Hiện nay, giá bán yến sào Côn Đảo ở mức 170 triệu đồng/kg.

Trong tổng số 30 nhân tố có trong thành phần tổ yến, thì 18 nhân tố của yến hàng Côn Đảo có hàm lượng dinh dưỡng cao hơn tổ yến ở nơi khác.

Vườn Quốc gia Côn Đảo có diện tích gần 20.000ha, trong đó, diện tích rừng và đất rừng trên 14 hòn đảo thuộc quần đảo Côn Sơn là gần 6.000ha; phần diện tích biển 14.000ha và vùng đệm biển bao quanh các đảo là 20.500ha.

Tổ yến ở đây được khai thác 2 lần/năm, lần thứ nhất vào cuối tháng 4 và lần thứ hai vào cuối tháng 8. Chất lượng yến Côn Đảo được đánh giá tương đối cao và có giá trị tốt về y học. Qua kết quả phân tích và so sánh hàm lượng chất dinh dưỡng của INVIVO labs Việt Nam, trong tổng số 30 nhân tố có trong thành phần tổ yến, thì 18 nhân tố của yến hàng Vườn Quốc gia Côn Đảo có hàm lượng dinh dưỡng cao hơn tổ yến ở nơi khác. Điều này cho thấy quần thể chim yến hàng và tổ yến tại Vườn Quốc gia Côn Đảo rất quý, có giá trị cao về khoa học, sinh học, dược liệu và kinh tế.

Đông trùng hạ thảo Côn Đảo

Đông trùng hạ thảo là một loại nấm ký sinh trên cơ thể côn trùng trên các vùng núi cao từ 3000 – 4000 mét so với mực nước biển. Vào mùa đông, bào tử nấm Cordyceps sinh trưởng và phát triển bằng cách hấp thu chất dinh dưỡng từ côn trùng. Tới mùa hạ khi nhiệt độ ấm lên, nấm sẽ mọc thành quả thể gọi là Đông trùng hạ thảo.

Đông trùng hạ thảo thường chỉ được dùng cho 2 loài đã được chứng minh có các hoạt chất và tác dụng sinh học quý là Cordyceps sinensis và Cordyceps Militaris.

Trong 2 loài trên, Cordyceps sinensis hiện chỉ tìm được trong tự nhiên. Trong khi đó, đối với loài Cordyceps Militaris, bên cạnh một phần dược liệu này đã được nuôi trồng thành công và được chứng minh có hoạt chất và tác dụng sinh học tương đương với Codyceps sinensis.

Đông trùng Hạ Thảo Thu Tâm Côn Đảo

Doanh nghiệp tư nhân Thu Tâm đã nuôi trồng thành công Đông trùng hạ thảo, hiện đang cung cấp ra thị trường với nhiềudạng sản phẩm từ Đông trùng hạ thảo.

Địa chỉ: Đường Huỳnh Thúc Kháng, khu 3, huyện Côn Đảo, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Điện thoại: 0936.250.890; 0913.949.680.

Mứt hạt bàng

Đến với Côn Đảo hôm nay, có rất nhiều con đường, với nhiều cây bàng cổ thụ được gắn bảng “cây di sản”. Cây bàng ở Côn Đảo còn là loại cây cho địa phương một sản phẩm phục vụ du lịch rất đặc biệt – đó là mứt hạt bàng Côn Đảo.

Ở Côn Đảo, du khách có thể bắt gặp hình ảnh cây bàng ở khắp nơi, từ những con đường ven biển, công viên, cơ quan, trụ sở, sân nhà cho đến các di tích lịch sử. Ngày trước, cây bàng cùng tù nhân Côn Đảo vượt qua những năm tháng đấu tranh cách mạng ở chốn “địa ngục trần gian”. Ngày nay, cây bàng lại gắn bó với đời sống của người dân Côn Đảo và chứng kiến biết bao sự thay da đổi thịt của mảnh đất này. Bởi thế, cây bàng cũng được coi là “chứng nhân” trong nhiều giai đoạn lịch sử của Côn Đảo.

Hạt bàng Côn Đảo

Mùa bàng chín rộ vào khoảng tháng 6, 7 hàng năm. Khi trái bàng rụng xuống, người dân Côn Đảo tranh thủ thời gian rảnh rỗi đi nhặt hạt bàng về phơi khô và tách vỏ lấy nhân làm mứt. Mứt nhân trái bàng có màu trắng đục, ăn bùi và ngậy. Ở Côn Đảo nhiều hộ dân làm mứt hạt bàng bán để có thêm thu nhập và tạo ra sản phẩm du lịch đặc trưng, ý nghĩa cho hòn đảo đầy ắp lịch sử này.

Theo các hộ dân làm mứt ở Côn Đảo, hạt bàng hiện chế biến hoàn toàn thủ công, được rang chủ yếu theo 3 loại, vị mặn, ngọt và loại để “mộc’’, tức không thêm gia vị, hoàn toàn vị tự nhiên của hạt bàng. Công đoạn chế biến chỉ là phơi khô, dùng dao chẻ từng trái lấy nhân ra, rồi rang sao cho khéo léo để có những sản phẩm thơm ngon bán cho người dân địa phương và du khách, tuy nhiên cũng rất công phu, phơi khô chừng 4-5 nắng rồi dùng dao đập vỏ tách lấy hạt. Mất vài giờ đồng hồ vừa chẻ vừa tách trái bàng, dùng tăm khều lấy hạt ra cũng chỉ được vài trăm gram hạt. Sau đó đem rang lên cho khéo để có được những hạt bàng mập mạp đều nhau. Đây là lý do vì sao hạt bàng Côn Đảo có giá cao. Ngoài ra, trong quá trình chế biến, có thể cho thêm lá dứa hoặc gừng vào nhằm làm phong phú hương vị và thêm sự lựa chọn cho khách hàng.

Thường thì bàng rang ngọt khó hơn rang muối vì nếu không biết canh lượng đường, canh lửa thì đường sẽ không khô và không bám đều lên khắp hạt bàng. Vị bùi bùi, thơm thơm và lại không quá béo nên hạt bàng dễ ăn, rất ngon và cũng không chán.

Mỗi mẻ rang khoảng vài kg, trong thời gian 1 tiếng, để lửa nhỏ và phải đảo thật đều tay để bàng không bị cháy. Một kg hạt bàng rang tùy thời điểm có giá dao động từ 320.000-400.000 đồng. Giờ đây, để đáp ứng nhu cầu và thuận tiện cho khách, các cửa hàng đóng gói với trọng lượng từ 200gram đến 1kg cho khách mua làm quà. Nơi thì đóng vào bịch ni lông hút chân không, cũng có nơi đóng vào hũ nhựa để khách có nhiều lựa chọn. Chị Nguyễn Thị Thu Hà, du khách đến từ Hà Nội cho biết: “Tôi đến Côn Đảo 3 lần, lần nào cũng mua mứt hạt bàng về làm quà cho người thân và bạn bè ở cơ quan. Ai cũng thích, thậm chí biết tôi đi Côn Đảo, bạn bè nhắn tin mua giùm mứt hạt bàng”.

Mứt hạt bàng đặc sản Côn Đảo

Dạo quanh huyện đảo, mứt bàng có mặt ở hầu hết các sạp hàng bán đồ lưu niệm và đặc sản Côn Đảo. Nhắc đến mứt bàng là người dân đảo và du khách hầu như ai cũng đã từng nghe. Hiện nay, trên mảnh đất Côn Đảo, bên cạnh những cây bàng cổ thụ đã hiện diện hàng trăm năm qua, còn có rất nhiều cây bàng được trồng trên các tuyến đường, công sở, trường học, ven biển… Đây là nguồn nguyên liệu để người dân đảo nhặt về chế biến món mứt bàng.

Côn Đảo mùa này bàng đang xanh lá để mỗi bước chân người trên huyện đảo đều được chở che, mát dịu. Lắng đọng trong tiếng lá bàng xào xạc, câu chuyện của đảo hôm qua, hôm nay, luôn nhắc nhớ, gọi mời. Rồi đến mùa bàng đơm bông, kết trái, bàng lại cho nơi đây món quà đặc biệt – mứt bàng Côn Đảo – món quà đặc sản mang đậm dấu ấn Côn Đảo mà rất nhiều du khách khi đến đây đều mua về làm quà; để rồi dù ở đâu, mỗi khi nhìn thấy chiếc lá bàng xanh lòng lại nhớ Côn Đảo với cảm xúc tự hào và yêu thương.

Cá thu một nắng

Tại Côn Đảo có nhiều loài cá, trong đó cá thu là một trong những món quà vô cùng quý giá mà mẹ biển đã dành cho những người dân nơi đây. Cá thu là nguyên liệu bổ dưỡng, hấp dẫn và trở thành món ăn được nhiều người ưa chuộng.

Sau khi đánh bắt, những con cá thu tươi sẽ được ngư dân rửa với nước muối rồi phơi qua một cái nắng duy nhất trong ngày. Không cho thêm bất kỳ chất bảo quản hoặc gia vị nào để đảm bảo chất lượng của thịt cá. Tuy vậy, cá thu một nắng tại Côn Đảo luôn giữ được vị ngọt tự nhiên, mùi thơm đặc trưng và các chất dinh dưỡng bên trong cá.

Sự đặc biệt không chỉ ở những con cá tươi ngon mà còn nằm ở “cái nắng” Côn Đảo. Từng thớ cá no tròn được phơi dưới cái nắng rực rỡ nơi ven biển giúp cá giữ nguyên được hương vị.

Cá thu một nắng Côn Đảo là một trong những đặc sản mà bạn nên mua khi đến với hòn đảo này

Cá thu một nắng tại Côn Đảo không có mùi tanh của cá tươi, không cứng như cá khô. Đó là nhờ sự kết hợp tuyệt vời của sự tươi ngon của cá tươi với vị mặn đậm đà của cá khô. Tất cả tạo nên sự độc đáo của Côn Đảo mà bạn sẽ không tìm thấy ở bất cứ nơi đâu.

Cá thu một nắng tại Côn Đảo có thể được chế biến thành nhiều món ăn ngon theo các cách khác nhau. Có thể kho, rán, nướng, sốt, kết hợp với các món ăn khác hay ăn kèm với cơm nóng sẽ rất tuyệt vời.

Đặc biệt, sản phẩm này giàu chất dinh dưỡng và có khả năng chữa một số bệnh như viêm khớp, giảm đau nửa đầu, ngăn ngừa các bệnh tim mạch, giảm mỡ trong máu và hạn chế bị một số bệnh ung thư,…. Cá thu một nắng tại Côn Đảo chứa nhiều đạm và có dầu có lợi cho sự phát triển của trí não ở trẻ nhỏ và phục hồi cho những người có sức khỏe yếu.

Khi đi du lịch, bạn không nên bỏ qua món ăn cá thu một nắng để thưởng thức và cảm nhận những dư vị đặc trưng của Côn Đảo. Đồng thời, dành tặng món quà ý nghĩa và tốt cho sức khỏe này cho người thân và bạn bè.

Bạn cũng có thể tự chuẩn bị cho chuyến đi câu và tự tay làm nên sản phẩm cá thu một nắng đặc sản của vùng đất này. Còn gì tuyệt vời hơn khi trở thành ngư ông giữa biển và tận hưởng thành quả giữa đại dương mênh mông.

Mực một nắng

Thưởng thức mực một nắng Côn Đảo, du khách như cảm nhận vị mặn mòi từ nắng và gió biển, thấm sâu vào từng thớ thịt và lưu lại vị giác nơi biển trời và vùng hải đảo Côn Đảo.

Mực là một trong những món quà mà thiên nhiên ưu ái dành tặng cho vùng biển của nước ta. Trong số những “biến tấu” từ mực thì “mực một nắng” được người ta ưa chuộng nhiều hơn cả. Nói đến mực một nắng, ta nghĩ ngay về một vùng “biển xanh, cát trắng, nắng vàng”.

Tại nơi đây, du khách chỉ cần một lần thưởng thức món mực tại không gian bao la thoáng đãng của miền biển, hẳn sẽ khắc ghi mãi về một chuyện đi đáng nhớ. Dấu ấn về món đặc sản vừa ngon, vừa bổ, lại đậm đà hương vị của biển cả biển khiến ai trở về cũng mong có một ngày quay trở lại…

Mực một nắng Côn Đảo

Khác với những loại khô mực mà bạn thường biết, mực một nắng là loại mực nguyên chất được phơi qua đúng một lần nắng giòn. Những con mực được mang về, rửa cho giảm bớt nước biển rồi đem phơi. Nắng đúng “chuẩn” phải là nắng to, nắng càng nhiều thì mực càng ngon, và quan trọng là chỉ phơi đủ một nắng mà thôi!

Một con mực được phơi đúng kỹ thuật là bên ngoài ráo nước mà bên trong vẫn cứ tươi rói, mực mang một màu trắng đục, trông rất dẻo. Chỉ nhìn hình thức thôi, bạn cũng có thể hình dung ra những món ngon sẽ được chế biến từ loại đặc sản này.

Được biết, “họ hàng” nhà mực rất phong phú: nào là mực ống, mực lá, mực tuộc, mực ghim… nhưng để cho ra mực một nắng nguyên chất thì phải là loại mực ống. Chính giống mực này đã tạo nên một “thương hiệu” – thương hiệu đậm đà, đặc trưng khó quên của vùng đảo Côn Đảo xinh đẹp.

Những người bán hàng nơi đây lưu trữ và bảo quản mực một nắng ở tủ lạnh. Nếu du khách vận chuyển mực theo tàu cao tốc trong tầm 5 – 6 giờ đồng hồ bằng thùng xốp, thùng đá thì khi về đến nơi mực vẫn tươi ngon như lúc mới mua.

Mực một nắng đã góp phần làm nên sức quyến rũ cho miền biển nơi đây. Du khách chọn Côn Đảo làm nơi nghỉ mát, du lịch trong những ngày hè oi ả không chỉ nhờ vẻ đẹp của biển mà còn chính bởi sự gọi mời của thứ đặc sản ấy.

 

Khí hậu Côn Đảo

Biển Côn Đảo

Khí hậu Côn Đảo là loại khí hậu đại dương. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 26,9°C. Lượng mưa trung bình là 2.200 mm. Côn Đảo có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4. Tháng một là tháng khô nhất trong năm. Mùa khô thời tiết mát mẻ hơn, nhiệt độ trung bình là 24°C, tháng 2 là tháng mát nhất, nhiệt độ trung bình là 22°C. Oi bức nhất là tháng 5, có lúc tới 34°C. Độ ẩm trung bình hàng năm trên đảo là 80%.

Gió mùa Đông – Đông Bắc ở Côn Đảo thường rất mạnh, từ cấp 6 đến cấp 7, nhân dân ta gọi là gió chướng, gây nhiều trở ngại cho sinh hoạt. Thời gian bắt đầu từ tháng 11 dương đến hết tháng 2. Vào thời điểm này, sóng biển rất to, gió mạnh và thường ít nắng, các phương tiện ra Côn Đảo bị hạn chế khá nhiều do biển động mạnh, nhưng đổi lại lúc này Côn Đảo rất vắng vẻ, hoang sơ như đúng những gì nguyên bản của nó. Ngày xưa, những người tù thường lợi dụng mùa gió này để thả bè vượt ngục trở về đất liền.

Nhìn chung, khí hậu Côn Đảo trong lành, thuận lợi cho sức khỏe con người. Nhưng điều này còn tùy thuộc rất nhiều ở vị trí cụ thể, nơi ở cao hay thấp, có chướng ngại che chắn gió nhiều hay ít. Nước ngầm là nguồn nước ngọt chủ yếu ở đảo để dùng trong sinh hoạt cũng như trong mọi hoạt động kinh tế.

Ngoài khí hậu Côn Đảo mang tính nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng sâu sắc của biển, ở các vùng núi của Côn Đảo có khí hậu mát mẻ như cao nguyên Đà Lạt, Rừng Quốc gia Côn Đảo là bức tranh thu nhỏ của thảm thực vật rừng Việt Nam. Cũng ở đây nhiều di tích khảo cổ học giá trị được phát hiện, hé mở một triển vọng lớn trong việc tìm hiểu các nền văn hóa tiền sử từng tồn tại trên đất nước ta. Chỉ tính riêng Côn Lôn đã có 24 bãi biển lớn nhỏ. Tất cả những tiềm năng đó khiến Côn Đảo có khả năng hiện thực trở thành một trong những hòn đảo du lịch nổi tiếng, không thua kém các hòn đảo du lịch nổi tiếng khác trên thế giới.

Mộ nữ anh hùng Liệt sỹ Võ Thị Sáu ở Côn Đảo

Mộ Võ Thị Sáu

Đến viếng Nghĩa trang Hàng Dương và thắp nhang trên phần mộ có nhiều người đến dâng hương nhất là mộ nữ anh hùng liệt sỹ Võ Thị Sáu. Hiếm có người nào cất công ra Côn Đảo lại không tới viếng mộ chị Võ Thị Sáu. Thậm chí, chị đã trở thành lý do chính khiến hòn đảo này trở nên gần gũi với đất liền…

Mộ cô Sáu linh lắm…

Thẫn thờ ngồi giở lại chồng hồ sơ, tôi mới được biết đến chị Sáu ở xã Phước Thọ, chứ trước nay chỉ thường biết tên gọi huyện của chị là Đất Đỏ.

Sau hơn một năm bị giam cầm tra tấn rồi lãnh án tử hình ở nhà lao Chí Hoà, tưởng chừng như bọn giặc không dám hành hình chị ở trong đất liền vậy mà đêm 21-01-1952, chị Sáu bị bí mật đưa xuống một chuyến tàu chở hàng Tết ra Côn Đảo. Đó là nữ tử tù đầu tiên, là tù nhân trẻ nhất bị đưa ra hành hình ở Côn Đảo. Số tù là G.267. Chị Sáu bị hành hình ngày 28 Tết lúc 7 giờ sáng. Số thứ tự mộ là 195.

Tôi ngồi bệt xuống hàng hiên Dinh Chúa Đảo. Dinh với kiến trúc tân kỳ này từng là nơi sinh sống của tổng cộng 53 đời Chúa Đảo, trong vòng 113 năm dưới trào Pháp, Mỹ. Bây giờ Dinh là nơi trưng bày các hiện vật, di tích lịch sử và văn hóa của người dân Côn Đảo.

Những bức tượng thờ nữ Anh hùng Liệt sỹ Võ Thị Sáu

Phải mất cả buổi sáng thuyết phục, mãi đến chiều muộn tôi mới tìm được ở Bảo tàng Dinh danh sách 53 đời chúa đảo. Sớm nhất, chúa đảo tiên khởi là Đại úy Hải quân Roussel với một năm cai trị (1862- 1863), kết thúc là Chánh văn phòng lục quân chính quốc Blanck (1953- 1955). Tất cả có ba mươi chín vị giám thị chúa đảo và toàn là người Pháp.

Thời điểm chị Võ Thị Sáu bị hành quyết, chúa đảo là Chánh văn phòng viễn chinh lê dương Jarty (1951- 1953). Ngay đêm ấy, kíp thợ hồ khám 2, Banh 1 đã dựng tấm bia bằng xi măng lên mộ chị Sáu. Sáng sau, chúa ngục Jarty dẫn lính ra đập tan bia và san phẳng mộ.

Nhưng ít ngày sau đó, như có phép lạ, mặc dù cắt cử việc canh gác cẩn thận, nhưng mộ chị Sáu vẫn vồng lên vì có người bí mật đắp. Rồi tấm bia lại xuất hiện. Jarky không nản, vẫn xua lính cào bằng mộ lẫn đập bia!

Tuy nhiên, tên chúa ngục một thời gian sau đã phải chùn tay. Số là trong đám lính trực tiếp đi làm việc cào mộ và đập bia (có vợ con ngoài đảo) có hai tên tự dưng lăn ra bệnh. Thuốc thang mấy cũng không khỏi. Không biết ai mách, vợ con họ lén mang nhang, trái cây lên mộ chị Sáu kêu cầu… Vậy là dứt bệnh!

Chuyện đó lan ra khắp đảo. Từ đó, không ai dám động vào mộ chị Sáu và tấm bia nữa. Mộ được vun cao dần lên. Những nắm đất, những viên đá của tù nhân bí mật tranh thủ đắp. Có cả hoa tươi do vài ba bữa vợ con đám lính lại lén đặt lên mộ!

Tôi ngó lại danh sách 14 chúa đảo thời Mỹ Thiệu. Kế cái nghiệp coi tù nối với trào Pháp, Chánh văn phòng lục quân Blanck (1953- 1955) là thiếu tá Bạch Văn Bốn, năm 1955. Bạch Văn Bốn có thêm nhiệm kỳ chúa đảo (1957-1960). Thành tích tra tấn các chiến sĩ cách mạng của viên thiếu tá cai ngục ác ôn này hẳn bạn đọc đã biết qua tác phẩm “Từ những trận chiến đấu ác liệt thắng lợi trở về”, sau đổi tên thành “Bất Khuất của nhà cách mạng Nguyễn Đức Thuận”.

Chúa đảo Bạch Văn Bốn với chính sách coi tù hà khắc, bốn năm làm tỉnh trưởng Côn Đảo mà đã có 500 tù nhân bị giết. Ngoài việc cưỡng ép tù nhân ly khai cộng sản một cách tinh vi, Bốn còn cấm ngặt việc viếng mộ chị Sáu. Bốn lớn tiếng với thuộc hạ rằng, chuyện cô Sáu linh thiêng chỉ là luận điệu tuyên truyền của Việt Cộng.

Nhưng chính hai lính bảo vệ của Bốn tận mắt chứng kiến một đêm nọ, Bốn thấy trước cửa Dinh có một người con gái bước ra Cầu Tàu. Hắn khoát tay cho hai tên lính lui và tự xử. Chợt cô gái quay phắt lại, bước tới và nhìn thẳng vào mắt hắn. Sợ quá, Bốn bủn rủn chân tay, buông rơi khẩu súng, hoảng hốt chạy tọt vào nhà.

Một việc hy hữu

Sau nhiệm kỳ của Bạch Văn Bốn là Tư Tăng (tự là Sao) có một huyền thoại. Tiết Thanh Minh năm 1964, khoảng giờ Tý, giám ngục Tư Tăng cùng vợ và ba người lính tâm phúc đã khênh tấm bia bằng đá trắng có tạc những dòng chữ “Liệt nữ Võ Thị Sáu. Sinh năm 1933 tại Bà Rịa. Từ trần ngày 23-12-1952” đặt trên mộ người nữ anh hùng Võ Thị Sáu tại nghĩa địa Hàng Dương.

Bia được chế tác từ đất liền. Theo sự huớng dẫn của viên chúa đảo, những người lính đã khơi một độ sâu vừa đủ để lấy chỗ chôn chân bia. Viên chúa đảo thân dùng tay lấp đất chân bia. Sau đó, cả hai vợ chồng thắp nhang khấn vái.

Viên trung tá Quân đội Việt Nam Cộng hoà chúa ngục Côn Đảo ấy đã khấn gì thì chẳng thể biết. Lính tráng thuộc hạ cũng không dám tò mò. Tư Tăng sau này đã phân trần rằng: “Mộ cô Sáu linh lắm. Vợ chồng tôi làm vậy là để cầu cho binh sĩ và gia đình đóng trên đảo được an lành”.

Mộ chị Võ Thị Sáu tại Khu B2, Nghĩa trang Hàng Dương.

Chợt nhớ thêm, quyền uy của chúa đảo còn gọi là Tỉnh trưởng Côn Sơn thời ấy không nhỏ. Dưới tỉnh trưởng có Phó tỉnh trưởng phụ trách nội an. Dưới Phó tỉnh trưởng là phụ tá hành chính và văn phòng. Dưới nữa là 13 Ty, Ty công an cảnh sát, Ty thông tin, Ty bưu điện, Ty canh nông, thuế vụ… Ở hầu hết các cấp của bộ máy này, nhất là bộ máy nội an đều có cố vấn Mỹ trực tiếp chỉ đạo. Mỗi lần tổ chức đàn áp người tù, lực lượng công an cảnh sát trên đảo được tăng cường thêm cảnh sát dã chiến từ đất liền ra phối hợp.

Thế nhưng, việc động trời như đặt bia ở mộ Việt Cộng Võ Thị Sáu của Tư Tăng với cụm từ Liệt nữ, Từ trần đã qua được bộ máy phiền toái lẫn chết chóc ấy.

Ngôi mộ chị Võ Thị Sáu và một số ngôi mộ liệt sĩ ở nghĩa địa Hàng Dương chưa hẳn đã khang trang nhưng thường xuyên được đắp điếm cẩn thận có bia mộ, thỉnh thoảng có hoa tươi như một tượng đài, biểu tượng cho tinh thần trung kiên bất khuất của tù nhân Côn Đảo đã làm kẻ thù cay cú.

Những năm đầu bảy mươi, các chiến dịch mang cái tên quái gở chiến dịch thanh trừng bia mộ cộng sản diễn ra tại nghĩa trang Hàng Dương này. Cũng kỳ lạ, chúng chỉ đập một số bia mộ nhưng bia mộ chị Sáu thì không có tên nào dám động tới.

Nhưng dưới trào chúa ngục khét tiếng Nguyễn Văn Vệ (tên chúa đảo đã để đời tội ác lập hệ thống chuồng cọp kiểu mới) tiết thanh minh năm 1973, giám ngục Vệ quyết làm việc đập tan bia mộ Chị Sáu!

Quyết vậy nhưng Vệ không dám hành sự mà sai đàn em. Nhưng đàn em lại tìm cách lảng hoặc đùn đẩy. May cho chúa ngục Nguyễn Văn Vệ, trong đám thuộc hạ có một ác ôn, hung thần tên là Sước. Sước là đứa tích cực nhất trong đám cảnh sát cai ngục chuyên hành hạ đánh đập tù nhân. Sước tuyên bố cộng sản sống còn chả ngán nữa là cộng sản… chết!

Không thèm hành sự vào ban đêm mà dưới thanh thiên bạch nhật, Sước cùng đám thuộc hạ nốc đủ rượu để lấy khí thế. Rồi mỗi đứa thủ theo cái búa tạ lẫn xà beng. Đến nơi, đám thuộc hạ của Sước bất thần chồn chân ở cửa nghĩa địa Hàng Dương mặc cho Sước la thét hối thúc… Nhưng rốt cuộc cũng chỉ mình Sước ra tay.

Không biết Sước đã ra tay đập phá những gì, có thể do quá chén hay không mà hơn một tiếng đồng hồ sau, đám thuộc hạ hớt hải khiêng thân hình mềm nhũn của Sước về. Người Sước lạnh ngắt mắt trợn ngược. Một bên ống chân đầy máu do chính ngọn xà beng của Sước lụi vào.

Ngón tay tôi cứ miết miết trên lòng phiến đá trắng tấm bia mà vợ chồng chúa ngục Tư Tăng dựng năm 1964. Săm soi kỹ, tịnh không hề có một vết gợn nào của việc chắp nối? Như vậy bia mộ chị Sáu ngày ấy đã không hề hấn gì trước sức quai búa tạ lẫn đòn xà beng của tên Sước ác ôn trong khi tấm bia này đâu có nhỏ? Mộ chị Sáu cũng nhỉnh hơn các mộ kế bên.

Sức mạnh, uy lực nào đã khiến ngọn xà beng vô tri làm việc phản đòn như vậy?! Một cảm giác lành lạnh khiến tôi rùng mình khi rời nghĩa trang Hàng Dương đang ngập nắng. Hơn 20 ngàn ngôi mộ bạt ngàn ở đây mà chỉ có 1283 ngôi có bia mộ?

Ký ức người “Vượt Côn Đảo”

Chuyến ấy về Hà Nội, tôi chia sẻ cảm tưởng và những chuyện nghe được về mộ cô Sáu linh lắm với một cựu tù Côn Đảo, ông Đoàn Duy Thành, nguyên Phó Chủ tịch HĐBT (này là Phó Thủ tướng).

Chiến sĩ cách mạng Đoàn Duy Thành từng là tù nhân Côn Đảo. Ông lại có chân trong Ban liên lạc cựu tù Côn Đảo. Ông dặn tôi cứ ngày 12 tháng 12 dương lịch là các cựu tù Côn Đảo họp mặt hằng năm.

Thời điểm Liệt nữ Võ Thị Sáu bị hành quyết, ông Thành đã kể cho tôi câu chuyện mà ông nghe lính Pháp kể lại. Chi tiết bảy tên đao phủ đứng cách chị Sáu chỉ vài mét, đồng loạt nổ súng. Nhưng kỳ lạ, chị không chết. Có lẽ bọn đao phủ bị hoảng loạn, run tay trước ánh nhìn trước nhỡn lực của người con gái mới 17 tuổi đời? Tên đội lê dương tức giận rút súng ngắn tiến lại, dí tận mang tai chị bóp cò.Buổi gặp ấy, qua câu chuyện với người cựu tù Côn Đảo, tôi đã có duyên may. Nhờ ông Đoàn Duy Thành, tôi đã kết nối gặp được cụ Nguyễn Viết Kiểm ở làng Đại Kim huyện Thanh Trì, nhân vật chính trong tác phẩm “Vượt Côn Đảo” của nhà văn Phùng Quán.

Người dân Côn Đảo đều thờ phụng và thành kính gọi nữ anh hùng là “cô Sáu”. Trong tâm thức của họ, cô Sáu như một “vị thần” nên hàng ngày, nhất là vào mồng một và ngày rằm, họ đến thắp hương mong cô Sáu phù hộ để gặp nhiều may mắn, an yên trong cuộc sống…

Cụ Kiểm là nhân vật chính với tên gọi Phan Du trong “Vượt Côn Đảo”. Đội biệt động Hải Phòng do đại đội trưởng Nguyễn Viết Kiểm phụ trách… Những trận ác liệt với lối đánh táo bạo xuất quỷ nhập thần đã bao phen làm bọn Pháp điêu đứng. Tiếng vang về chiến công của đơn vị biệt động làm nức tiếng khắp Quân khu Tả ngạn và cả chiến trường Bắc Bộ. Nhưng trong một trận đánh không cân sức, biệt động đội Hải Phòng bị tổn thất khá nặng. Đại đội trưởng Nguyễn Viết Kiểm đã bị giặc bắt.

Qua nhiều trại giam và những cuộc tra tấn ác liệt nhưng không moi được tin tức gì, đại đội trưởng Kiểm bị đày ra Côn Đảo.

Một cuộc vượt ngục táo bạo bất ngờ của tù binh Côn Đảo được khởi sự là gần buổi trưa ngày 12-12-1952 tại Bến Đầm. Toàn bộ lính Pháp coi đảo bị khống chế.

Năm chiếc thuyền do những người tù bí mật, kín đáo chế tác cất giấu trong rừng hàng tháng trước đó được hạ thuỷ. Thật bất ngờ, do việc chế thuyền trong điều kiện hết sức bí mật nên không tránh khỏi những sơ suất. Sơ suất đó đã thành thảm họa. Thuyền ngấm nước bị chìm. Đầu tiên, bỏ vũ khí súng ống vừa đoạt đuợc cho thuyền nhẹ bớt. Sau đó, hàng chục cán bộ chiến sĩ quả cảm xung phong nhảy xuống biển tự tử để giảm tải trọng cho thuyền.

Sau một đêm lênh đênh với bao khổ nạn đói khát, số sống sót lại phải đối mặt với tàu chiến máy bay địch phong toả. Kết cục bi thương của cuộc vượt ngục là 81 đồng chí hy sinh, 117 người bị bắt lại đưa về Chí Hoà.

Đến năm 1954, số anh em tù binh bị bắt lại trong cuộc vuợt ngục lần ấy có Nguyễn Viết Kiểm mới thật sự được tự do trong cuộc trao trả tù binh tại Sầm Sơn.

Nhà văn Phùng Quán hồi ấy trẻ măng vừa chân ướt chân ráo ở mặt trận Bình Trị Thiên về từ Hà Nội được phân công gặp gỡ anh em tù binh Côn Đảo. Phùng Quán đã ở lỳ với anh em hơn một tháng trời tại Sầm Sơn để viết được tác phẩm “Vượt Côn Đảo”. Cuốn tiểu thuyết đoạt Giải Ba, Giải thưởng của Hội Văn Nghệ Việt Nam (năm 1954-1955).

Những ngày yên hàn sau năm 1975, Nguyễn Viết Kiểm và một số anh em tù binh ngày ấy đã về thăm lại Côn Đảo. Người lính già cứ thơ thẩn tìm lại cây dương già cụt ngọn trước mộ chị Sáu. Cây dương già bị khô phần ngọn. Chỉ còn gốc cây và một nhánh dương xanh tươi vươn thẳng về phía Bắc. Người ta bảo đó là hồn chị Sáu hướng về miền Bắc, về Bác Hồ. Người dân Côn Đảo đã từng nhìn thấy chị Sáu bước ra từ cây dương mỗi tối.

Thời điểm cụ Kiểm thăm lại đảo vẫn vài chục gia đình công chức, gác ngục chế độ cũ ở lại Côn Đảo, trong nhà họ đều có bàn thờ chị Sáu. Chị Sáu đối với họ như thần hộ mệnh. Bà con gọi chị Sáu là cô Sáu hoặc bà Sáu. Dân cư Côn Sơn, khi thề bồi thì thường “Thề có cô Sáu chứng giám”. Khi mắng nhau “Cô Sáu vặn cổ mày đi”.

Ngày 23-1 hàng năm là ngày giỗ chị Sáu. Đây là ngày giỗ rất lớn ở Côn Đảo, nhiều gia đình cúng giỗ. Nhiều người mang lễ vật, hoa quả ra mộ chị Sáu. Bà con ở chợ Côn Đảo kể rằng, trước khi đi biển vô đất liền lấy hàng còn ra mộ vái xin chị Sáu phù hộ. Cũng có những thanh niên trước khi làm đám cưới đã ra Hàng Dương viếng mộ chị Sáu. Họ thắp hương, cúng cả gương lược, khấn vái mong chị phù hộ cho.

Cụ Kiểm với chất giọng vui chia sẻ thời điểm Chúa đảo Jarty bị mất chức vì vụ 200 tù nhân đóng thuyền vượt ngục ở Bến Đầm, người ta bảo chị Sáu hiển linh đã trợ giúp lực lượng tù nổi dậy. Rồi khiến tên Chúa đảo sau này phải rơi sao, mất chức.

Vĩ thanh

Cái ngày cụ Kiểm ra lại Côn Đảo, một bè con kết bằng hoa cùng nhang khói đã được hạ thủy xuống Bến Đầm tưởng nhớ anh linh của 81 đồng đội đã bỏ mình trong cuộc vượt bể cuối năm 1952, đầu năm ấy là thời điểm chị Sáu hy sinh! Hương linh cùng anh linh của những người chết trẻ vì tổ quốc như linh thiêng rước mãi bè hoa ra tít tận khơi xa.

Bây giờ, xa xôi giữa ngàn trùng dương như thế mà ngôi mộ chị Sáu ngày cũng như đêm luôn nghi ngút khói nhang. Cùng với sự chăm sóc của dân bản địa, những chuyến bay và tàu cao tốc nối với đất liền của du khách đã khiến việc tâm linh, khói hương không khi nào đứt đoạn.

Xuân Ba
Vietnamnet

Hòn Bà Côn Đảo

Hòn Bà Côn Đảo

Hòn Bà có diện tích tự nhiên là 576 ha, là đảo lớn thứ ba trong quần đảo Côn Sơn. Hòn Bà nối liền với hòn Côn Sơn bằng Cửa Tử, tạo thành vịnh Bến Đầm. Đây là vịnh kín gió, rộng là nơi neo đậu trú bão của tàu thuyền ngư dân trên biển.

Tài nguyên rừng trên Hòn Bà đa dạng và phong phú có nhiều cây gỗ quý, hiếm và nhiều loài động vật quý, hiếm đặc hữu như Khỉ đuôi dài, Sóc đen Côn Đảo, Heo rừng, Kỳ đà, chim rừng…

Lên đảo Hòn Bà Côn Đảo

Khi đến Trạm kiểm lâm Hòn Bà, du khách đi bộ xuyên rừng khoảng 20 phút về phía Tây sẽ đến được bãi Đầm Quốc để khám phá rừng ngập mặn nguyên sinh, tắm biển, bơi lội có kiếng lặn và ống thở xem san hô và sinh vật biển; hoặc du khách có thể leo núi chinh phục Đỉnh Tình Yêu, với độ cao 352m và các đỉnh núi lân cận quan sát toàn bộ vịnh Bến Đầm và các đảo xung quanh.

Theo truyền thuyết, khi được biết chúa Nguyễn Ánh muốn sang cầu cứu quân xâm lược Pháp, và nhất là ý muốn gửi Hoàng tử Cải sang làm con tin cho việc cầu viện bên Pháp, bà Phi Yến đã lựa lời khuyên can nhưng chẳng những Chúa Nguyễn Ánh không nghe mà còn khép cho Bà tội thông đồng với quân Tây Sơn nên đã đem giam Bà vào một hang đá trên đảo nên gọi là Hòn Bà ngày nay.

Mô tả hành trình:

  • Là tuyến tham quan rừng kết hợp sinh thái biển được tổ chức và điều hành tại Trung tâm du khách Vườn quốc gia Côn Đảo. Bao gồm leo núi, ngắm cảnh thiên nhiên, quan sát động vật hoang dã, tắm biển, bơi lội xem san hô, tham quan rừng ngập mặn.
  • Yêu cầu: mang tư trang phù hợp đi rừng và biển. Cần có hướng dẫn viên của Vườn quốc gia đi cùng.
  • Thời gian: từ 4 – 6 giờ hoặc ở lại dài ngày. Sức tải môi trường: ban ngày tối đa 15 khách/1 thời điểm, ban đêm 10 khách.

Nguồn: http://www.condaopark.com.vn/

Chuyện về tên gọi Núi Chúa và kho báu ở Côn Đảo

Ngọn Núi Chúa trước hồ Quang Trung ở Côn Đảo.

Nằm ở vị trí trung tâm Côn Đảo, Núi Chúa sừng sững như bức trường thành hùng vĩ che chắn, bao bọc cho toàn đảo và soi bóng dưới mặt hồ nước ngọt Quang Trung thơ mộng. Những câu chuyện về kho báu của chúa Nguyễn Phúc Ánh khi bôn tẩu nơi đây cũng là điều kỳ thú.

Núi Chúa Côn Đảo

Trước năm 1975, Núi Chúa là ngọn núi mà mỗi sáng tù nhân thức dậy, hay trước khi đi làm khổ sai trông lên đều nhìn thấy và mới biết mình còn sống. Nếu một khi qua đời, tù nhân sẽ gửi xác tại nghĩa địa Hàng Keo (một nghĩa địa thời Pháp thuộc, cuối thế kỷ XIX, nằm sát mé biển, nơi có nhiều cây keo mọc hoang). Vì vậy, ở Côn Đảo còn lưu truyền câu ca dao biết bao thế hệ tù nhân “nằm lòng”:

“Côn Lôn đi dễ, khó về

Sống nương Núi Chúa, thác về Hàng Keo”.

Vì sao lại có tên gọi Núi Chúa? Tư liệu “Côn Đảo, ký sự và tư liệu” có ghi: Năm 1788, khi bị quân Tây Sơn đánh đuổi, chúa Nguyễn Phúc Ánh (sau này là vua Gia Long) bôn tẩu ra Côn Lôn (tức Côn Đảo ngày nay), cùng đoàn tùy tùng khoảng 100 gia đinh. Chúa Nguyễn Phúc Ánh dự định kế hoạch lâu dài (dưỡng quân, chiêu binh, cầu viện) nên lập ra 3 làng: An Hải, An Hội, Cỏ Ống để đoàn người tự túc nuôi quân, dựa vào các đảo chủ yếu Côn Lôn và Phú Quốc làm căn cứ bàn đạp chống quân Tây Sơn.

Tương truyền, trên một ngọn núi cao ở Côn Đảo có hang là nơi trú ẩn của chúa Nguyễn Phúc Ánh. Ngoài ra, trên đỉnh núi còn lưu lại dấu tích 1 bàn cờ khắc trên đá, vừa tầm 2 người ngồi chơi, tục truyền do quân sĩ tạo dựng làm nơi cho chúa Nguyễn Phúc Ánh đánh cờ giải trí. Vì vậy, nhân dân trên đảo gọi tên ngọn núi này là Núi Chúa.

Kho báu ở Côn Đảo

Tại Côn Đảo có lưu lại câu chuyện phát hiện ra những kho báu của chúa Nguyễn Phúc Ánh đã chôn giấu trong những ngày bị quân Tây Sơn truy đuổi. Theo nguồn tư liệu của người Pháp để lại cho biết, những cư dân ở làng An Hải là con cháu trực tiếp của chúa Nguyễn Phúc Ánh. Họ giữ cẩn thận những quyển sách cổ viết bằng chữ Nho. Người ta cũng nói tới những bộ giá và súng cổ tìm thấy trong hầm mộ dưới thời Thống đốc đảo Lambert. Khắp nơi trên đảo đồn đại về chuyện những kho vàng được chôn giấu.

Chuyện kể, ngày 25/11/1896, trong vòng thành trại I, người tù Đặng Văn Tám trong khi đào cống thoát nước đã bắt gặp 2 cái lu to đầy tiền bằng đồng và vòng vàng. Có lẽ đây là một trong những kho báu của chúa Nguyễn Phúc Ánh chạy trốn chôn cất trước khi bỏ chạy sang Xiêm khi bị các thuyền quân Tây Sơn vây hãm. Để xử lý kho báu, Thống đốc Nam Kỳ là Thiếu tá Ducos đã ra một quyết định ngạc nhiên nhưng đúng luật. Ông ra lệnh cho nhân viên thu ngân công sản Sài Gòn bán kho báu và chia số tiền bán được thành 2 phần bằng nhau, 1 phần nộp cho Bộ Thuộc địa, 1 phần trả cho người tù khổ sai Đặng Văn Tám. Ông giải thích việc này trong báo cáo ngày 14/1/1897 như sau: “Khi 1 kho báu tìm thấy một cách tình cờ, theo luật định, người tìm ra nó có quyền được hưởng một nửa, nửa kia thuộc sở hữu của chủ mảnh đất”.

Trong “Tư liệu Côn Đảo, ký sự và tư liệu” có ghi: Năm 1930, một phạm nhân làm khổ sai ở Bến Đầm bắt gặp một cái hũ, một dây đai bằng vàng. Vào năm 1930-1940, người ta cũng đào được ở làng An Hải một lu đựng chén đĩa sứ cùng những đồ văn phòng tứ bảo và ấn triện của vua, chúa.

Những câu chuyện nhuốm màu huyền thoại tại Núi Chúa Côn Đảo

Những câu chuyện trên lý giải về sự xuất hiện địa danh Núi Chúa ở Côn Đảo đã có cách đây mấy trăm năm. Ngày nay, Núi Chúa nằm trong diện tích Vườn Quốc gia Côn Đảo với muôn chủng loài động, thực vật đa dạng sinh học, hấp dẫn các nhà nghiên cứu khoa học và du khách tham quan đối với loại hình rừng nguyên sinh trên biển.

Núi Chúa cao 515m, nằm ở khu vực trung tâm đảo lớn sừng sững nhu bức tường thành che chắn phía tây bắc cho thị trấn Côn Sơn

Người ta truyền miệng nhau rằng, vào những năm trước cách mạng tháng 8, có một gia đình khá giả có ý định làm nhà gỗ, nhà giàu có nên Ông đã thuê thợ chặt những cây gỗ to trên núi về làm, gỗ chất thành một đống. Rồi một hôm giữa đêm hôm khuy khoắt Ông giật mình tỉnh giấc nghe tiếng ai nói chuyện rù rì lúc gần lúc xa. Ông quan sát không thấy có người nhưng tiếng nói chuyện rì rầm vẫn không ngớt. Sau đó Ông phát hiện ra tiếng nói đó phát ra từ đống gỗ được Ông mua về từ núi. Năm đó có lụt lớn nhân cơ hội đó Ông đã xô toàn bộ chỗ gỗ cho nước chảy trôi, và từ đó không còn nghe tiếng rì rầm nữa.

Người ta kể trên Núi Chúa còn có những vườn cam, quýt trĩu quả, khách lên đây chỉ được ăn thỏa mái chứ tuyệt đối không được mang về, là bởi nếu có cầm theo mang về thì sẽ không xuống được núi mà cứ quẩn quanh một chỗ.

Còn có rất nhiều câu chuyện li kỳ được truyền miệng trên ngọn núi này, những câu chuyện cứ hư hư ảo ảo, khiến nhiều người muốn tìm tòi khám phá.

Hòn Bảy Cạnh Côn Đảo

Hòn Bảy Cạnh

Nằm về phía Đông của đảo Côn Sơn, Hòn Bảy Cạnh có diện tích 683 ha, gồm hai phần đảo nối liền với nhau bằng doi cát ở giữa gọi là Bãi Cát Lớn. Toàn bộ đảo được che phủ bởi rừng nhiệt đới hải đảo, về động vật hoang phân bố các đặc hữu, quý, hiếm như Sóc mun, Sóc đen Côn Đảo, kỳ đà, trăn, rắn, một số loài chim biển…

Hệ sinh thái rừng ngập mặn khu vực bãi Bờ Đập là rừng ngập mặn nguyên sinh được hình thành trên nền cát lẫn san hô chết. Mặc dù với diện tích không lớn (khoảng 5,1 ha) nhưng sự tồn tại của hệ sinh thái rừng ngập mặn đã góp phần hoàn chỉnh tính liên kết giữa các hệ sinh thái như: Hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới trên núi cao, hệ sinh thái rừng ngập mặn, hệ sinh thái thảm cỏ biển và hệ sinh thái các rạn san hô.

Bãi cát lớn Hòn Bảy Cạnh

Không gian biển hòn Bảy Cạnh được quy hoạch là phân khu phục hồi sinh thái và phân khu bảo vệ nghiêm ngặt

Tài nguyên biển xung quanh hòn Bảy Cạnh có dạng sinh học cao, với nhiều loài sinh vật biển như: các rạn san hô với thành phần loài đa dạng, các loài trai, ốc, hải sâm, cá sống trong rạn san hô, rùa biển, cỏ biển, rong biển….nên được quy hoạch là phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phục hồi sinh thái phục vụ cho công tác bảo tồn thiên nhiên.

Bãi Cát Lớn trên hòn Bảy Cạnh là 01 trong 14 bãi đẻ trứng của rùa biển Côn Đảo và là bãi biển có số lượng rùa lên đẻ trứng nhiều nhất ở Côn Đảo. Trong mùa sinh sản (từ tháng 4 – 9 hàng năm), đêm ít nhất 1 – 2 cá thể, đêm nhiều có từ 20 – 30 cá thể rùa mẹ lên bãi làm tổ và đẻ trứng.

Ngọn Hải Đăng ở phía Đông Bắc đảo do Pháp xây dựng từ năm 1884 đến nay vẫn đang hoạt động, hướng dẫn tàu thuyền đi lại trong khu vực. Du khách đi theo đường mòn ven núi lên ngọn Hải Đăng để ngắm nhìn cảnh quan bao la và hùng vỉ của trời và biển Côn Đảo.

Khu ấp trứng rùa biển tại Hòn Bảy Cạnh

Hành trình đến Hòn Bảy Cạnh

– Là tuyến du lịch sinh thái biển, đi bằng tàu hoặc cano, được tổ chức và điều hành tại Trung tâm du khách Vườn. Tuyến bao gồm tắm biển, bơi lội xem san hô, tham quan rừng ngập mặn, ngắm cảnh, tìm hiểu hoạt động bảo tồn tài nguyên, xem rùa đẻ trứng trong mùa sinh sản, xem cua Xe tăng kiếm ăn trong rừng ngập mặn (ban đêm) và thả rùa con về biển, leo núi tham quan ngọn Hải Đăng, thời gian 4 – 5 giờ (đăng ký trước).

– Yêu cầu: mang tư trang phù hợp, áo phao, thuê kiếng lặn tại Trung tâm Vườn. Cần có hướng dẫn viên của Vườn quốc gia hoặc cộng đồng địa phương đi cùng.

– Thời gian: từ 4 – 6 giờ hoặc ở lại qua đêm; Sức tải môi trường: ban ngày tối đa 48 khách/1 thời điểm, ban đêm 20 – 25 khách.

Một góc Hòn Bảy Cạnh Côn Đảo
Khu vực rừng ngập mặn bao quanh hòn Bảy Cạnh, thường hay có loài Cua Xe Tăng sinh sống